LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm
giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo nhà Trường,
lãnh đạo Khoa Cơ bản đã tạo điều kiện cho tác giả về mặt thời gian cũng như sự động
viên giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 19 tháng 6 năm 2017
Tác giả
Lương Xuân Thành
1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức, giai cấp
công nhân ở các nước, nhất là các nước đang phát triển, là một trong những lực lượng
xã hội quan trọng nhất, đang tham gia tích cực vào các chương trình, dự án phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia.
Giai cấp công nhân là một lực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa chung của đất nước. Giai cấp công nhân chính là nền tảng và là cơ sở
chính trị - xã hội vững chắc của Đảng. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh trong
điều kiện hiện nay về thực chất là góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng Đảng,
phát triển kinh tế tạo cơ sở cho giữ vững chế độ, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, giảng dạy học phần những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin. Giai cấp công nhân là 1 nội dung quan trong thuộc chương
VII: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và cách mạng xã hội chủ nghĩa trong học
phần những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tuy nhiên giới hạn của giáo
trình chỉ nêu qua nội dung cơ bản, để hiểu sâu hơn nội dung, đầy đủ hơn còn phải đọc
và hệ thống nhiều tài liệu khác nhau.
2. Mã số đề tài:
3. Chủ nhiệm đề tài: Th.S Lương Xuân Thành
4. Đơn vị chủ trì: Khoa Cơ bản
5. Danh sách cán bộ tham gia:
T
TT
Mã số án
bộ (nếu
có)
Tên cán bộ
tham gia(ghi rõ
chức danh, học
vị)
Đơn vị công tác (ghi rõ
Thực hiện số
Bộ môn, Khoa/Trung tâm, chương, điều,
đơn vị ngoài trường)
mục của báo cáo
6. Thời gian thực hiện được phê duyệt: 06 tháng (từ 3/2017-6/2017)
7. Thời gian kết thúc thực tế: 19/06/2017
8. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
Mục tiêu:
ngữ như: giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công
nhân công nghiệp, giai cấp công nhân hiện đại... Dù khái niệm giai cấp công nhân có
nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa thì theo C.Mác và Ph.Ăngghen giai cấp
công nhân vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản. Đó là:
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất (nghề nghiệp),đó là
những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính
chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản để phân
biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời Trung cổ thay người thợ
trong công trường thủ công. C.Mác viết: Trong công trường thủ công và trong nghề thủ
công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người
công nhân phải phục tùng máy móc Công nhân cũng là phát minh của thời đại mới.
Giống như máy móc vậy ... công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp
hiện đại
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là
những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho
giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của giai cấp
công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đều gọi
giai cấp công nhân dưới chủ nghĩa tư bản là giai cấp vô sản. Ngày nay, với sự phát
6
triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, bộ mặt của chủ nghĩa
tư bản đã có những thay đổi to lớn và đi cùng với nó là sự thay đổi nhất định của giai
cấp công nhân so với trước kia. Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có
những thay đổi to lớn: bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện
công nhân của nền công nghiệp tự động hoá. Giai cấp công nhân hiện nay không chỉ
bao gồm những người lao động trong công nghiệp, trực tiếp tạo ra các giá trị vật chất
cho xã hội mà còn bao gồm những người lao động trong các bộ phận dịch vụ công
nghiệp, gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất. Song, dù cho trình độ kỹ
phải tiến hành cuộc cách mạng không ngừng và triệt để qua hai giai đoạn: Một là, lật
7
đổ giai cấp tư sản giành lấy chính quyền, thiết lập nền chuyên chính cách mạng của
giai cấp công nhân. Hai là, sử dụng chính quyền mới làm công cụ cải tạo xã hội cũ, tập
hợp quần chúng nhân dân lao động xây dựng thành công xã hội mới - xã hội xã hội chủ
nghĩa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
1.2. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ
các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
a. Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa
Xét một cách tổng quát chúng ta có thể khẳng định rằng, địa vị kinh tế - xã hội
của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan vai trò sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân. Bởi vì:
Thứ nhất, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất trong
các bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản. Trong nền sản xuất
hiện đại, giai cấp công nhân vừa là chủ thể trực tiếp, vừa là sản phẩm căn bản nhất của
nền sản xuất đó. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với đại công
nghiệp, còn giai cấp công nhân lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp. Giai
cấp công nhân hiện đại có xu hướng ngày càng được tri thức hóa. Điều này có được là
do yêu cầu khách quan của sự phát triển công nghiệp trong thời đại mà khoa học và
công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Thứ hai, do không có tư liệu sản xuất nên giai cấp công nhân phải bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản và bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư, họ bị lệ
thuộc hoàn toàn trong quá trình phân phối các kết quả lao động của chính mình. Do
vậy, về mặt lợi ích giai cấp công nhân là giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư
sản. Xét về bản chất, họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức,
hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách
mạng, tất cả các giai cấp khác đều là những tầng lớp trung đẳng ... Đó là do giai cấp
công nhân không gắn với tư hữu, do vậy, họ kiên định trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ
nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới
Thứ ba, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc
của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện
đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp
công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu
tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản - là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế - kỹ
thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.
