NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT THỨC ĂN GIA SÚC DẠNG VIÊN 2 TẤNH - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT
THỨC ĂN GIA SÚC DẠNG VIÊN 2 TẤN/H

Họ và tên sinh viên
Ngành
Niên khóa

Tháng 7/2010

-1-

: VÕ MINH TRUNG
: CƠ KHÍ CBBQNSTP
: 2006-2010


NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT
THỨC ĂN GIA SÚC DẠNG VIÊN 2 TẤN/H

Tác giả

VÕ MINH TRUNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành
Cơ khí chế biến bảo quản nông sản thực phẩm

+ . Lựa chọn được dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc dạng viên .
+ Thiết bị nghiền lựa chọn là máy nghiền búa va đập tự do, năng suất 3
tấn/h.
+ Thiết bị định lượng lựa chọn là định lượng thủ công bằng cân định lượng.
.

+ Thiết bị trộn lựa chọn là máy trộn thùng quay, năng suất 2,5 tấn/h.
+ Thiết bị tạo viên lựa chọn là máy ép viên kiểu cối vòng con lăn , năng

suất 2,5 tấn / h .
+ Thiết bị cho công đoạn làm khô thức ăn là máy sấy kết hợp làm nguội .
+ Thiết bị lựa chọn cho công đoạn sàng phân loại là sàng rung , năng suất
2,5 tấn / h

-4-


MỤC LỤC
Trang
Trang tựa

i

Cảm tạ

ii

Tóm tắt

iii


2.1.3. Tính chất cơ lý và giá trị dinh dưỡng một số nguyên liệu sử dụng trong
chế biến thức ăn gia súc .

5

2.1.3.1. Tính chất cơ lí

5

2.1.3.2 Giá trị dinh dưỡng :

6

2.1.3.3 Kỹ thuật sơ chế nguyên vật liệu trước khi đưa vào chế biến

7

2.2. Quy trình công nghệ sản xuất thức ăn gia súc dạng viên :
2.2.1 Quy trình công nghệ :

7
7

2.2.2 Các máy móc thiết bị dùng trong dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc 8
2.2.2.1 Máy nghiền

8

2.2.2.2 Máy định lượng :

3.1. Phương pháp thành lập dây chuyền công nghệ

21

3.2. Phương pháp tính toán lựa chọn các thiết bị chính trong dây chuyền

21

CHƯƠNG 4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 Các dữ liệu thiết kế

23

4.2 Lựa chọn sơ đồ công nghệ

23

4.3. Tính toán thiết kế lựa chọn thiết bị cho công đoạn làm nhỏ nguyên liệu

24

bằng phương pháp nghiền
4.4. Tính toán thiết kế lựa chọn thiết bị cho công đoạn định lượng

27

4.5. Tính toán thiết kế lựa chọn thiết bị cho công đoạn trộn đều hổn hợp

28


TÀI LIỆU THAM KHẢO

42

PHỤ LỤC

43

-6-


Chương 1
MỞ ĐẦU

1.1.

Tính cấp thiết của đề tài :
Mỗi năm, ngành chăn nuôi cần khoảng 17-18 triệu tấn thức ăn, nhưng sản

lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp mới đạt 50%, còn lại người chăn nuôi phải
sử dụng thức ăn tự chế .
Mỗi năm nước ta sản xuất được gần 6 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công
nghiệp cho gia súc, gia cầm; 2,4 triệu tấn thức ăn chăn nuôi thủy sản. Trong số
khoảng 8,5 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp sản xuất mỗi năm, các nhà
máy chế biến phải nhập khẩu 3,7 triệu tấn nguyên liệu/năm. Đây là số lượng nhập
khẩu nguyên liệu rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ngành công nghiệp
sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước và đẩy giá thành thức ăn lên cao, trong khi
nước ta là một nước xuất khẩu nông nghiệp nhất nhì thế giới.
Vì vậy, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2010/NĐ-CP về việc
quản lý thức ăn chăn nuôi có hiệu lực từ ngày 25/3/2010, trong đó Nhà nước

