Quan niệm của j locke về quyền sở hữu trong khảo luận thứ hai về chính quyền và ý nghĩa của nó ở việt nam hiện nay - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------

ĐẶNG THỊ LOAN

QUAN NIỆM CỦA J. LOCKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU
TRONG “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN”
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Hạnh

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại học và các phòng
ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho em được
học tập, nghiên cứu tại trường. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Triết
học đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua.
Em xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, các phòng ban trường Cao đẳng
Công nghệ và Kinh tế Hà Nội đã tạo điều kiện cho e m công tác và học tập nâng
cao kiến thức chuyên môn.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến T.S Hoàng
Thị Hạnh, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình.

1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ............................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 8
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .................................................................. 8
5. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 8
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 9
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 9
8. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 9
9. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 9
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn................................ 9
NỘI DUNG......................................................................................................... 11
CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM
CỦA J. LOCKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ KHÁI QUÁT “KHẢO LUẬN
THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” ..................................................................... 11
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành quan niệm của J. Loke về quyền sở
hữu ....................................................................................................................... 11
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội các nước Tây Âu thế kỷ XVII ........................... 11
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII....................................... 12
1.2. Tiền đề lý luận hình thành quan niệm của J. Loke về quyền sở hữu ........... 16
1.3. Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền” ........................................... 20
1.3.1. Thân thế và sự nghiệp của J.Locke ........................................................... 20
1.3.2. Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền” ....................................... 22
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................... 32
CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM CỦA J. LOKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU
TRONG “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................... 33
2.1. Quan niệm của J. Loke về quyền sở hữu ........................................................ 33
2.1.1. Quan niệm của J. Loke về nguồn gốc, bản chất quyền sở hữu ...................... 33
[Type text]


Trong bối cảnh chính trị quốc tế đang có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt
hiện nay một số lực lượng chính trị bá quyền đang lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân
quyền như một ngọn cờ tập hợp lực lượng với luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ
quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác. Nhân quyền trở thành
một vấn đề nhạy cảm và phức tạp trong quan hệ quốc tế, để có thái độ ứng xử đúng
đắn, chủ động, giữ vững chủ quyền đất nước, ổn định chính trị, phát triển kinh tế
thì việc nắm vững lý luận về quyền con người là một yêu cầu cấp bách.
Mầm mống tư tưởng quyền con người đã xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng
tư tưởng về “quyền con người” thực sự xuất hiện ở thời cận đại, trong quan
niệm của nhiều triết gia, trong số đó, có thể nhắc tới John Locke, ông là một triết
gia lớn người Anh, một nhà trí thức đa tài và được xem là một trong những cội
nguồn tri thức của phong trào Khai Sáng. Ông đã để lại nhiều tác phẩm có ý
nghĩa cả về triết học, chính trị học lẫn kinh tế học, trong đó có “Khảo luận thứ
hai về chính quyền”. Trong tác phẩm này, J. Locke đã đề cập đến các quyền con
người như: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu, ông cho
rằng quyền sở hữu của con người là quan trọng nhất.
1


Sở hữu là vấn đề của mọi quốc gia, mọi dân tộc nên thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà tư tưởng, trong đó có các nhà Mácxit. C. Mác đã đánh giá tầm
quan trọng của quyền sở hữu khi ông viết: “Quyền sở hữu là điều kiện sinh sống
cơ bản của con người” [30,765]. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
(1948) tại điều 17 ghi rõ: Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình
hoặc tài sản sở hữu chung với người khác, không ai bị tước đoạt tài sản một
cách tùy tiện.
Ở Việt Nam tại điều 58 Hiến pháp năm 1992 thừa nhận quyền sở hữu của
mọi công dân: “công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để
dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh
nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”. “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu

