Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 53

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LÝ THỊ LAN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LÝ THỊ LAN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Mã số: 8.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn: T.S. Nguyễn Thị Thu Hằng

Thái Nguyên, năm 2018

suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại đây.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các thầy cô giáo
và các em học sinh trường PTDTBT TH&THCS Thạch Lâm, Trường TH Sác
Ngà, Trường Tiểu học Nà Thằn, Trường Tiểu học Nà Ca, Trường Tiểu học
Mông Ân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm sư phạm.
Để hoàn thành luận văn: “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu
học người dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng” tôi đã sử dụng,
kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời nhận
được rất nhiều sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy, cô giáo; sự giúp đỡ của bạn
bè, người thân đã động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự chỉ
bảo, đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Lý Thị Lan

ii


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục các từ viết tắt ..................................................................................... iv
Danh mục các bảng.............................................................................................. v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1

1.4.1. Tổ chức điều tra khảo sát thực trạng .................................................... 27
1.4.2.Kết quả điều tra thực trạng .................................................................... 28
1.4.3. Nhận xét chung ..................................................................................... 32
1.5. Kết luận chương 1 ................................................................................... 33
Chƣơng 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN
BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG .................................................................... 35
2.1. Căn cứ đề xuất các biện pháp .................................................................. 35
2.2. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học người
dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng ........................................... 36
2.2.1. Tạo động cơ học tập và nhu cầu giao tiếp cho học sinh tiểu học
người dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng................................. 36
2.2.2. Tổ chức dạy học bài học tích hợp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng .... 41
2.2.3. Kết hợp dạy học các môn học với việc tổ chức các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu
học người dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng .......................... 45
2.2.4. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc thực
hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu
số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng ................................................................. 49
2.2.5. Điều kiện thực hiện các biện pháp ....................................................... 51
2.3. Kết luận chương 2 ................................................................................... 52
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM....................................................... 54

iv


3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 54
3.2. Đối tượng và qui mô thực nghiệm .......................................................... 54
3.3. Nội dung thực nghiệm ............................................................................. 55


GDKNGT

: Giáo dục kỹ năng giao tiếp

GV

: Giáo viên

HĐGDNGLL

: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

HS

: Học sinh

HSTH

: Học sinh tiểu học

KNGT

: Kỹ năng giao tiếp

NXB

: Nhà xuất bản

PTDT

Bảng 1.4. Phương pháp GDKNGT cho HSTH người DTTS huyện Bảo
Lâm, tỉnh Cao Bằng .................................................................................. 32
Bảng 3.1. Bảng chọn mẫu thực nghiệm ............................................................ 54
Bảng 3.2. Kế hoạch thực nghiệm ...................................................................... 56
Bảng 3.3. Kết quả điểm kiểm tra môn Tập làm văn (lớp 2), môn Khoa học
(lớp 4) của nhóm TN và nhóm ĐC trước TN ............................................ 60
Bảng 3.4. Kết quả điểm kiểm tra môn Tập làm văn (lớp 2), môn Khoa học
(lớp 4) trước và sau TN của nhóm ĐC ...................................................... 61
Bảng 3.5. Kết quả điểm kiểm tra môn Tập làm văn (lớp 2), môn Khoa học
(lớp 4) trước và sau TN của nhóm TN ...................................................... 62
Bảng 3.6. Kết quả điểm kiểm tra môn Tập làm văn (lớp 2), môn Khoa học
(lớp 4) của nhóm TN và nhóm ĐC sau TN ............................................... 63
Bảng 3.7. Kết quả bày tỏ thái độ của HS khi học môn Tập làm văn (lớp 2)
và Khoa học (lớp 4) ................................................................................... 64
Bảng 3.8. Kết quả quan sát biểu hiện KNGT của HS khi học môn Tập làm
văn (lớp 2) và Khoa học (lớp 4) trước và sau khi TN ............................... 65