Thứ tư, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế. Giai cấp công nhân ở tất cả các
nước đều có chung một mục đích là giải phóng mình đồng thời giải phóng xã hội khỏi
áp bức bóc lột và họ đều có chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột. Và cũng do yêu
cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi mà
chúng đã liên kết với nhau thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vì vậy mà giai
cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình. Dựa vào đặc
điểm này, C.Mác - Ph.Ăngghen nhấn mạnh: trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô
sản Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại. V.I. Lênin sau này cũng khẳng định: Vô sản tất
cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại.
1.3. Vai trò của Đảng Cộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất hiện một cách khách quan, song, để
biến khả năng khách quan đó thành hiện thực thì phải thông qua những nhân tố chủ
9
quan. Trong những nhân tố chủ quan ấy, việc thành lập ra Đảng Cộng sản trung thành
với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất đảm bảo cho
giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Việt Nam.
b. Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân là cơ sở giai cấp của Đảng Cộng sản, là nguồn bổ sung lực
lượng cho Đảng, nói cách khác Đảng trước hết bao gồm những người ưu tú nhất trong
giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản là đội tiên phong chiến đấu, là lãnh tụ chính trị, là
10
bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Vai trò của đảng đối với giai cấp công
nhân thể hiện ở chỗ: Một là, không có một tổ chức chính trị nào hoạt động được mà lại
không thông qua chính đảng của giai cấp mình. Giai cấp công nhân cũng vậy, họ hoạt
động, làm cách mạng thông qua đội tiên phong của mình, đó là Đảng Cộng sản, đảng
của giai cấp công nhân. Hai là, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp
công nhân cần phải có một chính đảng chính trị vững vàng kiên định, sáng suốt, có
đường lối chiến lược sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của giai cấp hay toàn thể
phong trào. Ba là, với một Đảng Cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng chính
là sự lãnh đạo của giai cấp. Đảng với giai cấp là thống nhất nhưng Đảng có trình độ lý
luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo giai cấp và dân tộc, vì thế không thể lẫn lộn Đảng
với giai cấp.
2. QUAN ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIAI CẤP CÔNG
NHÂN.
2.1. Giai cấp công nhân
Những kết luận của Hồ Chí Minh về vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam là
kết quả của một quá trình quan sát, tìm tòi nghiên cứu ở nhiều nước từ năm 1911, khi
Người ra đi tìm đường cứu nước. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng
Cộng sản Pháp năm 1920 đã nói lên quyết tâm của Người đi theo con đường cách
mạng vô sản để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc. Đối với giai cấp công nhân Việt
Nam, khi được tin 600 thợ nhuộm Chợ Lớn đấu tranh (12-1922) đòi chủ xưởng bảo
đảm quyền lợi cho người lao động, Người đã viết: Khắp nơi giai cấp công nhân cũng
sau đó một phần đã tập hợp lại trong vùng bị tạm chiếm và số lượng công nhân vùng tự
do cũng tăng lên. Còn nhiều quan hệ với nông dân, giai cấp công nhân Việt Nam chưa
được thuần tuý lắm, trình độ học vấn tương đối thấp, nhưng đủ sức lãnh đạo cách mạng
đến thắng lợi.
