Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn tp HCM - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………/……………

BỘ NỘI VỤ
.....…/….....

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ THỊ THU HÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………/……………

BỘ NỘI VỤ
.....…/….....

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ THỊ THU HÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Học viên thực hiện luận văn

Vũ Thị Thu Hà


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài......................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu......................................................................7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài................................................8
7. Kết cấu của luận văn.............................................................................8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT..........................9
1.1. Những khái niệm cơ bản................................................................... 9
1.1.1. Đào tạo nghề............................................................................... 9
1.1.2. Người khuyết tật....................................................................... 11
1.1.3. Hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật.......................... 14
1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người
khuyết tật.................................................................................................15
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho

cho người khuyết tật............................................................................48
2.2.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đào tạo nghề cho
người khuyết tật.................................................................................. 62
2.2.5. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người
khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh.................................................64
2.2.6. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển hoạt
động đào tạo nghề cho người khuyết tật............................................. 66
2.2.7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đào tạo nghề cho người
khuyết tật.............................................................................................69


2.3. Nguyên nhân của thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động
đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh......................................................................................................... 71
2.3.1. Nguyên nhân của ưu điểm........................................................ 71
2.3.2. Nguyên nhân của khuyết điểm..................................................72
Tiểu kết chương 2....................................................................................75
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO

NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
.........................................................................................................................76
3.1. Quan điểm chỉ đạo........................................................................... 76
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt
động đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hồ Chí

Minh......................................................................................................... 81
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................... 93
1. Kết luận................................................................................................93

với cộng đồng, xã hội. Trong nhiều mối quan tâm lớn đó, việc tạo cơ hội cho
NKT có điều kiện học tập, làm việc và hòa nhập cuộc sống là một trong những
yêu cầu cần thiết.
Hoạt động đào tạo nghề cho NKT càng có ý nghĩa to lớn. Về mặt giáo dục,
đó là việc chuẩn bị việc làm cho NKT theo hướng phân công lao động xã hội,
góp phần vào việc cụ thể hóa các mục tiêu đào tạo. Về mặt kinh tế, hoạt động đào
tạo nghề cho NKT giúp khai thác và sử dụng hợp lý tiềm năng lao động của lực
lượng yếu thế, từ đó giúp nâng cao năng suất lao động. Về mặt xã hội, hoạt động
đào tạo nghề cho NKT có chức năng thực hiện đường lối giáo

1


dục của Đảng và Nhà nước.
Nhìn lại kết quả học nghề của NKT ở Việt Nam trong những năm qua,
chúng ta thừa nhận là đã có một bước tiến bộ hết sức tích cực. Hệ thống các
trung tâm đào tạo nghề cho NKT ngày càng được mở rộng. Chất lượng, hiệu
quả công tác đào tạo nghề của các trung tâm đào tạo nghề cho NKT không
ngừng được nâng cao. Các trung tâm đã góp phần tích cực vào việc tạo ra
nguồn nhân lực đáng kể cho xã hội từ một bộ phận người lao động yếu thế
trong xã hội; góp phần giải quyết một vấn đề xã hội khá bức xúc hiện nay.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - thương mại lớn nhất cả
nước và giàu tiềm năng phát triển nhiều ngành nghề; đặc biệt là lực lượng lao
động khuyết tật có trình độ tay nghề tốt cũng đã góp phần đáng kể vào sự phát
triển kinh tế của thành phố. Tuy nhiên, để NKT được học nghề, có khả năng
tự tạo việc làm nuôi sống bản thân, gia đình, giảm bớt chi phí cho xã hội đang
là một nhu cầu cấp bách. Bên cạnh kết quả tích cực đạt được thì hoạt động
đào tạo nghề cho NKT vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả chưa cao.
Công tác quản lý nhà nước (QLNN) về hoạt động đào tạo nghề cho NKT còn
thiếu tính hệ thống, khoa học, chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm của công