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong xu thế hội nhập và phát triển, giáo dục con người vừa là
mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là
muốn hội nhập và phát triển đất nước thì phải phát triển con người. Trong xã
hội hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề phát
triển con người. Trước bối cảnh toàn cầu hóa, UNESCO đã đề xuất bốn trụ cột
của nền giáo dục là “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự
khẳng định mình” trong đó mục tiêu “học để cùng chung sống” được coi là một
trong các trụ cột quan trọng. Và vấn đề được đặt ra: “Kỹ năng nào là cần thiết

càng không thể thực hiện trong thời gian nhất định mà phải rèn luyện trong thời
gian lâu dài, hàng ngày.
1.3. Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc, nền kinh tế còn nghèo
nàn, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Trong dân cư còn tồn tại nhiều
hủ tục lạc hậu, tỉ lệ mù chữ, tái mù cao so với cả nước. Trong các làng bản
còn sống co cụm, ít giao lưu với nhau, nền kinh tế tự canh, tự cung, tự cấp.
Chính vì vậy, người dân và các em HS nơi đây ngại giao tiếp, thậm chí không
biết cách giao tiếp. Phần lớn đồng bào DTTS, con cái vẫn xưng hô với cha
mẹ, ông bà là tao - mày, hoặc dùng từ nó để chỉ những nguời lớn tuổi. HSTH
người DTTS huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng do hạn chế về điều kiện kinh tế,
địa hình bị chia cắt nên HS dân tộc có nhiều nét khác biệt, vì vậy việc
GDKNGT còn gặp nhiều khó khăn.
1.4. Rèn KNGT cho HSTH, đặc biệt là HS người DTTS là việc làm cần
thiết giúp các em mạnh dạn, tự tin, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác, giúp đỡ, tạo
được niềm tin trong học tập và rèn luyện. Góp phần hình thành những KNGT
cơ bản phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm từng em góp phần tạo điều kiện cho các
em học lớp trên, đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc GDKNGT cho HSTH người
DTTS là việc làm rất cần thiết và vô cùng quan trọng nên chúng tôi đã mạnh
2


dạn chọn đề tài: Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học người dân
tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp GDKNGT cho HSTH người DTTS huyện Bảo
Lâm, tỉnh Cao Bằng nhằm nâng cao chất lượng GDKNGT nói riêng và chất
lượng giáo dục HSTH người DTTS huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng nói chung.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDKNGT cho HSTH.

7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Nghiên cứu quá trình GDKNGT cho HSTH người DTTS huyện Bảo
Lâm, tỉnh Cao Bằng dựa trên khảo sát thực trạng dạy học và giáo dục, thực
trạng năng lực HS và nhu cầu HS.
Biện pháp GDKNGT cho người DTTS phải hướng tới đáp ứng yêu cầu
thực tiễn GDKNGT của nhà trường tiểu học huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Để xây dựng cơ sở lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu cụ thể: Sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá hệ thống lý luận
của đề tài.
7.2.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm thu thập thông tin về thực trạng GDKNGT cho HSTH người
DTTS huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng: Các phương pháp điều tra về thực trạng
GDKNGT cho HSTH người DTTS hiện nay; Phương pháp trò chuyện, phỏng
vấn để thu thập thông tin về thực trạng; Phương pháp quan sát được sử dụng để
nhận biết các biểu hiện giao tiếp của HS trong hoạt động học, hoạt động chơi.
7.2.3. Các phƣơng pháp bổ trợ
Sử dụng các phần mềm thống kê để liệt kê, mô tả, phân tích, xử lí các số
liệu điều tra, khảo sát, thực nghiệm nhằm làm rõ các vấn đề thực tiễn liên quan
đến đề tài nghiên cứu.