Sự lãnh đạo của giai cấp công nhân nước ta thông qua đội tiên phong là Đảng
Cộng sản Việt Nam. Để phát huy vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân phải gắn liền
với sự nghiệp xây dựng đảng cách mạng, ngược lại xây dựng đảng cách mạng phải đi
liền với xây dựng giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, đảng cách mạng
phải hiểu rằng phong trào nông dân, cho dù có quy mô to lớn tới đâu đi nữa cũng
không mong gì giành được những thắng lợi quyết định nếu như giai cấp công nhân
không hành động. Do đó, xây dựng đảng chính là xây dựng giai cấp công nhân ngày
càng lớn mạnh để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Giai cấp công nhân là cơ
sở chính trị - xã hội cho sự ra đời của đảng, khi đảng ra đời sẽ được tổ chức, lãnh đạo
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nếu công nhân không có sự lãnh đạo của
Đảng thì không làm cách mạng thành công được, không thắng lợi được. Thông qua
chính đảng của mình giai cấp công nhân tập hợp lực lượng, tổ chức, lãnh đạo phong
trào thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Mặc dù trong bối cảnh lúc bấy giờ vẫn còn nhiều ý kiến nghi ngờ về khả năng
lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam, khi cho rằng: ở Việt Nam không thể thực
hiện cuộc cách mạng vô sản, vì giai cấp công nhân ít về số lượng. Khác với giai cấp
công nhân ở các nước tư bản, ra đời từ nền sản xuất công nghiệp chính quốc, giai cấp
công nhân Việt Nam ra đời từ quá trình xâm lược thuộc địa của đế quốc, sản xuất manh
mún. Trước những băn khoăn đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Lãnh đạo được hay không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người
nhiều ít của giai cấp. Giai cấp công nhân có chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên nền tảng đấu
tranh, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin là Đảng Lao động Việt Nam.
Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và
tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến .
Khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, phải tiến hành xây dựng chế độ
xã hội mới - chủ nghĩa xã hội. Chế độ xã hội mới phải thể hiện được tính ưu việt của
xét vấn đề đó vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam những năm hai mươi của thế
kỷ hai mươi mới thấy đầy đủ giá trị của lý luận và thực tiễn mà Hồ Chí Minh đã cống
hiến cho cách mạng Việt Nam. Sau này, đánh giá về giai cấp công nhân Việt Nam, Hồ
Chí Minh khẳng định: Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất,
luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên
phong và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế, giai cấp công nhân ta tỏ ra là
người lãnh đạo xứng đáng nhất và tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.
CHƯƠNG 2. SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN QUA CÁC
THỜI KỲ ĐẠI HỘI ĐẢNG
2.1. Sự thay đổi nhận thức về giai cấp công nhân qua các thời kỳ đại hội Đảng
thời kỳ trước đổi mới.
trong
13
1. GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN ĐẠI TRÊN THẾ GIỚI ĐÃ CÓ NHIỀU
BIẾN ĐỔI SO VỚI THẾ KỶ XIX
1.1. Về nguồn gốc xuất thân từ đô thị của giai cấp công nhân hiện nay
Giai cấp công nhân thời Mác là giai cấp lao động, làm thuê, bị bóc lột và xuất
thân chủ yếu từ nông dân và nông thôn. Nhưng từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại
đây, xu thế đô thị hóa và đông đảo cư dân đô thị đã bổ sung một lượng lớn vào nguồn
nhân lực của giai cấp công nhân.
Trong những thập niên gần đây, quá trình đô thị hóa trên thế giới có sự khác biệt
khi so với vài thế kỷ trước đây và đang diễn ra với tốc độ cao.
Trước đây, các vùng tụ cư trong lịch sử nhân loại thường ở lưu vực các con sông
lớn, nơi thuận tiện cho canh tác nông nghiệp và có nguồn nước cho sinh hoạt. Ngày
nay, đặc biệt là từ giữa thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện những thành phố lớn trên sa mạc
như LasVegas cùng nhiều đô thị ở Trung Đông… Chúng hầu như được xây dựng và
học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê.... Song hiện nay họ đông
đúc hơn, đa dạng hơn. Đó là nhóm lao động dịch vụ xã hội với hàng nghìn nghề khác
nhau. Xét về cơ cấu xã hội, các nhà nghiên cứu đều thấy sự tăng lên của những nhóm
lao động dịch vụ mới. Họ là những người kết hợp cả lao động chân tay và lao động trí
óc. Trong các quốc gia phát triển đã có sự xuất hiện một cơ cấu xã hội mới với vai trò
mới của trí thức, công nhân tri thức. Piter Druke cho biết: Người làm việc cả bằng tay
lẫn bằng kiến thức lý thuyết đã tạo thành nhóm tăng nhanh nhất trong lực lượng lao
động Mỹ từ 1980. (Thí dụ các kỹ thuật viên máy tính, kỹ thuật viên X quang, nhà vật
lý trị liệu, các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm y khoa..,. Cũng bởi vậy, ở nhiều nước
phát triển hiện nay, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân đã không
còn cơ sở xã hội như thế kỷ XIX và thay vào đó là liên minh giữa những người lao
động mà chủ yếu là hai nhóm ngành lao động đông đảo ở đô thị là sản xuất công
nghiệp và dịch vụ bằng phương thức công nghiệp.
