Các hình thức sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005, nhận xét và kiến nghị”. - Pdf 53

A. LỜI NÓI ĐẦU.
Nền kinh tế xã hội của nhà nước ngày càng phát triển một cách toàn cầu hóa,
theo xu hướng nền kinh tế nhiều thành phần. Nền kinh tế này dựa trên quy định về
các hình thức sở hữu. Sự phát triển của các quốc gia cũng phần nào phụ thuộc vào
các hình thức sở hữu. Thực tế, trong hệ thống pháp luật của mỗi nước, các hình
thức sở hữu luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Hình thức sở hữu ở mỗi quốc
gia lại khác nhau. Ở Việt Nam, các hình thức sở hữu cũng được biểu hiện một cách
rõ nét và mang những nét riêng góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nước. Nhận
thấy tính cấp thiết của vấn đề nên em đã quyết định chọn đề tài: “Về các hình thức
sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005, nhận xét và kiến nghị”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Chế định về các hình thức sở hữu luôn là một đề tài nóng, có giá trị thực tiễn
cao. Cơ sở pháp lý quan trọng để xác định các hình thức sở hữu trong BLDS chính
là hiến pháp. Điều 15, Hiến pháp 1992 đã quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình
thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền
tảng”. Các hình thức sở hữu được quy định ở Bộ luật dân sự năm 2005 tại Chương
XIII và được quy định khái quát tại Điều 172 BLDS 2005: “Trên cơ sở chế độ sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở
hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp”.Mỗi hình thức sở hữu lại
mang những đặc trưng riêng nên cần phải có sự hiểu biết rõ về mỗi hình thức sở
hữu để tránh nhầm lẫn.
I. Các hình thức sở hữu.
1. Sở hữu nhà nước.
I.1. C hủ thể của sở hữu nhà nước.
Sở hữu nhà nước đã trải qua một quá trình lịch sử khá dài với rất nhiều thăng
trầm. Tuy nhiên, sở hữu nhà nước vẫn giữ được vai trò chủ đạo của nền kinh tế đất

luật quy định.”
Như vậy, phạm vi tài sản thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm:
- Đất đai: Hiến pháp 1992 (điều 17), Luật đất đai( khoản 1 điều 5), BLDS ( Điều
200) đều nêu rõ đất đai là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước. Đất đai bao gồm tất
cả các loại đất đai trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Đất đai được phân thành 3 loại chính là: đất nông nghiệp, đất phi nông
nghiệp và đất chưa sử dụng. Người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất và các
liên quan đến quyền sử dụng đất.
- Rừng, núi, sông, hồ:
2
+ Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi
sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Theo quy định tại Điều 3
Luật bảo vệ và phát triển rừng thì “rừng tự nhiên, rừng trồng bằng vốn Nhà nước
thuộc sở hữu nhà nước”. Rừng được chia thành các loại sau:
• Rừng phòng hộ để bảo vệ đất, nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế thiên
tai, rừng để chắn gió, chắn sóng biển và lấn biển.
• Rừng đặc dụng để bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, rừng
quốc gia, động vật rừng, nghiên cứu khoa học, làm danh lam thắng cảnh và
du lịch.
• Rừng sản xuất dùng vào việc khai thác, kinh doanh gỗ, các lâm sản rừng và
động vật rừng.
Theo quy định tại khoản 1, điều 6, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì
Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát
triển bằng vốn của Nhà nước…
+ Núi: Dạng địa hình lồi, sườn dốc, có độ cao lớn hơn đồi: núi nhấp nhô
vượt núi băng sông.
+ Sông: Dòng nước tự nhiên tương đối lớn, chảy thường xuyên trên mặt đất,
thuyền bè thường đi lại được.
+ Hồ: Nơi trũng ở trong đất liền, sâu và rộng, chứa nước thường là nước
ngọt.

cơ quan, doanh nghiệp nhà nước để quản lý và khai thác công dụng tài
sản thuộc sở hữu nhà nước.
- Quyền định đoạt: Để thực hiện quyền định đoạt, Nhà nước trao cho các
cơ quan quản lí nhà nước ở địa phương quyền được định đoạt một phần
trong phạm vi quyền sở hữu đất đai của mình. Đồng thời, những cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giao đất cũng có thẩm quyền thu hồi đất nếu
người sử dụng đất không thực hiện đúng chính sách, pháp luật của nhà
nước về mục đích sử dụng từng loại đất, bảo vệ đất…
Để việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu
nhà nước một cách tốt nhất thì phải bảo đảm các nguyên tắc chung. Thứ nhất,
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan chấp hành và điều
hành sẽ “thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết
kiệm tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước”. Hơn thế nữa, để đảm bảo quyền
chủ sở hữu của mình, Điều 202 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định:“Việc quản
lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước được thực hiện
trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định”. Cuối cùng, sử dụng tài sản
của nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm nhưng đem lại hiệu quả kinh tế
cao nhất.
4
Để thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản của mình một cách có hiệu
quả nhất thì nhà nước đã tiến hành đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước hoặc giao
cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác được phép quản lý, sử dụng, khai thác hiệu
quả, đúng mục đích, trong phạm vi, theo trình tự, cách thức phù hợp đồng thời phải
thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
+ Trong trường hợp tài sản nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước thì
nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp
luật về doanh nghiệp. Điều 203 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:“1. Khi tài sản
thuộc hình thức sở hữu nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước thì Nhà
nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp
luật về doanh nghiệp. 2. Doanh nghiệp nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn,