lớn vi sinh vật, nấm mốc, meo và một số mầm bệnh.
Nhằm giải quyết một phần vấn đề cấp thiết trên , được sự đồng ý của ban
chủ nhiệm khoa Cơ Khí – Công Nghệ Trường Đại Học Nông Lâm với sự hướng
dẫn của thầy TS. Nguyễn Như Nam. Tôi tiến hành thực hiện đề tài :
“Nghiên cứu dây chuyền công nghệ chế biến thức ăn gia súc dạng viên năng suất
2t/h”.
1.2 Mục tiêu của đề tài :
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thiết kế , lựa chọn trang thiết bị phục vụ
lắp đặt dây chuyền sản xuất thức ăn dạng viên năng suất 2t/h để ứng dụng vào sản
xuất .
1.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :

-8-


Ngiên cứu thiết kế dây chuyền sản xuất áp dụng vào các trang trại chăn
nuôi và các cơ sở sản xuất thức ăn gia súc trong nước góp phần đảm bảo nguồn
thức ăn phục vụ chăn nuôi và góp phần phát triển chăn nuôi trong nước .

Chương 2
TỔNG QUAN

2.1 Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại nguyên liệu có trong thức ăn
gia súc và các thiết bị máy móc để chế biến các loại nguyên liệu đó thành thức ăn
gia súc .
2.1.1. Yêu cầu kĩ thuật của thức ăn chăn nuôi dạng viên :
- Có 2 tiêu chuẩn chất lượng chính, là độ cứng (biểu thị bằng kg) và độ dai
(tỷ lệ vụn nát), biểu thị bằng tỷ lệ %. Độ cứng tốt nhất của thức ăn viên đạt 6 - 7
kg ; tỷ lệ vụn nát, tốt nhất dưới 5% ; độ ẩm thức ăn viên (sau khi đã làm nguội) ở

sản: thức ăn xơ, rơm rạ, dây lang, thân lá lạc, thân cây ngô các loại cám, khô dầu
(do các ngành chế biến dầu) bã bia, rượu, sản phẩm phụ. Nhìn chung, loại thức ăn
này là nguồn năng lượng chủ yếu cho người và gia súc, ngoài ra nó còn cung cấp
vitamin, protein thô, các loại vi khoáng , kháng sinh, hợp chất sinh học.
+ Thức ăn có nguồn gốc từ động vật : gồm tất cả các loại sản phẩm chế
biến từ nguyên liệu động vật như bột cá, bột tôm, bột thịt, bột nhộng tằm, bột sữa
và bột máu. Hầu hết thức ăn động vật có protein chất lượng cao, có đủ các axit
amin thiết yếu, các nguyên tố khoáng và một số vitamin A, D, E, K, B12.., tỷ lệ
tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn động vật cao hay thấp phụ
thuộc vào cách chế biến, làm thức ăn bổ sung protein quan trọng trong khẩu phần
của gia súc gia cầm.
+ Thức ăn nguồn khoáng chất: Gồm các loại bột sò, đá vôi và các muối
khoáng khác nhằm bổ sung các chất khoáng đa và vi lượng.
- Theo các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn :
+ Thức ăn giàu protein. Tất cả những loại thức ăn có hàm lượng protein thô
chiếm trên 20% ( tính theo vật chất khô ) thì được gọi là những loại thức ăn giàu
protein.
+ Thức ăn giàu lipit:
Gồm các loại thức ăn mà hàm lượng lipit chiếm trên 20%. Mục đích sử
dụng thức ăn này là cung cấp một lượng lipit thích hợp trong khẩu phần đã đủ
hàm lượng vật chất khô nhưng giá trị năng lượng còn quá thấp.
+ Thức ăn giàu gluxit: Là loại thức ăn trong đó có hàm lượng gluxit 50%
trở lên, gồm các loại hạt ngũ cốc, ngô, thóc cám, bột khoai, bột sắn. Thức ăn này
chiếm tỷ lệ rất lớn trong khẩu phần thức ăn gia súc dạ dầy đơn, nó là nguồn năng
lượng dễ tiêu hóa, hấp thu và ít gây tai biến trong quá trình sử dụng mà giá thành
rẻ.