Quán triệt và cụ thể các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về phát triển Giáo dục - Đào tạo đã có nhiều công trình khoa học,
nhiều bài viết về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và đào tạo nghề cho
NKT nói riêng, tiêu biểu như:
Tác giả Phạm Minh Hạc (2008) với nghiên cứu về “Đào tạo nghề góp phần
phát triển nguồn nhân lực của đất nước thế kỷ XXI (Tạp chí Khoa học Giáo dục,
số 5/2008). Từ sự phân tích nhu cầu đào tạo nghề để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tác giả đã tập trung làm rõ những hạn chế, khuyết điểm
trong đào tạo nghề ở nước ta hiện nay như: Đào tạo nghề chưa gắn
3


với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, sự phân bố các trường đào tạo nghề
không hợp lý, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo nghề lạc hậu, bộ
máy QLNN về đào tạo nghề không ổn định, trang thiết bị cho đào tạo nghề
cần chi phí lớn. Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung,
trong đó có vấn đề QLNN về đào tạo nghề.
Tác giả Nguyễn Minh Đường (2008) đã nghiên cứu, đề xuất “Hoàn thiện
cơ cấu giáo dục quốc dân và tổ chức quản lý giáo dục nghề” (Tạp chí Khoa
học Giáo dục, số 38/2008). Bài viết đã chỉ ra một số bất cập về quản lý hệ
thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay, kiến nghị một số giải pháp như tổ chức
lại hệ thống đào tạo nghề, hoàn thiện hệ thống quản lý đào tạo nghề.
“Những quyền của người khuyết tật” (disability rights) do Justin Healey
chủ biên. Nội dung sách chủ yếu đưa ra các định nghĩa về người khuyết tật,
luật chống phân biệt người khuyết tật và cơ chế khiếu nại vi phạm, hệ thống
chăm sóc cộng đồng, người khuyết tật tại nơi làm việc, doanh nghiệp với vấn
đề tuyển dụng người khuyết tật, tiếp cận bình đẳng về internet cho người
khuyết tật [24].
Vũ Ngọc Bình có cuốn: “Trẻ em tàn tật và quyền của các em”, nội dung
chủ yếu nêu lên các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và việc thực hiện

công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho NKT nói riêng trong những
năm qua. Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của toàn ngành Dạy
nghề, sự nghiệp đào tạo nghề đã được phục hồi và đang tiếp tục phát triển mạnh,
đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy nghề (CSDN)
từng bước được phát triển theo quy hoạch, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho
dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp; phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”
trong toàn ngành dạy nghề đã được đẩy mạnh; các hoạt động như hội thi học viên
giỏi nghề, hội thi thiết bị đào tạo nghề tự làm… đã trở thành
5


hoạt động thường xuyên từ các CSDN và mang lại hiệu quả thiết thực.
Bên cạnh những công trình nêu trên còn có một số bài viết ngắn trên các
báo, tạp chí phản ánh về những khó khăn, thuận lợi của NKT trên đường hòa
nhập cộng đồng, về cuộc sống, sinh hoạt vui chơi, tinh thần vượt khó vươn lên
trong học tập của những NKT điển hình đã đạt thành tựu cao trong công việc
khiến nhiều người phải học hỏi, là tấm gương của bao NKT khác noi theo.
Mặc dù các công trình nghiên cứu, bài viết trên chưa đề cập trực tiếp đến
vấn đề QLNN về hoạt động đào tạo nghề cho NKT tại TP.HCM nhưng đó là
nguồn tài liệu để tác giả nghiên cứu, thiết thực góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của đề tài, nhất là việc làm rõ các khái niệm, phạm trù cơ bản.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu


Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp,nhiệm vụ của QLNN đối với
hoạt động đào tạo nghề cho NKT nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT trên địa bàn TP.HCM.

5. Phương pháp nghiên cứu


Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về quản lý hành chính, cụ thể là đào tạo và quản lý đào tạo nghề.
Nghiên cứu các văn kiện, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về giáo dục chuyên nghiệp; nghiên cứu hệ thống quy trình, nội dung QLNN
về đào tạo nghề cho NKT bao gồm các chính sách, chiến lược, kế hoạch, quy
hoạch mạng lưới CSDN; tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo đội ngũ giáo viên;
phương pháp và chương trình đào tạo; đầu tư cơ sở vật chất; thanh tra, kiểm
định, hợp tác quốc tế về đào tạo nghề.
Nghiên cứu sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác có liên quan về đào tạo
nghề nói chung và đào tạo nghề cho NKT nói riêng.