4


Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận thì nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh
tiểu học người dân tộc thiểu số huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng

Ph.N.Gonobolin… Hoặc nghiên cứu các dạng giao tiếp như KNGT trong quản
lý, trong kinh doanh và những bí quyết trong quan hệ giao tiếp có công trình
của Allan Pease, Derak Torrington,… [19]. Đến năm 1970, phạm trù KNGT
được các nhà tâm lý học Liên Xô thực sự quan tâm và phát triển một cách
6


mạnh mẽ nổi bật là các tác giả: A.A Leonchiev với các tác phẩm: Tâm lý học
giao tiếp (1974), Giao tiếp sư phạm (1979).
Vào những năm 20, 30 của thế kỷ XX, vấn đề KNGT được nghiên cứu
mạnh, trong đó phải nhắc đến vai trò quan trọng của các nhà tâm lý học người
Đức: S.Frued (1856 - 1939), ông cho rằng trong hệ thống giao tiếp có người
phát tín hiệu, có người nhận thông tin và quá trình này diễn ra trên cơ sở cả hai
bên đều muốn tìm hiểu lẫn nhau, muốn làm theo nhau.
Đến giữa thế kỉ XX, những nghiên cứu về KNGT ở phương Tây bao
trùm một phạm vi tương đối rộng lớn, ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học, qua
nghiên cứu thực nghiệm về hệ thống giao tiếp.
Khi nghiên cứu các yếu tố giao tiếp, nhà tâm lý học Pháp Bateson đã
phân biệt thành hai hệ thống giao tiếp là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ
sung. Theo ông, mọi giao tiếp đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức
ấy, nó thể hiện tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương
hỗ và tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu vấn đề giao
tiếp theo các khía cạnh: vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách con người, vai trò của giao tiếp trong sự tồn tại của xã hội
loài người, nghiên cứu bản chất của giao tiếp, nghiên cứu các vấn đề chung
của giao tiếp.
1.1.2. Khái quát một số nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp ở Việt Nam
Từ trước đến nay, người Việt luôn hướng giao tiếp trong xã hội theo chủ
nghĩa và nó được nâng lên thành một kiểu văn hoá giao tiếp của người Việt nhằm

trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh lớp 4, lớp 5 trong
phạm vi trường học. Tuy nhiên, những hành vi giao tiếp bên ngoài trường
học của HS chưa được quan tâm, nghiên cứu [22].
Tác giả Phùng Thị Hằng, trong: Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh
trung học phổ thông dân tộc Tày, Nùng đã chỉ ra rằng, giao tiếp của HS trung

8


học phổ thông dân tộc Tày, Nùng tiếng mẹ đẻ là phương tiện giao tiếp
thường ngày của các em, nó có ảnh hưởng đến quá trình sử dụng tiếng Việt của
HS trong các tình huống giao tiếp. Để hình thành và phát triển các KNGT cho
HS trung học phổ thông người DTTS thì một trong các hình thức, biện pháp rất
hiệu quả là tổ chức các hoạt động học tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp đa dạng,
linh hoạt, sinh động phù hợp với điều kiện nhà trường, phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý lứa tuổi [13].
Tác giả Ngô Giang Nam (2013) với nghiên cứu Giáo dục kỹ năng giao
tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc, trong nghiên cứu đó,
tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng và chỉ ra được một số biện pháp
GDKNGT cho HSTH ở miền núi phía Bắc [22].
Bên cạnh một số các nghiên cứu trực tiếp về KNGT trong các vấn đề
trên, một số các nghiên cứu khác cũng có nghiên cứu liên quan đến KNGT
trong phạm trù gắn với các kỹ năng sống. Ví dụ, Nguyễn Thị Thu Hằng trong
nghiên cứu Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu
số khu vực miền núi phía Bắc (qua các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học)
trong đó tác giả không nêu trực tiếp về kĩ năng sống nhưng cũng gián tiếp nêu
ra những khía cạnh về KNGT ở tiểu học. Tuy nhiên, các biện pháp chỉ tiếp cận
trên môn học cụ thể chưa thể hiện tính toàn diện khi nghiên cứu trên một đối
tượng HS [12].
1.1.3. Kết luận chung