1.2. Đô thị là nơi mà đấu tranh giai cấp hiện đại bộc lộ tính điển hình của
nó.
Ph.Ăng ghen từng viết: Các thành phố lớn là nơi bắt nguồn của phong trào công
nhân: nơi đây công nhân lần đầu tiên đã bắt đầu suy nghĩ về tình cảnh của mình và đấu
tranh để thay đổi nó, nơi đây sự đối lập về lợi ích giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư
sản lần đầu đã biểu lộ ra, nơi đây những liên đoàn lao động, phong trào Hiến chương
và chủ nghĩa xã hội đã ra đời…
Phân hóa sâu sắc của xã hội đô thị hiện nay cũng khiến cho các điểm nóng xã hội,
các cuộc đấu tranh chính trị hiện đại xuất hiện thường xuyên hơn tại các đô thị - đấu
trường của chính trị hiện đại. Cuốn sách Thế kỷ của những cuộc cách mạng 1789 1848 (xuất bản năm 1962 và tái bản 2005) của nhà sử học Eric Hobsbawm nói về vấn
đề đó. Tác giả đã nhận định Phát triển đô thị trong giai đoạn giai đoạn 1789 - 1848 là
một quá trình chia tách giai cấp khổng lồ, đã đẩy những người lao động nghèo vào các
vũng lầy khổng lồ của tình trạng khốn cùng bên ngoài các trung tâm của chính phủ, của
các doanh nghiệp và của các khu dân cư của giai cấp tư sản… Mô tả này tương tự như
quan sát và phân tích của Ph.Ăng ghen về mặt tối của các đô thị công nghiệp trong
Tình cảnh giai cấp công nhân Anh. Và hiện nay thì, Liên hợp quốc nhận định: Quản lý
đô thị đã trở thành một trong những thách thức phát triển quan trọng nhất trong thế kỷ
trí thức vào tầng lớp giai cấp công nhân cho tiện, song khái niệm giai cấp công nhân
hiện đại cũng thật khó bao chứa những nhóm lao động này, nếu không muốn nói tới
nguy cơ là làm tan loãng - xóa nhòa giai cấp công nhân.
Vấn đề khác là, một giai cấp mà có nhiều nhóm, đội ngũ, tầng lớp với các bộ
phận có trình độ giác ngộ khác nhau như vậy, thì sự thống nhất - đoàn kết về ý chí và tổ
chức sẽ diễn ra như thế nào? Đã có tình trạng người lao động công nghiệp mà không tự
coi mình là giai cấp công nhân! Họ coi mình là giai cấp trung lưu, vừa làm thuê lại vừa
hữu sản thông qua chế độ cổ phần… Đã có tình trạng đa nguyên công đoàn ở nhiều
nước và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã thừa nhận như một quyền của người lao
động - quyền tự do nghiệp đoàn.
Sự yếu ớt về chính trị và tổ chức của các đảng cộng sản, sự chia rẽ, phân liệt giữa
các đảng cộng sản và đảng công nhân hiện nay cùng những vấn đề đặt ra từ lợi ích
quốc gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa, liệu có thể là những trở lực từ bên trong
để ngăn cản khẩu hiệu Công nhân toàn thế giới đoàn kết lại để chống giai cấp tư sản và
chủ nghĩa tư bản hay không? Chính những vấn đề khách quan trên đã đặt ra nhu cầu bổ
sung nhận thức mới về giai cấp công nhân, một giai cấp luôn phát triển cùng với sự
phát triển của công nghiệp và cách mạng khoa học và công nghệ.
16
2. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ.
2.1. Giai cấp công nhân Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ XIX đến giữa thế kỹ
XX.
Trước yêu cầu đổi mới tư duy về giai cấp công nhân, một vấn đề đặt ra cần thống
nhất nhận thức là đi tới một khái niệm mới về giai cấp công nhân Việt Nam. Nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý.