Phương pháp nghiên cứu tài liệu sơ cấp

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra các khách thể là học viên
đang học nghề, giáo viên và cán bộ quản lý đang làm việc tại Trung tâm Bảo
trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm người tàn tật TP.HCM (thuộc Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội TP.HCM). Số lượng mẫu được thống kê, phân tích số
liệu, kết hợp phần mềm SPSS để phân tích kết quả điều tra khảo sát.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu các báo cáo hàng năm của
Tổng cục Dạy nghề, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM, các CSDN cho NKT tại
7



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Đào tạo nghề
Đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi
cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi
hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được
tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
Nghề là một hình thức phân công lao động xã hội, đòi hỏi phải có kiến
thức lý thuyết tổng hợp và năng lực thực hành phù hợp để hoàn thành những
công việc nhất định như: nghề may, nghề sửa chữa máy tính, nghề làm bánh,
nghề nấu ăn, …
“Bách khoa toàn thư Việt Nam”, khái niệm đào tạo nói chung là quá
trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm
vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động
nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển
nền văn minh của con người.
Theo từ điển Tiếng Việt (2007): Đào tạo là “làm cho người học trở thành
người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định”.
Đào tạo là khái niệm có nội hàm rộng, đó chính là huấn luyện, bồi
dưỡng, rèn luyện cho một người từ chưa hiểu biết thành hiểu biết, từ chưa có
năng lực làm việc thành có năng lực, từ người năng lực chưa hoàn chỉnh
thành người phát triển đầy đủ năng lực, phẩm chất để làm việc. Khái niệm
9


“đào tạo” nghiên cứu trong luận văn này được hiểu theo phạm vi hẹp hơn, đó

Vì thế, bên cạnh việc được lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình đào
tạo mà người học còn cần phải nắm vững, trau dồi và phát triển những kỹ
năng, kỹ xảo đã được học trong khi làm việc thực tế.
1.1.2. Người khuyết tật
Mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa và tư tưởng khác nhau sẽ có những định
nghĩa khác nhau về NKT. Các thuật ngữ để chỉ tình trạng khuyết tật cũng rất
nhiều như: Tàn tật, tật nguyền, tàn phế, khuyết tật, thiểu năng trí tuệ, dị dạng,
… Nhưng chỉ có các thuật ngữ tàn tật và khuyết tật được sử dụng một cách
chính thức trong văn kiện, văn bản pháp luật, sách báo, phương tiện thông tin
đại chúng; các thuật ngữ còn lại thường được sử dụng trong giao tiếp văn nói
hàng ngày. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của đời sống
kinh tế xã hội, người ta đã có sự quan tâm hơn, những nghiên cứu sâu rộng
hơn về NKT, thì thuật ngữ “người khuyết tật” đã được thay thế thuật ngữ
“người tàn tật” trong các văn kiện, tài liệu. Điều này thể hiện sự tôn trọng, tính
nhân văn và cách nhìn tiến bộ hơn đối với NKT.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chia ra thành các thuật ngữ và định nghĩa
sau: “khuyết tật” là sự khiếm khuyết, giảm sút hoặc rối loạn cơ cấu tổ chức hay

một chức năng tâm lý, sinh lý, giải phẫu; “tàn tật” hay “mất khả năng” là bất
kỳ một sự hạn chế hay thiếu hụt (do khuyết tật) khả năng thực hiện một hoạt
động theo chức năng hay trong phạm vi được coi là bình thường của con
người; “tàn phế” là sự mất mát, thiệt thòi cho một cá nhân do khuyết tật hoặc
do tàn tật, khiến cho người đó không thực hiện được một phần hay toàn bộ
công việc được coi là bình thường (theo tuổi tác, giới tính, các yếu tố kinh tế,
văn hóa, xã hội…). Điều 2 của Pháp luật nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
về bảo vệ người khuyết tật năm 1990: “người khuyết tật là một trong những
người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm
11



12


hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong
giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói.
(3). Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm
nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi
trường bình thường.
(4). Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ,
cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành
động bất thường.
(5). Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật,
hiện tượng, giải quyết sự việc.
(6). Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể
khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không
thuộc các trường hợp nêu trên [8].