HS các lớp chủ yếu là người DTTS, chúng tôi thấy các em còn rất nhiều hạn
chế và khó khăn trong giao tiếp. Bởi vậy, chúng tôi quyết định đi sâu vào vấn
đề GDKNGT cho HSTH người DTTS huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. Chúng
tôi hy vọng rằng đề tài hoàn thành sẽ góp phần thiết thực cho người GV tiểu
học trong việc GDKNGT cho HSTH người DTTS không chỉ ở huyện Bảo Lâm,
tỉnh Cao Bằng mà còn ở những địa phương miền núi khác có điều kiện kinh tế văn hóa - xã hội tương đồng.
10


1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Kỹ năng
Kỹ năng là một vấn đề rất phức tạp. Cho đến nay, trên thế giới và ở nước
ta vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng và nó được nhìn dưới
những góc độ khác nhau.
Các nhà nghiên cứu như V.A.Knchexi, A.G.Coovaliov xem kỹ năng là
mặt kĩ thuật, phương thức của hành động. Chỉ xem kỹ năng là một yếu tố và
không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa đến kết quả hành động.
Các tác giả như N.Đ.Levitov, X.L.Kixêgov, A.V.Pêtrovxki,... quan
niệm kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động phức tạp
dựa trên sự vận dụng tri thức và kĩ xảo, tức là kỹ năng không chỉ nắm
vững lí thuyết về cách thức hành động mà còn bao hàm khả năng vận
dụng nó vào thực tế.
Ở Việt Nam, vấn đề kỹ năng đã nhận được sự quan tâm rất nhiều của các
nhà Tâm lý học và Giáo dục học.
Tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng: Kỹ năng là năng lực vận dụng những
tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong
những điều kiện cụ thể [5, tr4]. Còn theo tác giả Lê Văn Hồng: "Kỹ năng là khả
năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới" [15]. Hay tác giả
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: "Kỹ năng là năng lực của con người biết vận hành
các thao tác của một hành động theo đúng quy trình" [30].

M.Acgain (Anh) đã khẳng định: Giao tiếp là quá trình hai mặt của sự
thông báo, thành lập sự tiếp xúc, trao đổi thông tin. Lúc này, khái niệm giao
tiếp được khai thác với chức năng trao đổi, tiếp nhận thông tin giữa con người
với con người trong xã hội.
T.Chuc Com (Mỹ) quan niệm giao tiếp là sự tác động qua lại trực tiếp
lên nhân cách dẫn đến việc hình thành những ý nghĩa biểu tượng, chuẩn mực và
mục đích hành động. Quan niệm này cụ thể hơn, nó đề cập đến các yếu tố tham
gia trong giao tiếp nhưng chưa nêu được bản chất của giao tiếp. Còn T.Stéc Sen
(Pháp) đặc biệt chú ý đến sự thay đổi ý nghĩa, tình cảm và xúc cảm giữa con
người với con người và khi đó ông coi sự trao đổi này là quá trình hai mặt của
sự thông báo thiết lập, sự tiếp xúc và trao đổi thông tin [14].

12


A.A. Leonchiev định nghĩa giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người
với con người, trong đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tri giác
lẫn nhau, đưa đến ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau và ông đã mở rộng khái
niệm chủ thể giao tiếp đến toàn xã hội. Tuy nhiên, ông chưa phân biệt rõ trong
quan hệ giao tiếp ai là chủ thể, ai là khách thể. Ông cho rằng giao tiếp là dạng
hoạt động hoặc là phương thức, điều kiện của hoạt động.
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp đã nhận được sự quan tâm rất nhiều của các
nhà Tâm lý học và Giáo dục học, nó được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nguyễn Ngọc Bích theo “Tâm lý xã hội” đã viết: Giao tiếp là sự tiếp xúc
giữa hai người hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi
thông tin, tình cảm, hiểu biết tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau [2, tr.53].
Theo Lê Văn Hồng: Giao tiếp có thể là một quá trình, trong đó con người trao đổi
với nhau các ý tưởng, cảm xúc và thông tin nhằm xác lập và vận hành các mối
quan hệ giữa người với người trong xã hội vì những mục đích khác nhau [15].
Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh Huy trong cuốn “Nhập môn khoa học