Thực tiễn về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đã có những đổi mới và điều đó đòi
hỏi phải có những đổi mới cần thiết trong nội hàm khái niệm giai cấp công nhân. Định
hút tới 6 vạn người, ngành mỏ (năm 1914) có tới 4.000 thợ, đó là chưa kể số thợ theo
17
mùa. Tổng công nhân Việt Nam tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ I có khoảng
10 vạn người.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân thuộc địa
để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công
nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải…. dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh,
công nhân mỏ và công nhân đồn điền nhiều nơi tập trung hàng vạn người. Ở các thành
phố, nhiều nhà máy đã có trên 1.000 công nhân như nhà máy Xi măng Hải Phòng, nhà
máy Dệt Nam Định.
Đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản
Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành
công thương nghiệp. Đó là chưa kể đến những người lao động làm việc ở xí nghiệp thủ
công lớn, nhỏ, thợ may, thợ giặt, bồi bếp….
Trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng và từ khi Đảng ra đời cho đến khi Người
đi xa, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định, luôn luôn làm cho toàn Đảng quán triệt.
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân. Đảng phải giữ vững và tăng
cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Lịch sử dân tộc ta, trước Hồ Chí Minh đã
có nhiều nhà yêu nước đầy nhiệt huyết, nhưng đều không cứu được nước, không giành
được độc lập dân tộc. Khác với các nhà yêu nước đương thời. Hồ Chí Minh đã sớm ý
thức được sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng
sản. Người đã sáng lập ra Đảng ta, giáo dục, rèn luyện Đảng trở thành một Đảng Mác
Lênin chân chính, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đưa cách
mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Xây dựng thành công một Đảng Cộng sản ở một nước vốn là thuộc địa nửa
phong kiến, giai cấp công nhân rất nhỏ bé, giai cấp nông dân chiếm đại đa số, làm cho
mạng của Đảng vẫn được giữ vững. Và chính trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng,
Đảng ta trở thành người lãnh đạo cách mạng, của dân tộc Việt Nam, được toàn thể dân
tộc Việt Nam coi là Đảng của mình, là người lãnh đạo duy nhất của dân tộc mình.
Khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người
đã sớm giáo dục toàn Đảng nguy cơ thoái hóa về bản chất giai cấp công nhân, sa vào tệ
quan liêu hóa, xa rời quần chúng, trở thành tổ chức làm quan vi phạm quyền làm chủ
dân, xa rời mục tiêu cách mạng của Đảng. Người đã chỉ rõ 12 điều về tư cách của Đảng
chân chính cách mạng. Trong 12 điều đó thì điều đầu tiên là Đảng không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ
quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.
Cũng trong tác phẩm này Người đã nhấn mạnh về tính đảng - tức là bản chất giai
cấp công nhân của Đảng. Năm 1951, khi Đảng ra công khai và đổi tên thành Đảng Lao
động Việt Nam, Người khẳng định bản thân giai cấp công nhân của một Đảng cầm
quyền và chỉ rõ trong điều kiện lịch sử mới quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động và của cả dân tộc là một. Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động cho nên Đảng cũng là Đảng của dân tộc. Cũng có
người ngại nói Đảng của dân tộc và sợ trái với bản chất giai cấp công nhân, Đảng luôn
luôn là Đảng của giai cấp công nhân theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân nhưng
khi đã trở thành Đảng cầm quyền, khi Đảng thực sự là người vừa đại diện cho lợi ích
của giai cấp công nhân, vừa đại diện cho lợi ích cả dân tộc, được cả dân tộc thừa nhận
thì việc khẳng định Đảng cũng là Đảng của dân tộc là hoàn toàn đúng. Theo Tư tưởng
Hồ Chí Minh, là Đảng của giai cấp công nhân nên Đảng củng phải đặc biệt chú trọng
đến thành phần công nhân trong công tác đảng viên và công tác cán bộ. Nhưng Đảng
cũng tránh chủ nghĩa thành phần mà hẹp hòi không dám kết nạp và đề bạt những người
ưu tú xuất thân từ các thành phần xã hội khác. Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh
bản chất giai cấp công nhân của Đảng là mọi đảng viên xuất thân từ thành phần nào
cũng phải suy nghĩ và hành động theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Nhưng
Người cũng luôn luôn nhắc nhở toàn Đảng về sự thống nhất lợi ích của Đảng và của
dân tộc. Trong lời khai mạc lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng, Người đã chỉ
rõ Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta
Cuộc cách mạng vô sản đầu tiên sau Cách mạng Tháng Mười thành công đã mở