luật quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lệ”. Các
tổ chức được Nhà nước giao tài sản có quyền quản lý, sử dụng tài sản được Nhà
nước giao đúng mục đích, phạm vi, cách thức, trình tự do pháp luật quy định.
+ Đối với các doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ hợp tác và cá nhân sử dụng khai thác
tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước. Tại Điều 206 Bộ luật dân sự năm 2005
quy định về quyền của doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ hợp tác và cá nhân đối với
việc sử dụng, khai thác tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã bỏ cụm từ
“ngoài quốc doanh” sau cụm từ “doanh nghiệp” nhằm làm thống nhất trong quy
định của hệ thống pháp luật nước ta.
Ngoài ra, đối với những tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước mà chưa
được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý thì Chính phủ sẽ tổ chức thực hiện việc bảo
vệ, điều tra, khảo sát và lập quy hoạch đưa và khai thác.
Tóm lại, nhà nước là chủ thể đặc biệt của quyền sở hữu, Nhà nước thực hiện
các quyền năng của quyền sở hữu thông qua các cơ quan nhà nước.
2. Sở hữu tư nhân.
Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu sinh hoạt, tiêu
dùng và những tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chât và tinh thần
của từng cá nhân.
2.1. C hủ thể của sở hữu tư nhân.
Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, sở hữu tư nhân được ghi nhận là
một hình thức sở hữu bình đẳng giống như bất kì một hình thức sở hữu nào khác.
Điều 211, BLDS 2005 quy định: “ Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với
tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu
chủ, sở hữu tư bản tư nhân”. Chủ thể của sở hữu tư nhân là từng cá nhân. Muốn
trở thành chủ thể của sở hữu tư nhân được toàn quyền tự mình hành xử những
quyền năng của chủ sở hữu phải có những điều kiện nhất định. Bên cạnh việc quy
định chủ thể sở hữu tư nhân là công dân Việt nam thì BLDS còn công nhận các
chủ thể sở hữu tư nhân là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài có vốn đầu tư về nước để sản xuất, kinh doanh. Những người này cũng là
chủ thể của sở hữu tư nhân đối với phần vốn, tài sản mà họ đã đầu tư tại Việt Nam.

những biện pháp cưỡng chế hành chính hay tiến hành cải tạo để chuyển sở hữu tư
nhân thành sở hữu tập thể. Tài sản tư nhân không bị quốc hữu hóa và chỉ trong
trường hợp “thật cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà
nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức
theo thời giá thị trường” (Điều 23 Hiến pháp năm 1992).
Bên cạnh đó, Nhà nước còn khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư vốn, công nghệ vào Việt Nam. Tài sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài cũng không bị quốc hữu hóa. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người
7
Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo các quy định của pháp luật về
khuyến khích đầu tư.
Nguyên tắc chung của việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu tư nhân
là: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân
không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác…”.
3. Sở hữu tập thể.
3.1. C hủ thể của sở hữu tập thể.
Điều 208, BLDS 2005 quy định: “Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã
hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp
vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được
quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản
lý và cùng hưởng lợi”. Sở hữu tập thể được xác lập trên cơ sở các cá nhân, hộ gia
đình cùng góp vốn, góp sức để hợp tác sản xuất kinh doanh.
Chủ thể của sở hữu tập thể là các hợp tác xã (doanh nghiệp tập thể). Các hợp tác
xã là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân. Cơ sở để hình thành hợp tác xã là
do các xã viên tự nguyện liên kết lại nhằm giải quyết, đáp ứng những nhu cầu nhất
định của mình trên tinh thần tự nguyện, cùng góp vốn và cùng góp sức. Mỗi hợp
tác xã với tư cách là chủ thể của sở hữu tập thể có quyền sở hữu đối với toàn bộ tài
sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợp pháp do
sản xuất, kinh doanh, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status