- 10 -



- 11 -


thì góc nghiêng tự nhiên bằng với góc ma sát trượt giữa hạt với hạt nên còn gọi là
góc ma sát trong
+Góc trượt : Nếu ta đổ hạt trên mặt ngang,mặt phẳng này bằng vật liệu bất
kỳ, chẳng hạn là thép, gỗ, betong…Ta nâng dần một đầu mặt phẳng cho tới khi
hạt bắt đầu trượt gọi là góc trượt. Về trị số góc trượt bằng với góc ma sát giữa hạt
với vật liệu trượt nên con gọi là góc ma sát ngoài .
Góc nghiêng tự nhiên và góc trượt càng lớn thì độ tản rời càng nhỏ .
Ngoài ra độ tản rời của hạt còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Hình dáng, kích thước, trạng thái bề mặt hạt.
+ Độ ẩm của hạt.
+ Lượng tạp chất có trong khối hạt.
2.1.3.2 Giá trị dinh dưỡng :
- Trong bắp hàm lượng chất béo khoảng 4% , hàm lượng protein là
8 - 9,5% và tiền vitamin A .
- Cám và các phụ phẩm của lúa gạo có hàm lượng chất béo và chất xơ cao .
- Đậu nành và khô dầu có hàm lượng đạm cao 38 % và nhiều béo 18% .
- Khô dầu đậu nành có hàm lượng đạm khoảng 30 - 49 % giàu axit amin
thiết yếu nhất là lysine
- Khô dầu đậu phộng có hàm lượng đạm khá cao 45% , lượng béo cao 8 10% .
- Bột cá được gọi tên theo mức đạm thô có bột cá 40% đạm , bột cá 45%
đạm , bột cá 60% đạm …Trong bột cá còn có nhiều axit béo omega 3 .
- Bột đầu tôm chứa nhiều protein nhưng không có giá trị tiêu hóa với thú dạ
dày đơn .
- Bột thịt và bột xương : hàm lượng protein khoảng 30 - 50 % . Bột xương
ít protein nhưng là nguồn cung cấp calcium 7 - 10% , photpho 3,8 - 5 % .
- Premix là hỗn hợp được trộn trước chứa các nguyên tố khoáng vi lượng (
Fe , Cu , Mn …) .

tinh bột ra,phần bả đem phơi sấy khô và nghiền nhỏ làm thức ăn gia súc.Củ còn
được chế biến bằng cách rửa,lột vỏ,thái lat sau đó sấy,phơi khô và đưa vào nghiền
trộn làm thức ăn gia súc.

- 13 -


-Đối với bột cỏ:thường được chế biến từ một số loại cỏ họ đậu hoặc lá.
Nguyên liệu thường được phơi,sấy khô hoặc đem thái trước khi phơi sấy.Bột cỏ
thường được nghiền trước khi đưa vào thức ăn hỗn hợp cho gia súc.
2.2. Quy trình công nghệ sản xuất thức ăn gia súc dạng viên :
2.2.1 Quy trình công nghệ :
+ Công nghệ sản xuất thức ăn viên :
Gồm 2 công đoạn chính: công đoạn đầu, sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh dạng bột, và công đoạn sau, ép viên thức ăn .
Công đoạn ép viên chia ra 3 tiểu công đoạn, diễn ra liên tiếp ở buồng điều
hoà, khuôn ép viên và buồng làm nguội thức ăn viên. Ở thiết bị điều hoà, hơi nóng
được phun vào thức ăn (bổ sung chất kết dính, nếu cần thiết); sau đó, thức ăn đi
vào khuôn tạo viên (có nhiều loại khuôn ép với các lỗ thoát kích cỡ khác nhau, để
thay đổi của viên thức ăn (to, nhỏ), dao cắt để cắt viên thức ăn (dài, ngắn theo yêu
cầu từng loại gia súc). Sau khi ra khỏi lỗ thoát còn ẩm và nóng nhiệt độ có thể từ
105 - 1100C) thức ăn viên được chuyển vào phòng làm nguội, sau cùng, được cân
đong, đóng gói rồi đưa ra tiêu thụ.
+ Sơ đồ công nghệ sản xuất thức ăn gia súc dạng viên :
Tiếp nhận bảo
quản nguyên liệu