ra thời đại mới của xã hội loài người. Nhưng từ đó đến nay, đặc biệt là từ sau khi chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ - chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn phải
tiếp tục đấu tranh chống những nhận thức, những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa tiếp
tục phủ nhận vai trò của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò lãnh đạo của chính đảng
của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh là người có công lớn đầu tiên đối với dân tộc ta,
với Đảng ta là về mặt lý luận đã sớm khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công
nhân Việt Nam và sớm sáng lập và xây dựng một đảng tiên phong của giai cấp công
nhân.Trung thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta qua mọi giai đoạn và
mọi thời kỳ cách mạng đều coi trọng xây dựng Đảng mang bản chất giai cấp công
nhân. Để xác định được đường lối đúng, Đảng luôn luôn coi trọng việc giáo dục chủ
nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức, đồng thời xuất phát
đầy đủ từ thực tiễn Việt Nam để vận dụng sáng tạo trên tinh thần độc lập tự chủ, tự lực,
20
tự cường. Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới ở nước ta bắt nguồn từ đường lối đổi mới
đúng đắn, có nguyên tắc của Đảng ta. Cách mạng nước ta đang đứng trước những thời
cơ và thách thức mới. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và khi đã trở
thành Đảng cầm quyền thì Đảng đồng thời cũng là đội tiên phong của cả dân tộc. Bí
quyết thành công đầu tiên của Đảng ta là không ngừng nâng cao trình độ lý luận trong
toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, bám sát thực tiễn để bổ
sung, phát triển và hoàn thiện đường lối theo mục tiêu con đường mà Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã lựa chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Như vậy cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn tới sự ra đời
tất yếu khách quan của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Và, đó
cũng là điều kiện cơ bản làm xuất hiện một giai cấp mới – giai cấp công nhân Việt
Nam với những đặc điểm sau:
Một là, giai cấp công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ nông dân, do bị bần cùng
mạnh mẽ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, sự ra đời của Quốc tế Cộng sản
(Quốc tế III) đã cổ vũ và giúp đỡ về nhiều mặt, để giai cấp công nhân Việt Nam vươn
lên đảm nhận lấy sứ mệnh lịch sử của mình lãnh đạo cách mạng…
Trong thời gian này đảng chưa có bất định nghĩa về giai cấp công nhân, nhưng có
thể hiểu giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành
các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao.
giai cấp công nhân là những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu
sản xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư.
2.2. Giai cấp công nhân Việt Nam vào cuối thế kỷ XX đến nay
Đương nhiên, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, công nhân không còn làm thuê cho
chủ tư bản nữa mà đã trở thành người chủ nhà nước, làm chủ tập thể đối với tư liệu sản
xuất chủ yếu của xã hội, và từ đây khái niệm giai cấp công nhân không còn đồng nhất
với khái niệm vô sản nữa. Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết trước
đây, một số nhà nghiên cứu lý luận cho rằng: Dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp công
nhân không thể gọi là giai cấp vô sản nữa: nó thoát khỏi bóc lột, cùng với toàn thể nhân
dân nó nắm giữ các tư liệu sản xuất, do đó sức lao động của nó không phải là hàng hóa.
Rõ ràng, trong điều kiện chủ nghĩa xã hội xô viết với sự thuần nhất về kinh tế trước
đây, định nghĩa về giai cấp công nhân như trên là đúng đắn. Tuy nhiên, trong điều kiện
chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới hiện nay, với nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên
sự đa dạng về chế độ sở hữu thì cần phải có định nghĩa mới về giai cấp công nhân cho
phù hợp với thực tế mới.
Nếu ở thế kỷ XIX, công nhân hiện đại chủ yếu là công nhân công nghiệp, thì
ngày nay, do khoa học công nghệ phát triển, công nhân công nghiệp có thể giảm đi,
trong khi công nhân ở các ngành phi truyền thống như dịch vụ ngân hàng, tài chính, du
lịch… lại tăng lên nhanh chóng. Bởi vậy, trong bối cảnh đầu thế kỷ XXI hiện nay, việc
kế thừa quan điểm của các nhà kinh điển về định nghĩa giai cấp công nhân rất cần phải
có những sáng tạo mới. Định nghĩa mới về giai cấp công nhân cần khẳng định những
yếu tố bất biến trong quan niệm của các nhà kinh điển về giai cấp công nhân, đồng thời
nhiều nhà nghiên cứu lý luận đã quan tâm đến vấn đề định nghĩa giai cấp công nhân.