của đông đảo độc giả năm 2013 nhà xuất bản Tri thức đã cho tái bản lần thứ hai
cuốn sách Khảo luận thứ hai về chính quyền, điều đó chứng tỏ sức hút to lớn của
cuốn sách này. Liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài có thể chia thành các
nhóm nghiên cứu như sau:
*Nhóm thứ nhất: nghiên cứu triết học J.Locke nói chung:
Các công trình nước ngoài nghiên cứu triết học J. Locke được dịch sang
tiếng Việt:
Tác phẩm 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới do Đăng Thục Sinh
chủ biên, được dịch bởi Tùng Giang do Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm
2002. Tác phẩm này là kết quả tuyển chọn dựa theo tiêu chí của cuộc bình chọn
“Những kiệt tác thế giới được dịch ra chữ Hán” do Bộ văn hóa Trung Quốc tổ
chức năm 1980 – 1981. Trong đó từ cuốn sách số 1 đến số 24 phản ánh những
diễn biến tư tưởng của nhân loại về quy chế chính trị, tổ chức nhà nước suốt
2000 năm lịch sử từ Đông sang Tây. Tác phẩm đã trình bày khái quát những nội
dung chủ yếu trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền của J. Locke và
cũng đã khẳng định giá trị to lớn của quyền con người trong tiến trình phát triển
của nhân loại.

3


Cuốn sách 106 nhà thông thái của P.S. Taranop, do dịch giả Đỗ Minh
Hợp dịch, xuất bản năm 2000, trong đó trình bày khái quát về cuộc đời, sự
nghiệp và tư tưởng triết học chính trị cơ bản của J. Locke.
Công trình Lịch sử triết học và các luận đề của Samuel Enoch Stumpt,
dịch giả Đỗ Văn Thuấn, Lưu Văn Hy, nhà xuất bản Lao Động, năm 2004. Trong
đó giới thiệu khái quát về cuộc đời, các tác phẩm tiêu biểu, các quan niệm triết
học cơ bản: về nhận thức luận, đạo đức, chính trị của J. Locke.
Các công trình trong nước nghiên cứu triết học J. Locke:
Lịch sử triết học (2004) do Nguyễn Hữu Vui chủ biên, trong đó đã trình

quyền sở hữu, sự xuất hiện quyền sở hữu là bước đột phá căn bản làm phát sinh
xã hội dân sự.
Nguyễn Thị Dịu với Luận văn Thạc sĩ Triết học Quan niệm chính trị - xã hội
của John Locke (2009), đã đi sâu vào phân tích quan niệm của J. Locke về con
người, quyền con người và quyền lực nhà nước, trong đó tác giả cũng có đề cập
đến quan niệm của J. Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về
chính quyền xem đó như là một trong những quyền cơ bản của con người.
Đinh Thị Hồng Vững với Luận văn Thạc sỹ Triết học Quan niệm của
J.Locke về nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
(2013), đã đi sâu vào phân tích quan niệm của J.Loccke về nguồn gốc, bản chất
của quyền lực nhà nước, về giới hạn và sự phân chia quyền lực, về cơ chế hoạt
động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trong đó, tác giả cũng đề cập đến
quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu nhưng với tư cách là một trong những
quyền cơ bản của con người, và mục đích của nhà nước là đảm bảo quyền tư
hữu, chứ chưa đi sâu phân tích cụ thể quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu.
Quan niệm của John Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm “Khảo luận
thứ hai về chính quyền” của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tạp chí Khoa học Đại
học quốc gia Hà Nội, chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn số 3 năm 2012.
Ở bài viết này, tác giả đã chỉ ra nguồn gốc của sở hữu, từ đó khẳng định mục
đích của nhà nước là bảo toàn sở hữu của con người. Tác giả chưa làm rõ quan
5


niệm của J. Locke về cách thức đảm bảo quyền tư hữu và cũng chưa chỉ ra ý
nghĩa quan niệm về quyền sở hữu của J.Locke trong tác phẩm Khảo luận thứ hai
về chính quyền đối với vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay.
*Nhóm thứ ba: nghiên cứu về vấn đề sở hữu ở Việt Nam:
Tính đa dạng, sự liên kết và tính chất đan xen của các hình thức sở hữu
trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
nay của Lương Minh Cừ đăng trên Tạp chí Triết học số 6 (94), tháng 12 năm

