BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ĐOAN TRANG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN VỀ
TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
M ã số
: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ GIA LÂM
HÀ NỘI - NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Lluận văn chưa được công bố trong bất kì công
trình nào khác. Các số liệu trong Luận văn là t rung thực, có nguồn gốc rõ
ràng được trích dẫn đúng theo quy định.
Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao
CQĐT
:
Cơ quan điều tra
KSV
:
Kiểm sát viên
ĐTV
:
Điều tra viên
TTHS
:
Tố tụng hình sự
HĐXX
:
NỘI DUNG
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN VỀ TỘI CỐ Ý
GÂY THƢƠNG TÍCH HO ẶC GÂY TỔN H ẠI CHO SỨ C
KHỎE CỦA NGƢỜI KH ÁC
1.1. Khái niệm chung
1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố
1.3. Đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.4. Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố với chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HIỆN HÀNH VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔ NG TỐ
2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn kh ởi tố vụ án
2.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án
2.3. Quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn truy tố
2.4. Quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM
BẢO THỰC HÀNH Q UYỀN CÔ NG TỐ ĐỐ I VỚI CÁC VỤ ÁN
VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠ NG TÍCH HO ẶC G ÂY TỔ N H ẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI K HÁC TRÊN ĐỊA B ÀN
THÀNH PHỐ H À NỘI
3.1. Thực tiễn thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên
địa bàn Thành phố Hà Nội.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cải cách tư pháp là yêu cầu mang tính cấp thiết của Đảng, nhà nước ta
hiện nay với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Các Nghị quyết, Chỉ thị của
Đảng về cải cách tư pháp đã xác định: “ VKS phải chịu trách nhiệm chính về
những oan, sai trong việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố;
phải đảm bảo việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật, cùng với CQĐT khắc
phục những vi phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt
tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội ”.
Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận chức năng
của VKSND trong giai đoạn hiện na y là thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp. “Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi
tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm
và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời nh ững sai
1
phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ ”.
Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa X đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của c ơ quan tư pháp, trong đó có
VKSND: “… đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ
nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có
một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn
còn tình trạng oan, sai trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử … ”.
Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trung
tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Bên cạnh giữ vững ổn định, phát
triển kinh tế, Hà Nội còn đối mặt với không ít những khó khăn về vấn đề đấu
tranh và phòng chống tội phạm, trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích
kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra , Nxb Tư pháp, Hà Nội;
Trịnh Duy Tám, áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay , Luận văn
Thạc sỹ Luật học, Hà Nội; Nguyễn M ạnh Tùng; Thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án về ma túy ở Thành phố Hà Nội, Luận
3
văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội; Phạm Anh Đức, Nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Ánh, Thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn
thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội; Cao Việt Cường,
M ột số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học quố c gia Hà Nội; Lê Thị Tuyết
Hoa; Quyền công tố ở Việt Nam, luận án Tiến sỹ Luật học…
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết khác nhau của nhiều tác giả được
đăng lên các báo, tạp chí như: Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của
Viện Kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp của tác giả Lê Hữu Thể, Tạp
chí Kiểm sát số 14 - 16, 2008; Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta
về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong
thời kì đổi mới, đăng trên Tạp chí chuyên ngành của tác giả Khuấ t Duy Nga,
2005; Bàn về mô hình Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác
giả Lại Hợp Việt, tạp chí kiểm sát số 14 -16, 2008; Tăng cường trách nhiệm
của công tố trong giai đoạn điều tra trong Bộ luật tố tụng hình sự của tác giả
Nguyễn Tiến Sơn đăng tạp chí kiểm sát số 09, 2015 ; Một số vấn đề rút ra từ
công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố của cơ quan điều tra trên địa bàn thành phố Hà Nội của tác giả Hà
Thái đăng trên tạp chí chuyên ngành, 2010; Nâng cao chất lượng thực hành
góp phần đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn của học viên đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa M ác Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí M inh, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về
Nhà nước và pháp luật, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về chiến
lược cải cách tư pháp được đề ra ngày 02/01/2002 (Nghị quyết số 08 NQ/TW) và Nghị quyết số 49 - NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/06/2005 về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
5
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, học viên đã sử dụng kết
hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, thể hiện tính đặc thù của khoa học tố
tụng hình sự như: Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp hệ thống,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn: Luận văn góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận về hoạt động của VKSND khi Thực hành quyền công
tố các vụ án về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học Luật
hình sự, Luật tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, Luận văn sẽ là một tài liệu tham
khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho
các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học
viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở
đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị
những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ đang cô ng tác tại các Cơ quan
điều tra, VKS, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách
quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về thực hành quyền công tố đối với
các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người phạm tội ra Tòa án và thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa. Quan điểm
này nhấn mạnh chỉ có VKS có quyền này và việc thực hiện nó chỉ diễn ra
trong lĩnh vực tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm này có
sự thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và không phản ánh
được bản chất của quyền này, bởi vì hoạt động truy tố và buộc tội của VKS
tại phiên tòa chỉ là một nội dung của việc thực hành quyền công tố. Hay nói
cách khác, quan điểm này đã có sự đồng nhất giữa quyền công tố và thực
hành quyền công tố.