chọn trong đề tài nghiên cứu này như sau: Giao tiếp là quá trình tiếp xúc qua
lại giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi thông tin, tư tưởng,
tình cảm. Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người, giao
tiếp được tiến hành bằng nhiều hình thức có ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ, khả
năng giao tiếp của mỗi người phụ thuộc vào KNGT và vốn tri thức, vốn kinh
nghiệm sống của họ.
Từ đó, chúng tôi quan niệm: Giao tiếp của HSTH là quá trình tiếp xúc
của HS với gia đình, nhà trường và xã hội nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng,
tình cảm giữa HS với những người xung quanh. Giao tiếp của HSTH là một
nhu cầu tất yếu của HS, giúp các em thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện
một cách hiệu quả [22].
1.2.3. Kỹ năng giao tiếp
1.2.3.1. Khái niệm
Khi nghiên cứu về KNGT, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm
khác nhau với những cách nhìn khác nhau. Mỗi nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới
góc độ nghiên cứu của riêng mình.
14


Tác giả Ngô Công Hoàn quan niệm: Kỹ năng giao tiếp là khả năng tri
giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong
của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp [14].
Theo tác giả, KNGT của mỗi người bao hàm khả năng vận dụng vốn tri thức,
vốn kinh nghiệm của bản thân chủ thể giao tiếp và khả năng điều khiển đối
tượng giao tiếp.
Tác Giả Hoàng Anh quan niệm KNGT là năng lực của con người biểu
hiện trong quá trình giao tiếp. Đó là khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ… là hệ thống các thao tác, cử chỉ, điệu bộ hành vi
được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa. Thực tế, KNGT của con người không
chỉ thuộc vào phương tiện mà nó phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm, những

biết xây dựng và giữ gìn các mối quan hệ, từ đó đạt được mục đích giao tiếp
của mình. KNGT là điều kiện cần thiết cho sự thành công và hạnh phúc của
mỗi cá nhân. Các biểu hiện của KNGT ở HSTH: Có hiểu biết về vị trí, vai trò
của bản thân, cha mẹ, anh chị em, ông bà và những người thân trong gia đình;
Có hiểu biết về các mối quan hệ của mình trong trường tiểu học như: Quan hệ
thầy - trò, quan hệ bạn bè, quan hệ giữa mình với các cô bảo mẫu và nhân viên
của trường; Ý thức được mục đích giao tiếp của mình trong các tình huống
thường gặp ở nhà và ở trường tiểu học; Biết cách xây dựng tình cảm với những
người thân trong gia đình và trường tiểu học; Biết trình bày suy nghĩ, nguyện
vọng, tình cảm của mình với người lớn; Biết sử dụng một số phương tiện giao
tiếp như: quà tặng, lời chúc… để xây dựng và phát triển các mối quan hệ của
bản thân [3].
KNGT của con người bao gồm: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng chia sẻ,
kỹ năng tự nhận thức về bản thân, kỹ năng từ chối lời yêu cầu đề nghị của
người khác, kỹ năng thương lượng và xử lý tình huống, kỹ năng hợp tác, kỹ
năng chào hỏi, nói lời cảm ơn xin lỗi,….
1.2.3.3. Ý nghĩa
Thông qua giao tiếp, con người được tiếp nhận thông tin để biến nó
thành tri thức, KNGT của mỗi người. KNGT có ý nghĩa quan trọng bởi vì:

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status