học Mác – Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2009 khi chỉ ra những
biểu hiện tư duy siêu hình, chủ quan duy ý chí, giáo điều và kinh nghiệm chủ
nghĩa trong việc xây dựng, nhận thức, vận dụng các khái niệm, phạm trù triết
học Mác – Lênin ở nước ta thời kỳ trước đổi mới đã cho rằng, Đảng ta đã có sự
đồng nhất, lẫn lộn giữa phạm trù “xã hội xã hội chủ nghĩa” với phạm trù “thời
kỳ quá độ” từ đó dẫn đến quan điểm đồng nhất một loạt các hệ vấn đề khác:
đồng nhất khái niệm cải tạo quan hệ sản xuất với khái niệm xóa bỏ quan hệ sản
xuất, đồng nhất phạm trù quan hệ sản xuất với phạm trù quan hệ về sở hữu tư
liệu sản xuất… Do vậy nên trước thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã tiến
hành xóa bỏ sạch trơn quan hệ sản xuất của xã hội cũ, xóa bỏ sở hữu tư nhân và
xác lập sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là mô hình quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa thuần khiết (như ý).
Hoàng Thị Hạnh với Xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện đặc
thù ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2016, khi nêu ra
những giải pháp về phương diện kinh tế để xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã cho rằng tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, thực
hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, coi các thành
phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là một trong những giải pháp chủ yếu.
Nhìn chung, ở Việt Nam hầu hết các công trình nghiên cứu về triết học J.
Locke nêu trên chỉ giới thiệu tổng quan triết học của J. Locke. Các công trình
nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng triết học của J.Locke nói chung và quan niệm
của ông về quyền sở hữu nói riêng còn khá khiêm tốn, trong số đó có rất ít công
7


trình lớn đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quan niệm của J.Locke về quyền sở
hữu, nếu có chỉ dừng lại ở dạng bài viết đăng trên tạp chí. Các công trình nghiên
cứu về vấn đề sở hữu ở Việt Nam có khá nhiều nhưng chủ yếu nêu nên thực trạng
và giải pháp phát triển vấn đề sở hữu, vai trò của các hình thức sở hữu và các thành

quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu.
+ Phân tích quan niệm của J.Locke về nguồn gốc, bản chất và cách thức
đảm bảo quyền sở hữu của con người trong Khảo luận thứ hai về chính quyền.
+ Ý nghĩa quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu đối với vấn đề sở hữu
ở Việt Nam hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, tác giả luận văn tập trung nghiên
cứu dưới góc độ triết học quan niệm cơ bản của J.Locke về quyền sở hữu trong
Khảo luận thứ hai về chính quyền và ý nghĩa của nó đối với vấn đề sở hữu ở
Việt Nam hiện nay.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Tác giả luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp luận duy vật biện chứng và
phương pháp luận duy vật lịch sử. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp:
phương pháp khái quát hóa và trừu tượng hóa, phương pháp thống nhất lôgic và lịch
sử, phương pháp phân tích và tổng hợp...
9. Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm hai chương, 5 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản
- J. Locke là nhà triết học tiêu biểu của nước Anh thế kỷ XVII, ông đã để
lại cho nhân loại một kho tàng lý luận phong phú qua các tác phẩm tiêu biểu, trong
đó đặc biệt nhất là Khảo luận thứ hai về chính quyền.

9


- Trong Khảo luận thứ hai về chính quyền J. Locke đã đề cập đến các
quyền của con người, trong đó ông cho rằng quyền sở hữu là quan trọng nhất.
- Quan niệm về quyền sở hữu trong Khảo luận thứ hai về chính quyền của