Trong công trình Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay, các
tác giả đã đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là giai
cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các
trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội thì tùy thuộc vào chế độ xây dựng
đương thời. Ở các nước tư bản, họ là những người không có hoặc về cơ bản không có
tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị
thặng dư. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động
làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình. Đây là định
nghĩa về giai cấp công nhân nói chung và đã phân biệt rõ người công nhân sau khi cách
mạng thành công không còn là người vô sản như trước vì đã là người làm chủ tư liệu
sản xuất của xã hội. Tuy nhiên ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
tồn tại nề kinh tế nhiều thành phần thì thực tế giai cấp công nhân phong phú và phức
tạp hơn nhiều.
Đối với cách mạng Việt Nam, giai cấp công nhân luôn có một vai trò và vị trí hết
sức quan trọng. Trong các giai đoạn cách mạng trước đây, giai cấp công nhân Việt Nam
không chỉ là giai cấp lãnh đạo cách mạng mà còn là một trong những lực lượng cách
mạng chủ yếu trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm xóa bỏ sự thống
trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, phong kiến giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX gắn liền với quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa của thực
dân Pháp. Ngay từ khi ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã chứng tỏ là giai cấp tiên
tiến. Trong bối cảnh lịch sử dân tộc lúc bấy giờ, khi bàn về giai cấp công nhân Việt
Nam, Hồ Chí Minh cho rằng: chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng
nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng
tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ
ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.
Quán triệt tinh thần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
vào xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, trong suốt quá trình cách mạng Đảng ta
trực tiếp.
Vì vậy, sở hữu vừa là mục tiêu, động lực, vừa là phương tiện, công cụ để đạt được
mục tiêu tổng thể. Do đó, đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế
độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản. Vì vậy, cùng là sở hữu nhưng
sở hữu trong chủ nghĩa xã hội khác sở hữu tư bản chủ nghĩa. Sở hữu của công nhân
trong chủ nghĩa xã hội với tư cách là cách thức tổ chức lao động sản xuất, nhằm huy
động mọi nguồn lực cho sự phát triển của sản xuất.
Trong chủ nghĩa xã hội, sở hữu là để phát huy tinh thần sáng tạo và làm chủ của
công nhân, dùng quyền sở hữu của mình làm giàu cho bản thân, gia đình và đất nước.
Còn trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản lại đem quyền sở hữu đi bóc lột sức lao
động của người khác, nên sở hữu tư sản thành tư bản, vì tư bản là giá trị mang lại giá
trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm không của người lao động: chủ nghĩa cộng sản không
tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ
tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác. Cho nên, khi
nói về công nhân có sở hữu cổ phần ở nước ta không nên đánh đồng với sở hữu tư sản,
24
sở hữu của công nhân trong chủ nghĩa tư bản, không lầm lẫn mục tiêu với công cụ.
Người công nhân có cổ phần chứng tỏ nó đang khẳng định mình để đi tới chỗ thủ tiêu
mình với tư cách là giai cấp vô sản. Vì vậy, giai cấp công nhân nước ta hiện nay có thể
bao gồm cả những người có sở hữu thuộc các hình thức khác nhau mà pháp luật thừa
nhận. Không vì họ có sở hữu mà đưa họ ra ngoài giai cấp công nhân.
Có một thực tế hiện nay, khi mà các đơn vị sản xuất kinh doanh không tồn tại một
cách độc lập và khép kín, mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có nhiều loại hỗn
hợp, đan kết với nhau, xu hướng liên kết, liên doanh ngày càng phát triển cả trong nước
và ngoài nước. Trong mỗi nhà máy, xí nghiệp, công ty, có những dây chuyền sản xuất
và bộ phận liên kết với các đơn vị sản xuất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Những đơn vị sản xuất ấy vừa có mặt ở thành phần kinh tế này, vừa nằm trong thành
nhất định - thông qua chính đảng, nhà nước và các tổ chức của nó. Ở bất cứ xã hội có
25