2
Lê Thị Tuyết Hoa; Quyền công tố ở Việt Nam, luận án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội, 2003.
7
Thứ hai, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho cơ quan tiến
hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các c hế tài
hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác, quyền công tố do các cơ
quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự. Đó là hoạt động tố tụng của
người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, KSV, Thẩm phán,… có trách
nhiệm xác định người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng
các hình phạt đối với người phạm tội. Tuy nhiên, quan điểm này đã có sự
nhầm lẫn giữa các chức năng buộc tội và xét xử trong tố tụng hình s ự. Hiểu
theo quan điểm này thì không chỉ có cơ quan công tố, điều tra mà cả cơ quan
xét xử và cơ quan thi hành án hình sự đều là chủ thể thực hành quyền công
tố.
Thứ ba, quyền công tố là quyền mà Nhà nước giao cho VKS đưa vụ
án ra Tòa án để xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân
trong các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác nhau. Thực hành quyền công tố
không chuyên trách thực hiện. Từ đó, có thể khái quát quyền công tố như
sau: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho một cơ quan nhất định
thực hiện chức năng buộc tội và yêu cầu trừng phạt người phạm tội”. Quyền
này thuộc về Nhà nước và được Nhà nước giao cho một cơ quan chuyên
trách – cơ quan VKS. Để thực hiện quyền này, cơ quan côn g tố phải có trách
nhiệm đảm bảo việc thu thập các chứng cứ, tài liệu để xác định tội phạm và
người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và
bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. Những người theo quan điểm đó cho
rằng quyền công tố là quyền buộc tội (quyền truy cứu trách nhiệm hình sự)
nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. Do vậy, quyền công tố chỉ tồn
tại trong một lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự mà không thể tồn tại trong
các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính,… M ặt khác, theo
quy định của pháp luật hiện hành thì quyền công tố gắn liền với hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử cho nên có thể khẳng định quyền công tố chỉ được
thực hiện bởi một cơ quan duy nhất là VKS mà không có bất cứ cơ quan nhà
4
nước nào khác có thể thay thế được. Đây là một quan điểm rất hợp lý về
mặt khoa học, có căn cứ, vừa phù hợp về cả lý luận lẫn thực tiễn vì nó phản
ánh được đúng bản chất, đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố
cũng như chủ thể thực hiện quyền công tố .
4
http://vkshue.gov.vn/index.php/about/Chuc -nang-nhiem-vu-Vien -Kiem-sat-nhan-dan.html đăng
20/06/2017
9
Về khái niệm thực hành quyền công tố. Như đã phân tích ở trên,
Vì vậy, về cơ bản tôi đồng tình với quan điểm cho rằng : thực hành
quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp
lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
5
người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, theo
tôi phạm vi thực hành quyền công tố không chỉ giới hạn trong các giai đoạn
tố tụng đã nêu trong khái niệm này mà còn được thực hiện trong các thời
điểm sớm hơn, ngay từ trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự . Thực
hành quyền công tố là hoạt động được thực hiện trong suốt quá trình giải
quyết vụ án (từ thời điểm giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị
khởi tố nhằm xác định dấu hiệu tội phạm làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự
cho đến khi kết thúc hoạt động xét xử ). Hoạt động này thực hiện trong tất cả
các giai đoạn của tố tụng hình sự như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử chứ
không chỉ bó hẹp trong ba giai đoạn đã nêu trong khái niệm trên. Từ lập luận
đó, trên cơ sở khái niệm quyền công tố đã làm rõ ở trên tôi đưa ra khái niệm
về thực hành quyền công tố như sau:
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng
hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội,
được thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự.