quy mô nhỏ lên sản xuất quy mô lớn. Nền sản xuất công trường thủ công đã dần
thay thế cho nền kinh tế tự nhiên ở các nước ven Địa Trung Hải và nhanh chóng
lan rộng ra các nước Anh, Pháp…
Những phát kiến về địa lý như việc tìm ra châu Mỹ, tìm ra đường hàng hải
vòng quanh châu Phi càng tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển, thị trường
trao đổi hàng hóa giữa các nước được mở rộng. Các nước tư bản phát triển sớm
như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thi nhau tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược
thuộc địa, nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên và để mở rộng thị trường tiêu
thụ hàng hóa của mình.
Đồng thời, với sự phát triển của sản xuất, sự phát triển thương nghiệp và
công nghiệp là sự phân hóa giai cấp trong xã hội châu Âu thời kì này ngày càng
rõ rệt. Lúc này, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai
11


cấp tư sản đang trưởng thành và ngày càng lớn mạnh. Giai cấp nông dân bị địa
chủ phong kiến bóc lột nặng nề, không có ruộng đất, đời sống ngày càng cùng
cực, hàng loạt nông dân đã phải rời bỏ quê hương di cư đến thành phố, trở thành
người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ.
Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ đã làm cho quan hệ sản xuất
phong kiến không còn phù hợp và trở thành “xiềng xích”, kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất, ngăn cản sự phát triển của xã hội. Giai cấp tư sản ngày
càng có vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội nhưng lại không có quyền
lực về chính trị, không chấp nhận được những đạo luật hà khắc của chế độ
phong kiến đã lỗi thời, lạc hậu. Điều đó dẫn đến việc giai cấp tư sản cùng kết
hợp với những giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội đứng lên đấu tranh nhằm xoá
bỏ chế độ phong kiến và thiết lập bình đẳng pháp luật, đảm bảo tự do an ninh cá
nhân và quyền sở hữu tư nhân, bằng cách tạo ra những sự bảo đảm cần thiết về
chính trị và pháp lý. Vì vậy, thời kỳ này đã diễn ra hàng loạt các cuộc cách
mạng tư sản ở các nước như: Hà Lan (1560 – 1570), Anh (1642 – 1648), Pháp

quyền quản lý về hành chính đối với những người sống trong trang viên, lãnh
địa của họ. Ngoài phần đất của địa chủ chiếm làm tư hữu, nước Anh lúc đó vẫn
còn phần ruộng đất công xã như đất hoang, rừng núi, đồng cỏ thuộc quyền sở
hữu chung, tất cả mọi người được sử dụng để chăn nuôi. Để duy trì vị thế kinh tế
của mình giai cấp tư sản Anh càng mở rộng các hoạt động thương nghiệp: cho
vay nặng lãi, thậm chí xâm nhập cả vào lĩnh vực nông nghiệp. Do sự phát triển
của ngành công nghiệp len dạ, nên nghề nuôi cừu ở Anh trở thành nghề đem lại
lợi nhuận cao nhất, để có được lợi nhuận cao nhất, giai cấp tư sản không từ một
thủ đoạn nào để tước đoạt ruộng đất của nông dân. Giai cấp tư sản Anh thu được
nhiều lợi nhuận từ việc tước đoạt ruộng đất, mở rộng thị trường, có tiềm lực
kinh tế ngày càng lớn mạnh nhưng lại dẫn đến một mâu thuẫn mới là họ không
có quyền lực chính trị, do quyền lực chính trị vẫn nằm trong tay các thế lực
phong kiến.

13


Những biến động kinh tế đã kéo theo những biến đổi sâu sắc về mặt xã
hội, trong giai cấp quý tộc Anh có sự phân hóa sâu sắc: Quý tộc cũ đại diện cho
thế lực phong kiến, họ có nhiều đặc quyền đặc lợi nên họ chủ trương bảo vệ
ngôi vua và duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ phong kiến. Trong khi đó
tầng lớp quý tộc mới hình thành – tức quý tộc đã tư sản hóa, có quyền lợi gắn
chặt với giai cấp tư sản, tầng lớp này đại diện cho chế độ Nghị viện, họ là những
người có quyền lực về kinh tế nhưng lại không có quyền lực chính trị. Do vậy,
họ có thái độ thù địch với nhà vua, trở thành tầng lớp tư sản tích cực trong cuộc
đấu tranh chống phong kiến.
Đến giữa thế kỷ XVII, chế độ phong kiến Anh ngày càng trở nên phản
động, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Do sự phát triển của lực
lượng sản xuất, giai cấp tư sản Anh dần dần lớn mạnh, họ mong muốn nhanh
chóng xoá bỏ chế độ phong kiến. Trong lúc đó vua Charles I âm mưu phục hồi

