ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRANG
TRẠI NGUYỄN XUÂN DŨNG, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2014 - 2018
Thái Nguyên - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
của người thân trong gia đình. Để đáp lại tình cảm đó, qua đây, em xin bày tỏ
lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều
kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết, em xin chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình của cô giáo hướng dẫn TS. Trần Thị Hoan đã trực tiếp hướng dẫn em
thực hiện thành công khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trang trại Nguyễn Xuân
Dũng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình
thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn
ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 6 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hà
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một kỹ sư chăn nuôi hoặc bác sỹ thú y trong tương lai,
ngoài việc phải trang bị cho mình một lượng kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh
viên cần phải trải qua giai đoạn thực tập thử thách về thực tế. Chính vì vậy
thực tập tốt nghiệp là một trải nghiệm thực tế và đây cũng là một khâu quan
trọng đối với các trường đại học nói chung và trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên nói riêng. Đây là thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố kiến
thức đã học trong nhà trường, áp dụng những kiến thức đã học vào trong thực
tiễn sản xuất để học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, tiếp cận với các phương
Bảng 4.5. Lịch sát trùng trại lợn nái ............................................................. 36
Bảng 4.6. Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21
ngày tuổi nuôi tại trại .................................................................... 37
Bảng 4.7. Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày
tuổi nuôi tại trại ............................................................................ 41
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ............ 43
Bảng 4.9. Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực
tâp tại cơ sở .................................................................................. 42
iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP
: Charoen Pokphand
cs
: Cộng sự
Hb
: Hemoglobin
Nxb
: Nhà xuất bản
P
MỤC LỤC.............................................................................................................. v
Phần 1: MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................ 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề ..................................................... 2
1.2.1. Mục đích ........................................................................................ 2
1.2.2. Yêu cầu .......................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ....................................................................... 3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên .......................................................................... 3
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ............................................................... 3
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập .................................................. 4
2.1.4. Cơ sở vật chất của nơi thực tập ....................................................... 4
2.2. Tổng quan tài liệu ................................................................................. 6
2.2.1. Cơ sở khoa học ............................................................................... 6
2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ........................... 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH........ 22
3.1. Đối tượng ........................................................................................... 22
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .......................................................... 22
3.3. Nội dung thực hiện ............................................................................. 22
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện ............................................... 22
3.4.1. Các chỉ tiêu thực hiện ................................................................... 22
3.4.2. Phương pháp thực hiện ................................................................. 23
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu ............................................................ 25
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................... 26
4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội qua 3 năm ............................................................... 26
vi
kinh tế, ngành chăn nuôi thú y ở nước ta cũng đang từng bước phát triển
nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho xã hội và đóng một vai trò
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một
nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta. Ngành chăn nuôi
lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở
vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm
cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu.
Tuy nhiên, với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng
nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời
tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí... nên vấn đề dịch bệnh có những biến
đổi khó lường, đặc biệt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh
đến 21 ngày tuổi ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của
lợn sau này. Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc,
nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh và sử dụng các loại
kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý để đạt hiệu quả kinh
tế cao.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban nhủ nhiệm
khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên
đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn
con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội”.
2
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục đích
Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội.
tương đối thuận lợi cho nghành chăn nuôi phát triển.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang trại của ông Nguyễn Xuân Dũng được xây dựng năm 2014, là
trang trại gia công của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với quy mô
2000 lợn bố mẹ. Trang trại được xây dựng trên địa bàn xã Khánh Thượng,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trên một quả đồi thuộc thôn Hương Canh với
diện tích gần 5ha.
Xã Khánh Thượng là một xã miền núi nằm ở sườn Tây núi Ba Vì, với
diện tích tự nhiên 2.882,43ha. Cách trung tâm huyện Ba Vì trên 35km, cách
4
trung tâm thành phố Hà Nội 82km. Xã có địa bàn giáp gianh với 2 tỉnh (phía
Đông Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ),
có trục đường giao thông Sơn Tây - Chẹ - Hợp Thịnh - Kỳ Sơn - Hoà Bình đi
qua. Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển
thức ăn cũng như việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa của trại.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập
Trại gồm có:
Chủ trại, quản lý trại, kế toán, bảo vệ: 01 người.