- Khái niệm thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạn g
thương tích hoặc tổn thương khác, được quy định tại Điều 104 BLHS Việt
Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
5
Như vậy, những trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác có tỉ lệ thương tật dưới 11% và không thuộc các trường hợp
nêu trên là những trường hợp chưa cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Quan hệ nhân quả giữa hành vi v à
hậu quả thương tích hoặc tổn thương khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành
tội phạm. Khi đã xác định có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe và có hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn thương khác, đòi hỏi
phải xác định hậu quả này là do chính hành vi đó gây ra.
M ặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Có thể
là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội có thể mong
12
muốn hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe nhưng cũng có
thể chỉ chấp nhận hậu quả đó.
Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác có thể là bất kì người nào có năng lực TNHS và đạt độ tuổi
luật định.
Điều luật quy định 4 khung hình phạt khác nhau:
Khung cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc
phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Khung này được áp dụng cho trường hợp phạm
tội không có tình tiết định khung tăng nặng quy định tại các khoản 2, 3, 4
Điều 104 BLHS.
Khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm được áp
dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung tăng
nặng sau:
+ Gây thương tích hoặc tổn thương khác có tỉ lệ thương tật từ 31% đến
60%;
+ Gây thương tích hoặc tổn thương khác có tỉ lệ thương tật từ 11% đến
30% nhưng thuộc trường hợp cấu thành tội phạm mà không đòi hỏi tỉ lệ
8
Trên đây là những phân tích về cấu thành tội phạm cũng như chính
sách hình sự của Nhà nước đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS năm 1999).
Từ việc nghiên cứu làm rõ một số khái niệm về quyền công tố, thực
hành quyền công tố ở trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố
đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác như sau:
Thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đư ợc hiểu là hoạt động của
Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức k hỏe của người khác trong quá
trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Thành phố Hà
7
Tham khảo thêm: Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán TANDTC
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà N ội,
2014
8
14
Nội được hiểu là hoạt động của Viện kiểm sát các cấp tại Hà Nội sử dụng
tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc thẩm quyền khởi tố, điều tra, truy
tội trong suốt quá trình tố tụng hình sự thì mới là cơ quan thực hành quyền
công tố. Ở nước ta, chỉ có VKS mới là cơ quan thực hành quyền công tố mà
thôi.
Ở đây cũng cần xác định rõ trong tố tụng hình sự thì những quyền
năng pháp lý nào thuộc về nội dung thực hành quyền công tố và những
quyền năng pháp lý nào thuộc về nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Trên cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật Tổ chức VKS
nhân dân năm 2014 thì những quyền năng pháp lý mà VKS tự quyết định và
liên quan đến việc cáo buộc (buộc tội) bị can, bị cáo là những quyền năng
thuộc nội dung thực hành quyền công tố; những quyền năng pháp lý mà
VKS dùng để phát hiện và yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng và người tham gia tố tụng khắc phục, xử lý vi phạm pháp luật là
những quyền năng thuộc nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật. M ặt
khác, cũng có những hành vi tố tụng thể hiện sự đan xen giữa thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Ví
dụ như trong quyết định kháng nghị phúc thẩm của VKS đối với bản án
(quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực của Tòa án có thể đồng thời bao hà m
cả hai nội dung: Thứ nhất là có sự vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng
Bộ luật hình sự; thứ hai là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc chỉ thể
hiện một trong hai nội dung trên cũng làm phát sinh trình tự xét xử phúc
thẩm.
Từ những phân tích trên, có thể xác định nội dung thực hành quyền
công tố là tổng hợp các quyền năng tố tụng mà Viện kiểm sát sử dụng nhằm
đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội không
16
để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, đượ c thực
hiện ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng.
http://www.vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-5046 đăng ngày 21/05/2015
17
Thứ bảy, đa số vụ án bị đình chỉ theo Khoản 2 Điều 105 BLTTHS
2003 vì phần lớn sau khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị ca n thì gia
đình bị can hoặc bị can thường tìm đến người bị hại để thỏa thuận bồi
thường do đó phải đình chỉ.