kiến, phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Anh khi chế độ phong kiến
đang suy tàn và chế độ tư sản hình thành và lớn mạnh.
Thời kỳ này kết thúc bằng cuộc cách mạng Vinh quang năm 1688 mà
James II bị trục xuất khỏi nước Anh và vương vị được thay vào William III và
vợ là Mary II, định hình nền quân chủ lập hiến. Có thể nói, cách mạng Vinh
quang đã làm nên một bước ngoặt lịch sử của nước Anh. Thành quả lớn nhất của
cuộc cách mạng Vinh quang chính là ở chỗ nó đã làm thay đổi chính thể nước
Anh, xây dựng ở Anh nền quân chủ lập hiến, chuyển quyền lực từ tay quốc
vương sang tay quý tộc. Vào thời kỳ này, J. Locke là thành viên của “Hiệp hội
hoàng gia Anh”, điều đó tạo điều kiện để ông tham dự tích cực vào sự kiện trên.
J. Locke cho rằng, giữa người bị thống trị và người thống trị tồn tại một quan hệ
“khế ước xã hội”, quyền lực của người thống trị có được là do sự đồng ý của
người bị trị và một khi “khế ước xã hội” bị vi phạm thì người bị thống trị không
có nghĩa vụ phải phục tùng nữa. Chính những quan điểm trên của J. Locke đã
cung cấp những cơ sở lý luận hợp lý cho cuộc cách mạng Vinh quang, mặc dù
khi ông đề xuất tư tưởng này thì cách mạng Vinh quang chưa nổ ra.Thực chất
15


cuộc cách mạng Vinh Quang là sự thoả hiệp giữa giai cấp tư sản đang lên và giai
cấp địa chủ phong kiến đang suy tàn. Những địa chủ đó thường xuất thân từ
những dòng họ quyền quý cũ nhưng lại có xu hướng tư sản hơn là phong kiến.
Vì vậy mà không thể coi sự kiện 1688 là một cuộc cách mạng đúng nghĩa, mà
chỉ là một cuộc chính biến, một sự thoả hiệp của những tập đoàn trong giai cấp
tư sản nhằm thiết lập chế độ quân chủ lập hiến ở Anh.
Những điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội nước Anh thế kỷ XVII đã ảnh
hưởng trực tiếp đến tư tưởng của J. Locke, đặc biệt với sự thoả hiệp của giai cấp
tư sản trong cuộc cách mạng năm 1688 đã để lại dấu ấn lên toàn bộ thế giới quan
của J. Locke, Ph. Ăngghen nhận xét, trong tôn giáo cũng như trong chính trị, J.
Locke là người con của sự thoả hiệp giai cấp năm 1688. Với tư cách là một

đó, chỉ có làm cho các nhà triết học và các chiến sỹ thoát khỏi chế độ tư hữu thì
nhà nước mới có thể có lòng từ thiện. Theo Platon hai tầng lớp trên đó phải
đứng ngoài chế độ tư hữu mới có thể tránh khỏi những sự tham lam, thiên vị, ích
kỷ. Platon còn cho rằng, không những chế độ tư hữu mà ngay cả sở hữu cá nhân
cũng đều không thích hợp với hai tầng lớp trên đó: “Không một người nào trong
bọn họ lại nên có một thứ tài sản nào….Không một người nào trong bọn họ lại
có thể có những nhà ở, nhà ăn mà không ai có thể vào được. Họ cần phải đi đến
nhà ăn tập thể theo từng tập đoàn, họ cần phải sống tập thể” [63, 18]. Platon thấy
rằng, sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, phá hoại tính chỉnh thể và tính
thống nhất của nhà nước, làm cho mọi người bất hoà với nhau. Vì vậy, Platon
chủ trương nhà nước lý tưởng phải xoá bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân. Nhưng
chính ông lại vẫn thừa nhận quyền sở hữu của tầng lớp những người lao động
trực tiếp làm ra của cải vật chất trong xã hội.
Aristotle (384-322 TCN) cho rằng: “không thể hay ít ra khó lòng làm
được điều thiện nếu người ta vô kế khả thi. Vì nhiều hành động đòi hỏi thân
hữu, tiền bạc, ít nhiều quyền hành chính trị làm phương tiện thi hành” [61, 42].
Aristotle đề cao hoạt động tinh thần nhưng không triệt tiêu những giá trị vật
chất, ông “cuồng nhiệt bảo vệ quyền sở hữu cá nhân, bởi ông cho rằng dường
17