Kỹ sư chính của công ty: 02 người.
Tổ trưởng (1 chuồng đang mang thai, 1 chuồng đẻ): 02 người.
Công nhân: 12 người.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm 2 tổ khác nhau là: tổ
chuồng bầu và tổ chuồng đẻ. Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách
nghiêm túc, đúng quy định của trại.
2.1.4. Cơ sở vật chất của nơi thực tập
Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và hạ tầng đều được quan
tâm và chú trọng.
Trước khu chuồng nuôi lợn của trại là dãy nhà gồm 3 phòng sát trùng tự
động: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ, phòng sát trùng kỹ sư. Tất cả
mọi người khi vào chuồng nuôi đều nhất thiết phải mặc quần áo ngắn và đi
qua phòng sát trùng tự động. Bên trái khu sát trùng là kho chứa thức ăn, bên
phải là nhà ăn trưa cho công nhân và kỹ sư trại.
- Trại được xây dựng trên quả đồi khoảng 5ha với 6 dãy chuồng lớn chạy
dài lợp mái tôn. Mỗi 1 dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ.
Khu chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn trên một khu vực cao, dễ thoát
nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt gồm: 6 chuồng đẻ, 2 chuồng
lợn có chửa, 1 chuồng lợn đực và 2 chuồng cách ly. Chuồng nuôi được xây
dựng theo hướng Đông - Tây, Nam - Bắc đảm bảo thoáng mát về mùa hè và
ấm áp về mùa đông. Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 6 dãy
6
chuồng chạy dài. Trong đó có 3 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2
chuồng nhỏ với 58 ô chuồng sàn. Chuồng lợn có chửa gồm 2 chuồng với kiểu
chuồng cũi sắt. Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và
hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng. Phía đầu chuồng là hệ thống
giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp
kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau
40cm. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa. Mùa đông có hệ
thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại.
Phòng pha tinh của khu chuồng nuôi được trang bị các dụng cụ hiện đại
như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các
dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp tiệt trùng dụng cụ và một số thiết bị khác.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều
được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống
con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để
tạo ra 1kg mỡ.
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Khối lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột non
tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài
ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần. Lúc đầu trọng lượng dạ dày chỉ là 6 - 8g và
chứa được 35 - 50g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợn
con đạt 60 ngày tuổi đã nặng 150g và chứa được 700 - 1000g sữa (Nguyễn
Quang Linh, 2005) [8].
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl
trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.
Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của
lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà
chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh chứa albumin và
globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
8
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không
còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác
dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn
thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ sung
thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do
sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con
trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng
axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng
này gọi là hypohydric. Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ
dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn. Vì HCl tự do có tác
dễ bị chết non.
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não
của lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng
lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).
Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh
dưỡng ngày càng tăng cao. Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần
đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng. Đây là sự mâu
thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn
mẹ. Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng
dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tăng lên.
Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng
hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa.
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên
thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng.
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau
thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ dẫn đến bị còi cọc và tỷ lệ chết
sẽ tăng cao.
10
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng glycogen dự trữ
trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện
tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn
con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn
thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa
Đông đầu mùa Xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương
có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ
khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng. Cho nên 24 giờ sau khi
được bú sữa đầu, hàm lượng
- globulin trong máu lợn con đạt tới
20,3mg/100ml máu. Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và
khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thu globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn.
Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn
trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu). Do đó lợn con cần được bú sữa đầu
càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi
mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó những lợn con không được bú
sữa đầu thường sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.
* Hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [10], hệ vi sinh vật đường ruột
gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn bắt buộc gồm: E.coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E.coli. Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng
E.coli trở lên cường độc gây bệnh. Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn
đồng hành cùng với thức ăn, nước uống, vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus
spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của
lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens,
Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus.
Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng, do vậy chuồng trại có
ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng. Chuồng trại xây dựng đúng kiểu,
12
sinh vật. Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và
đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho
đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng
bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Một số
tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm
kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh.
- Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng
Nhu cầu protein: lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian bú
sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1 phần
nhỏ protein. Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và phát
triển, do vậy nhu cầu về protein rất lớn. Như vậy, trong thức ăn tập ăn của lợn
con cần 20 - 22% protein thô.