Tâm lý người khuyết tật

Người khuyết tật có một số biểu hiện tâm lý:
Về mặt sinh học, NKT là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận
cơ thể, hoặc có những rối loạn về tâm sinh lý hay một chức năng nào đó của
con người do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính sự khiếm khuyết đó đã làm
cho NKT bị hạn chế về sức khỏe, kém khả năng chống lại các dịch bệnh và
gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, vận động. Cũng vì những điều đó nên
NKT gặp khó khăn trong nhận thức môi trường xung quanh, đồng thời phản
ứng của môi trường xung quanh ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của NKT. Mối
liên hệ này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển về thể chất, tâm lý và

nghề nghiệp (say mê, yêu nghề, tâm huyết với công việc,…);
- Việc đào tạo nghề cho NKT phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng
đào tạo là NKT.
14


Khoản 1, điều 5, Luật Dạy nghề 2006 quy định: “Đào tạo nghề là hoạt
động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần
thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau
khi hoàn thành khóa học” [20]. Đào tạo nghề giúp cho người học nghề nắm
bắt được những kiến thức chuyên sâu về ngành nghề mình đang học, tạo điều
kiện cho người học nghề tiếp cận những kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại.
Khi NKT được tham gia học nghề và làm việc, họ sẽ trở nên tự tin hơn, thấy
cuộc sống có ý nghĩa hơn và điều quan trọng nhất là họ tự mình làm việc, có
thu nhập để trang trải trong cuộc sống. Để NKT có cơ hội hòa nhập với cộng
đồng thì không gì thiết thực hơn là tạo điều kiện cho họ tự lực, cho dù họ có
khuyết tật gì trên thân thể thì họ vẫn có thể làm được những công việc phù
hợp với khả năng và sức khỏe, thậm chí có nhiều NKT còn đạt được những
thành tích xuất sắc và có vị trí cao trong xã hội.
Việc đào tạo nghề cho NKT không chỉ là cố gắng từ phía cơ quan QLNN
mà còn là sự nỗ lực của chính NKT và cộng đồng xã hội. Như vậy, có thể khái
quát đầy đủ: Đào tạo nghề cho NKT là hoạt động dạy và học nhằm trang bị
cho NKT kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp cần thiết, phù hợp
với tình trạng khuyết tật và sức khỏe của NKT, tạo điều kiện để họ có thể tìm
được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người
khuyết tật
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề
cho người khuyết tật
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT là hệ thống

vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quản lý.
- Chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề
cho NKT.
16


- Cơ sở vật chất, phương tiện, kỹ thuật dạy học.
- Môi trường sư phạm và đời sống vật chất – tinh thần của cán bộ, giáo
viên, học viên khuyết tật.
Về mục đích quản lý:
Mục đích của quản lý hoạt động đào tạo nghề cho NKT là thông qua tác
động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới sự vận hành
thông suốt, có hiệu quả cao, phát huy mọi nguồn lực, sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống; đồng thời, hạn chế những yếu kém của CSDN cho NKT; thiết
thực góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề của CSDN
cho NKT.
Về phương pháp quản lý:
Để quản lý có hiệu quả, chủ thể quản lý phải nắm vững và vận dụng thuần
thục các chức năng quản lý, bao gồm: kế hoạch hóa hoạt động đào tạo nghề (xác
định nội dung, chỉ tiêu, thời gian, biện pháp thực hiện,…); tổ chức hoạt động đào
tạo nghề (vận hành các mối quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận để tác động
đến đối tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối các nguồn lực
của tổ chức như: nhân lực, vật lực và tài lực); chỉ đạo hoạt động đào tạo nghề
(điều hành tổ chức hay nhân lực đã có của đơn vị để vận hành theo đúng kế
hoạch đã vạch ra) và kiểm tra hoạt động đào tạo nghề (thông qua một cá nhân,
nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả hoạt động,
đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót, lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống đào
tạo nghề sớm đạt được mục tiêu đã định). Ngoài ra, trong thời đại bùng nổ của
thông tin hiện nay, chủ thể quản lý cần thực hiện tốt chức năng nắm thông tin về
hoạt động đào tạo nghề cho NKT; trên cơ sở đó có biện pháp điều chỉnh các chức

tạo có đội ngũ giáo viên chuẩn sẽ là tài sản vô giá giúp cho sự tồn tại và phát
triển bền vững của đơn vị.
Bên cạnh đó, một ngôi trường hoạt động hiệu quả không thể thiếu người
đứng đầu, vì vậy năng lực của người cán bộ quản lý có vai trò rất quan trọng
trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường. Người quản lý biết tổ
chức xây dựng một chương trình đào tạo hợp lý, phát huy tối đa khả năng của
giáo viên, có sự đầu tư về cơ sở vật chất, nắm được thực lực của đơn vị để
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status