như sự thiếu thốn về vật chất, nghèo đói, tự chúng chưa thể sinh ra bạo loạn và
phân tranh. Ông tin vào khả năng màu nhiệm của sở hữu cá nhân sẽ hoà giải và
đoàn kết chặt chẽ mọi thành viên trong xã hội” [56, 70-71]. Aristotle coi một tài
sản cá nhân vừa đủ là một điều kiện đủ để đảm bảo cho cá nhân đó có cuộc sống
hạnh phúc. Ông cho rằng, sở hữu chung sẽ làm cho con người mất đi phẩm
hạnh, nếu như tất cả đều là của chung cho mọi người thì sự quan tâm, chăm lo
của mỗi người đến chúng sẽ không thể bằng được khi chúng là của riêng cá
nhân mỗi người. Theo Aristotle, không phải tự sở hữu cá nhân mà chính sự kiếm
tiền và sở hữu vô độ mới chính là nguyên nhân nảy sinh nhà nước. Ông cho

trong nhà nước của mình, do vậy xã hội lý tưởng của ông không thể gọi là nhà
nước. Bodin coi trọng quyền tư hữu, xem quyền tư hữu là có ý nghĩa quan
trọng nhất. Ông khẳng định quốc vương “có quyền đối với tất cả và chỉ có chúa
là cao hơn ông” song ông không có quyền tự ý bắt thần dân của mình nộp thuế
và xâm phạm đến tài sản cá nhân. Luận điểm này của ông đã phản ánh quan
điểm của giai cấp tư sản thời đó: đấu tranh chống tầng lớp đại phong kiến, giai
cấp tư sản bảo vệ chủ quyền của quốc vương, đồng thời cũng không muốn cho
phép nhà nước phong kiến xâm phạm đến cơ sở tồn tại của mình - sở hữu tư
nhân. Ông cho rằng, quyền sở hữu tư nhân của con người là vô cùng thiêng
liêng, bất khả xâm phạm.
Như vậy, mặc dù dưới hình thức sơ khai, các nhà tư tưởng phương Tây
trước J. Locke đã đề cập đến quan niệm về quyền sở hữu gắn liền với các quyền
khác của con người. Tuy nhiên, trong suốt nhiều thế kỷ trước, khái niệm “sở
hữu” đã được dùng với nghĩa “chiếm giữ”. Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu các quan
niệm đó và từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản Tây Âu
nói chung và giai cấp tư sản Anh nói riêng chống lại đặc quyền, đặc lợi phong
kiến, J. Locke xây dựng quan niệm của mình về quyền con người nói chung và
quyền sở hữu nói riêng.

19


1.3. Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
1.3.1. Thân thế và sự nghiệp của J.Locke
J. Locke sinh ngày 29 tháng 8 năm 1632 ở Wrington, một làng nhỏ ở
Somerset nước Anh. Ông xuất thân trong gia đình thương nhân, cha là luật sư
theo Thanh giáo. Gia đình ông không giàu có nhưng trong thời kỳ cách mạng tư
sản cha ông ủng hộ phái Nghị viện (tư sản) nên ông có điều kiện để học hành
chu đáo. Ngay từ tuổi thơ ấu J. Locke đã được gia đình truyền dạy lối sống giản
dị, đức tính cần cù, tình yêu lao động, điều này đã tác động lớn đến sự hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status