Nhu cầu về lipit: trong thời kì bú sữa, nhu cầu về lipit rất thấp vì khả
năng tiêu hóa lipit rất thấp.
Nhu cầu về gluxit: thời kì từ sơ sinh đến cai sữa nguồn năng lượng do
gluxit cung cấp chiếm 70 - 80% do vậy nhu cầu về gluxit cũng rất lớn, ngoài
nguồn có từ sữa (chủ yếu là từ đường lactoza) lúc nhỏ, đến khi tập ăn, ngoài
nguồn từ sữa lợn con được cung cấp qua thức ăn tập ăn.
Nhu cầu về khoáng: khoáng chiếm 4 - 5% khối lượng cơ thể, có 3
nhóm khoáng:
Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S.
Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F.
Siêu vi lượng: acemic, bismus, thủy ngân.
Nhu cầu vitamin: vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham gia vào
một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạo màng tế
bào. Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn cho sinh
trưởng, phát dục và sinh sản.
Nhu cầu về nước: nước chiếm 50 - 60% khối lượng cơ thể, trong máu
nước chiếm 80 - 95%. Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao
đổi chất, nếu mất 20% lượng nước lợn con sẽ chết.
dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt.
15
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung.
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần.
- Bệnh tiêu chảy trên heo con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi
theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14
ngày tuổi (Nagy B, Fekete PZS, 2005) [16].
Triệu chứng:
Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng.
Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa.
Người lợn con bị bẩn do dính phân.
Vú lợn mẹ dính phân lợn con.
●Viêm phổi
Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân
lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thống thức
ăn, cách vận hành: quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều.... Nhằm đưa
ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình
trạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị.
Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng cụ
chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại. Tìm
mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn.
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên
lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp.
Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết
thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm. Bệnh thường lây lan do nhốt chung
với con nhiễm bệnh.
● Viêm khớp
Nguyên nhân:
- Do 1 loại ARN virus sợi đơn thuộc họ Coronavirus gây ra. Với kích
thước thuộc loại khá lớn so với nhiều virus khác từ 27 đến 30 kb. Virus có 2
17
type chính, type 1 thường gây bệnh cho lợn sau cai sữa, type 2 gây bệnh cho
lợn con lợn mẹ và lợn hậu bị.
Khi lợn khỏe mạnh tiếp xúc với các nguồn gây bệnh tiêu chảy cấp
(PED) như: lợn mang mầm bệnh, phân, tinh lợn, vật dụng chăn nuôi có mầm
bệnh, xe tải, con người, nguồn nước…virus sẽ từ các nguồn đó xâm nhập vào
cơ thể lợn chủ yếu thông qua đường tiêu hóa (VietDVM team, 2014) [20].
Triệu chứng:
+ Với lợn con: Tiêu chảy quá nhiều kết hợp với nôn làm cho những lợn
con này mất nước nặng, thân nhiệt giảm làm cho lợn lạnh, nằm chồng lên
nhau và nằm lên bụng lợn mẹ. Phân lợn con màu vàng nhạt chứa sữa chưa
tiêu hóa hết. Chúng sẽ chết trong vòng 3 - 4 ngày do mất nước. Khi chết, xác
gầy kèm lợn các triệu chứng như mắt lõm sâu.
Đồng thời, nếu mổ khám ta sẽ thấy các bệnh tích rất đặc trưng của bệnh
tiêu chảy cấp như:
- Thành ruột rất mỏng, trong suốt và có thể nhìn thấy chất chứa bên
trong do lớp lông nhung trên niêm mạc bị phá hủy và bào mòn.
- Dạ dày có chứa nhiều sữa bị đóng vón.
- Hạch màng treo ruột sưng to.
- Xuất hiện các tia tĩnh mạch sữa song song với tĩnh mạch màng
treo ruột.
+ Với lợn lợn choai hay lợn nái, sức đề kháng cao hơn đồng thời hệ
thống lông rung trên niêm mạc ruột cũng khó bị phá hủy hơn nên tỷ lệ nhiễm
và tỷ lệ chết không cao như lợn con. Những lợn trong hệ tiêu hóa có rất nhiều