Làm sạch
nguyên liệu


quanh hai bên hông buồng nghiền và tiếp tục vỡ ra, các hạt bột sẽ lọt qua lưới
sàng. Bột có thể được hứng tại đó hoặc người ta bố trí các bộ phận phụ trợ khác để
thu bột nghiền như: vít tải, quạt, cyclone.
- Nguyên tắc cắt nghiền vỡ (Hình 2.2b)
Gồm hai trục cuốn quay ngược chiều với vận tốc dài khác nhau, trên bề mặt
có răng khía, các răng khía kẹp vật nghiền lại rồi nghiền vỡ.
- Nguyên tắc chà xát vỡ (Hình 2.2c)
Gồm hai đĩa có thể bằng đá hoặc kim loại quay với vận tốc khác nhau, có thể
một đĩa đứng yên. Trên bề mặt làm việc có các rãnh hoặc các gân nổi dạng xương
cá. Vật nghiền sẽ được chà xát ở khe giữa hai đĩa.
- Nguyên tắc ép dập vỡ (Hình 2.2d)
Gồm một hoặc nhiều cặp trục trơn. Hai trục trong cùng một cặp quay ngược
chiều nhau với vận tốc dài bằng nhau. Vật nghiền từ máng cung cấp sẽ đi qua khe
hở giữa các cặp trục và được ép vỡ.

- 15 -


Hình 2.2 .Các nguyên tắc nghiền.
a. Nguyên tắc va đập tự do b. Nguyên tắc cắt nghiền vỡ,
c. Nguyên tắc chà xát vỡ d. Nguyên tắc ép dập vỡ.
2.2.2.2 Máy định lượng :
Có hai phương pháp định lượng vật liệu là phương pháp thể tích và phương
pháp khối lượng. Phương pháp định lượng thể tích có sai số từ 2 ÷ 3 % nên chỉ áp
dụng khi đo lường sơ bộ. Phương pháp định lượng theo khối lượng có thể đạt sai
số định lượng thấp khoảng 0,1 % nên được áp dụng khi cần đo lường chính xác
các cấu tử của hỗn hợp.
Các máy định lượng làm việc theo nguyên tắc định lượng thể tích có cấu
tạo, sử dụng hay sửa chữa đơn giản. Tuy nhiên chúng không đảm bảo độ chính
xác cao.


Bộ nạp liệu được bọc trong vỏ và có các khớp nối ống nạp liệu và thải liệu.
Bộ định lượng kiểu vít tải. Dùng để tải nguyên liệu hạt - bột có kích thước
3

hạt đến 5 mm, độ ẩm đến 1,5 % và mật độ xếp đến 1,9 kg/ cm . Bộ định lượng
kiểu vít được sử dụng thực chất là những cơ cấu tải liệu trong ống nằm ngang của
đường dẫn nguyên liệu và có thể điều khiển bằng thủ công hay bằng điện.
Vỏ hình trụ của bộ nạp liệu được lắp chặt vào các ống khớp nối tải liệu và
tháo liệu (hình 2.4). Bên trong vỏ có vít tải xoắn vận chuyển. Các mặt nút của vỏ
được lắp kín bởi các nắp và các cơ cấu bịt kín.

- 17 -


Hình 2.4 .Bộ định lượng kiểu vít.
3

Để tải vật liệu bột có độ rời kém, mật độ xếp đến 8,8 kg/ cm và nhiệt độ
0

đến 60 C thường sử dụng bộ nạp liệu kiểu rung dạng vít (B-2).
Bộ định lượng dạng đĩa. Loại này dùng để tải các vật liệu hạt, bột dạng rời
3

có kích thước đạt đến 5 mm và mật độ xếp đến 1,8 kg/cm , được sử dụng trong
các quá trình công nghệ liên tục để nạp liệu cho các thiết bị, cho các máy trộn,
máy nghiền...đồng thời cũng là loại máy dỡ tải cho các thùng chứa cố định. Bộ
định lượng dạng đĩa được điều khiển bằng khí nén hay bằng phương pháp thủ
công.