1.4.Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố với chức
năng kiểm sát hoạt động tƣ pháp
Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự tuy là hai chức năng độc lập có đối tượng và nội dung khác
nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chức năng của thực hành quyền công tố là để truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội, đưa người phạm tộ i ra trước Tòa án để xét
xử và bảo vệ sự buộc tội đó. Như vậy, có thể thấy đối tượng hướng tới của
thực hành quyền công tố là vạch tội người phạm tội ra trước Tòa án; nội
dung thực hành quyền công tố là việc VKSND sử dụng tổng hợp các quyền
năng pháp lý để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và
được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án có hiệu lực pháp
luật. Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm: Khởi tố vụ án;
khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra;
khi cần thiết trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn
các quyết định của CQĐT hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái
pháp luật của CQĐT; quyết định truy tố bị can, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ
vụ án. Còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật có chức năng là bảo đảm cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhấ t trong các giai đoạn tố
tụng. Đối tượng hướng tới của kiểm sát hoạt động tư pháp là các hành vi,
CQĐT và ra quyết định khởi tố. Khi vụ án đã được khởi tố cũng đồng nghĩa
với quyền kiểm sát hoạt động điều tra của VKS được phát động, VKS sẽ
thực hiện quyền kiểm sát của mình trong suốt quá trình điều tra của CQĐT
để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Như vậy, có thể thấy nếu
VKS làm tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của mình thì chức năng
19
thực hành quyền công tố của VKS cũng sẽ được bảo đảm đúng pháp luật.
Ngược lại, nếu làm không tốt chức năng kiểm sát h oạt động tư pháp thì việc
thực hành quyền công tố của VKS có thể sẽ vi phạm pháp luật ( và có thể dẫn
đến hậu quả là: quyết định của VKS cấp dưới vi phạm pháp luật sẽ bị VKS
cấp trên hủy bỏ) và đối với những trường hợp đó thì vụ án sẽ bị đình chỉ,
VKS có thể sẽ phải bổi thường thiệt hại cho bị can, bị cáo nếu có thiệt hại
xảy ra, đồng thời sẽ làm giảm sự tin tưởng của nhân dân vào năng lực của
đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành tư pháp.
M ối quan hệ chặt chẽ này được thể hiện trong suốt quá trình tố tụng
hình sự. Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: khi nhận được thông báo về
quyết định khởi tố vụ án, đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can từ phía
CQĐT, VKS sẽ xem xét, đánh giá các căn cứ mà CQĐT lấy làm cơ sở để
xác định có dấu hiệu của tội phạm có hợp pháp hay không? Nếu những căn
cứ đó là hợp pháp, thì VKS sẽ thực hành quyền công tố của mình bằng việc
ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, ngược lại nếu
những căn cứ đó là không hợp pháp thì VKS sẽ yêu cầu CQĐT xem xét lại
hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Ở giai đoạn điều tra:
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình VKS sẽ tiến hành kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của CQĐT bằng cách kiểm tra hồ sơ vụ án, kiểm sát
việc hỏi cung bị can, lấy lời khai của ngườ i làm chứng, kiểm sát việc xác
định thu thập chứng cứ,… Thực hiện quyền công tố bằng cách phê chuẩn
lệnh bắt người, khám xét người; quyết định gia hạn điều tra, yêu cầu cơ
Như vậy, có thể thấy thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật là hai chức năng cơ bản và quan trọng nhất của VKS mà giữa
chúng có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời nhau trong suốt
quá trình giải quyết vụ án, nếu vi phạm chức năng này sẽ ảnh hưởng chức
năng khác và ngược lại.
Kết luận Chƣơng 1
Qua chương 1 cho chúng ta thấy được một số vấn đề chung về thực
hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội như làm
rõ được khái niệm và bản chất của quyền công tố và thực hành quyền công
10
Lê Thị Tuyết Hoa; Quyền công tố ở Việt Nam, luận án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội, 2003.