độ xếp 0,2 ÷ 0,8 g/cm . Loại cân liền bốn cấu tử được trang bị bốn bộ định lượng
kiểu rung, đồng hồ đo, các cảm biến xenxin để nhận tín hiệu từ xa. Điều khiển cân
bằng điện - khí nén.
Việc xác định khối lượng cho một mẻ được thực hiện từ trạm điều khiển.

- 19 -


Cân định lượng tự động cho các vật liệu hạt rời BA-3Bn; BA-3-a dùng để
3

cân các vật liệu hạt rời có mật độ xếp 0,2 ÷ 0,8 g/cm .
Trước tiên nạp liệu thô, sau đó nạp liệu tinh nhờ bộ nạp liệu bằng điện từ.
Để định lượng các chế phẩm đặc biệt có thể dùng cân tự động.
Các cân đòn tự động được trang bị bộ nạp liệu, phễu chứa có đáy mở và
máy đếm cơ học. Cân có thể hoạt động trong một tổ hợp thống nhất với máy gói
chế phẩm.
Trong sản xuất premik và tiêu chuẩn hoá các chế phẩm ứng dụng định
lượng theo trọng lượng (cân định lượng) và định lượng theo thể tích. Cân định
lượng dạng ÔK được sử dụng rộng rãi nhất. Nhờ các cân này mà các cấu tử
premik có thể định lượng với độ chính xác đến 0,1 %.
Cân định lượng liên tục. Các bộ nạp liệu và các bộ định lượng theo thể tích
- dạng đĩa, tang quay, vít xoắn... không đảm bảo độ chính xác yêu cầu và tính đều
đặn của dòng nguyên liệu, cân định lượng liên tục có nhiều ưu điểm hơn, khắc
phục được các nhược điểm của các loại cân đã được nêu ở trên.
2.2.2.3 Máy trộn :
+ Khái niệm :
Trộn là quá trình kết hợp các khối lượng của các vật liệu khác nhau với
mục đích nhận được một hỗn hợp đồng nhất, nghĩa là tạo thành sự phân bố đồng
nhất của các phần tử ở mỗi cấu tử trong tất cả khối lượng hỗn hợp, bằng cách sắp

năng cao.
+ Cấu tạo máy trộn có bộ phận quay
Cấu tạo máy trộn có bộ phận trộn quay bao gồm các cơ cấu trộn, thùng trộn
và bộ phận dẫn động.
Máy trộn dải băng xoắn (hình 2.6a) thuộc loại máy trộn vận chuyển. Việc
trộn được tiến hành bằng băng xoắn. Băng xoắn ngoài việc trộn vật liệu còn có tác
dụng làm dịch chuyển vật liệu trộn. Thùng trộn của máy trộn dải băng thường có
dạng máng hay bình kín. Để chuyển chỗ sản phẩm khi trộn ở hai hướng ngược
chiều nhau, trong một vài cấu tạo của máy trộn dùng băng xoắn người ta lắp hai
dải băng có đường vít trái và vít phải. Dải băng được cố định trên trục. Trong
trường hợp trộn sản phẩm rời rắn và đồng thời làm ẩm vật liệu thì trục máy trộn
phải có những cào đặc biệt. Để làm sạch thành máng, băng phải quay với khe hở
thành thùng khoảng vài milimet.

- 21 -


Máy trộn dạng cánh đảo cũng thuộc loại máy trộn vận chuyển (hình
2.6b,c). Việc khuấy trộn được tiến hành bằng cánh đảo, thông thường thì các cánh
này được lắp chặt trên trục nằm ngang. Các máy trộn loại này có thể làm việc liên
tục hay gián đoạn.
Máy trộn kiểu vít tải có thể làm việc gián đoạn hay liên tục. Ở máy trộn vít
tải cánh đứt (hình 2.6d) thực hiện trộn vật liệu bằng cả năm quá trình trộn. Nó
được sử dụng khi vừa trộn vừa vận chuyển vật liệu. Để đảo trộn mãnh liệt hơn ta
sử dụng máy trộn vít tải hai trục. Các bộ phận của loại máy này tương tự như ở
máy trộn cánh nhưng trục trộn ở đây dài hơn và cánh phải nằm trên bề mặt vít
hoặc cánh liền thành bề mặt vít. Như vậy máy trộn vít tải cánh đứt là trường hợp
riêng của máy trộn cánh. Máy trộn vít tải thẳng đứng (hình 2.6e) làm việc gián
đoạn gồm có cơ cấu trộn dạng vít tải đứng nằm trong ống khuếch tán. Ở máy trộn
này vật liệu được tuần hoàn nhiều lần và đảo trộn khá mạnh nên được dùng để

phẩm để trộn các loại hạt liệu rời…
Yêu cầu của vật liệu đưa vào trộn phải rời xốp, độ kết dính nhỏ và cho
phép làm dập nát. Máy trộn loại này chủ yếu làm việc gián đoạn, nhưng đối với
loại thùng nằm ngang cũng có thể làm việc liên tục. Cấu tạo của máy gồm: thùng
trộn, bộ phận dẫn động và bộ phận đỡ.
Thùng trộn có nhiều cách bố trí và có nhiều hình dạng khác nhau để tạo ra
dòng vật liệu chuyển động khác theo yêu cầu công nghệ. Thông thường là hình trụ
nằm ngang (hình 2.7a) hoặc thẳng đứng (hình 2.7b). Loại này dễ chế tạo, dễ lắp
ráp, dễ điều chỉnh. Để trộn sản phẩm thật mãnh liệt và khi trộn cho phép nghiền,
người ta dùng thùng quay lục giác nằm ngang (hình 2.7c). Loại thùng quay hình
trụ chéo (hình 2.7f) bảo đảm trộn nhanh chóng và chất lượng cao vì ở đây thực
hiện đồng thời cả trộn chiều trục lẫn trộn hướng kính, cả trộn khuếch tán lẫn trộn
đối lưu, va đập và nghiền.
Loại thùng hình trụ kép chữ V (hình 2.7g) dùng khi cần trộn hiệu quả cao.
Máy dùng để trộn các hỗn hợp có yêu cầu độ trộn đều cao như premix, thuốc thú y
dạng bột,… Ở loại máy trộn này có đầy đủ cả năm quá trình trộn đã nêu.
Máy trộn hình nón gồm hai hình nón cụt nối với ống hình trụ, trục quay
thường đi qua theo đường kính ống (hình trụ), hay trong những trường hợp riêng
có thể trùng với đường tâm của hình trụ. Trong loại máy trộn này, hiệu quả trộn
được tăng lên nhờ trộn được vật liệu rời dọc theo bề mặt thay đổi của hình nón.
Trên hình 2.3d và 2.3e trình bày cấu tạo máy trộn hình côn đứng và máy trộn hình
côn ngang.

- 23 -


Hình 2.7 .Các dạng máy trộn thùng quay.
a. Kiểu trục nằm ngang, b. Kiểu hình trụ thẳng đứng, c. Kiểu lục giác nằm
ngang
d. Kiểu hình côn đứng, e. Kiểu hình côn nằm ngang, f. Kiểu hình trụ chéo

xốp dưới áp lực cơ học được dồn nén cứng lại.
2.2.2.5 Sàng phân loại sản phẩm rời :
+ Khái niệm :
Phân loại sản phẩm trong chế biến thức ăn gia súc là phân chia hổn hợp
thành những phần đồng nhất .
+ Các phương pháp phân loại :
- Dựa theo sự khác nhau về đặc tính hình học của các hạt để phân loại bằng
các máy sàng , máy rây , máy sàng ống ….
- Dựa theo sự khác nhau về tính chất khí động của hạt để phân loại bằng
quạt ,xyclon,…
- Dựa theo sự khác nhau về khối lượng riêng để phân loại bằng bàn tự phân
loại , máy gằn đá .
2.2.2.6. Buồng làm nguội :
Có nhiệm vụ hạ nhiệt độ của sản phẩm viên xuống 600 ÷ 700 đối với thức
ăn gia súc đồng thời làm bốc đi lượng ẩm trong viên do hơi nước đưa vào máy ép
2.3. Một số dây chuyền công nghệ sản xuất thức ăn gia súc hiện nay :
+ Dây chuyền công nghệ sản xuất thức ăn gia súc dạng bột :
Hệ thống chế biến thức ăn gia súc dạng bột

- 25 -



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status