TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TÔ VŨ AN
TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VÙNG LẶP LẠI THUỘC
ORF94, ORF125 CỦA VIRUS GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG
TRÊN TÔM SÚ (Penaeus monodon)
TẠI CÀ MAU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Th.s TRẦN THỊ TUYẾT HOA
2008
MỤC LỤC
Phần I: Giới thiệu 1
Mục tiêu của đề tài 2
Nội dung nghiên cứu 2
Phần II: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nuôi tôm biển 3
2.1.1Trên thế giới 3
2.1.2 Việt Nam 4
2.1.3 Đồng bằng sông Cửu Long 4
2.1.4 Cà Mau 5
2.2 Tình hình dịch bệnh trong nuôi tôm
6
2.2.1 Trên thế giới 6
2.2.2 Trong nước và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 6
3.5.1.2 Thành phần hóa chất tham gia phản ứng PCR-genotyping 19
3.5.1.3 Đọc kết quả 20
3.5.2 PCR-Genotyping khuếch đại vùng lặp lại thuộc ORF125 21
3.5.2.1 Điều kiện phản ứng 21
3.5.2.2 Thành phần hoá chất tham gia phản ứng PCR-genotyping 21
3.5.2.3 Đọc kết quả 22
Phần IV: Kết quả và thảo luận 23
4.1 Kết quả xác định sự hiện diện của WSSV trong các mẫu tôm 23
4.2 Kết quả phân tích PCR-genotyping 27
4.2.1 Kết quả PCR-genotyping khuyếch đại vùng lặp lại thuộc ORF94. 27
4.2.1.1 Phản ứng PCR-genotyping (ORF94) thực hiện theo qui trình của
Trần Thị Mỹ Duyên, (2006) 27
4.2.1.2 Kết quả phân tích các mẫu WSSV thu tại Cà Mau
(PCR-genotyping-ORF94) 29
4.2.2 Kết quả PCR-genotyping khuyếch đại vùng lặp lại
thuộc ORF125 32
4.2.3 Mối liên hệ giữa số vùng lặp lại thuộc ORF94 và ORF125 35
Phần V: Kết luận và đề xuất 37
5.1 Kết Luận 37
5.2 Đề xuất 37
Phần VI: Tài liệu tham khảo 38
Phần VII: Phụ lục 42
i
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần và nồng độ hoá chất thực hiện phản ứng PCR-
genotyping (ORF94) 20
Bảng 3.2: Thành phần và nồng độ hoá chất thực hiện phản ứng PCR-
genotyping (ORF125) 21
Bảng 4.1: Một vài thông tin về ao nuôi nhiễm WSSV trong các mẫu tôm
tại Cà Mau 26
Bảng 4.2: Cường độ nhiễm của 10 mẫu kiểm tra 28
Bảng 4.3: Kết quả phân tích các nhóm vùng lặp lại thuộc ORF94 trong
các ao tôm thu ở Cà Mau 29
Bảng 4.4: Kết qủa phân tích các nhóm vùng lặp lại thuộc ORF125 trong
các ao tôm thu tại Cà Mau 33
Bảng 4.5: Kết quả PCR-genotyping khuyếch đại vùng lặp lại thuộc
ORF94, ORF125 35
ii
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Tuyết Hoa đã tận tình chỉ dẫn trong suốt quá
trình thực hiện đề tài này.
Chân thành cảm ơn thầy cô Khoa Thủy Sản, các bạn lớp BHTS và NTTS K30 đã
tận tình giúp đở trong suốt quá trình học tập và làm luận văn này.
Xin cảm ơn cha, mẹ, chị, em là một chổ dựa vững chắc cho sự nghiệp và tương lai
của bản thân.
Tác giả
Cà Mau là tỉnh nằm ở tận cùng cực nam của tổ quốc có ba mặt giáp biển và hệ
thống sông ngòi chằng chịt nên rất thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản phát
triển. Từ những đầu thập niên 80 nghề nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau (đặc biệt là
nghề nuôi tôm sú) đã dần dần phát triển với hình thức nuôi quãng canh truyền
thống nhưng năng suất nuôi thấp. Để tăng năng suất thì việc chuyển đổi từ hình
thức nuôi quãng canh truyền thống sang bán thâm canh và thâm canh là rất cần
thiết. Do hiệu quả kinh tế mà nghề nuôi tôm đem lại nên diện tích và sản lượng
tôm nuôi ở Cà Mau không ngừng tăng trong những năm gần đây. Xuất khẩu thủy
sản được xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và trong khu
vực.
Việc thâm canh hóa trong nuôi tôm sú không những tăng năng suất mà còn làm
tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Theo thống kê của Bộ Thủy sản mỗi năm có
hàng nghìn hecta ao nuôi tôm thương phẩm phải thu hoạch sớm do bệnh trong đó
80% là bệnh đốm trắng. Đây là bệnh nguy hiểm chúng có khả năng lây lan nhanh
trong ao và gây thiệt hại lớn (có thể gây chết đến 100% sau 3 - 10 ngày nhiễm
bệnh) mà còn có khả năng lây lan qua các khu vực lân cận qua nguồn nước hay
các loài giáp xác. Nhưng mức độ gây hại của chúng rất khác nhau ở các vùng và
các vụ trong năm (có những ao tôm bị nhiễm đốm trắng thì tôm chết rất nhanh
nhưng cũng có ao nuôi bị nhiễm đốm trắng tôm vẫn phát triển bình thường đến khi
thu hoạch). Vấn đề này cũng có nhiều giả thiết được đặt ra như: điều kiện môi
trường, quản lý và chăm sóc sức khỏe tôm nuôi, tác nhân gây bệnh: sự biến đổi
kiểu gen WSSV. Do vậy,
Đề tài: "Tìm hiểu sự biến đổi của vùng lặp lại thuộc ORF94, ORF125 của
virus gây bệnh đốm trắng trên tôm sú (Penaeus monodon) tại Cà Mau" được
thực hiện.
2 Mục tiêu của đề tài
rất lâu nhưng nuôi tôm công nghiệp chỉ mới xuất hiện ở những năm 30 của thế kỷ
XX ( Nguyễn Văn Hảo, 2003). Nuôi tôm công nghiệp cung cấp hơn 1/3 sản lượng
tôm nuôi, nhưng diện tích chỉ chiếm khoảng 5% tổng diện tích. Từ đó, nuôi tôm
công nghiệp phát triển mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nước.
Nghề nuôi tôm thương phẩm đã nổi lên như một trong các hệ thống sản xuất thực
phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất trên Thế giới và các nước Đông Nam Á và là
nguồn thu ngoại tệ chủ yếu. Đến năm 1980 qui mô và diện tích nuôi tôm biển gia
tăng và phát triển theo hướng ngày càng thâm canh hóa. Thái Lan là nước có sản
lượng tôm đứng đầu thế giới kế đến là Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ,
Bangladesh, Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo, 2003).
Nuôi trồng thủy sản trên Thế giới tăng nhanh trong những năm qua với tốc độ
7,6%, đạt 37,5 triệu tấn vào năm 2001, chiếm 29,1% tổng sản lượng thủy sản (Lê
Xuân Sinh, 2005), đến năm 2003 sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 41,9 triệu
tấn. Sản lượng tôm biển tăng rất nhanh, năm 2000 thì sản lượng tôm biển đạt được
1.087.900 tấn (Lê Xuân Sinh, 2003), đến năm 2002 sản lượng này tăng lên
1.292.000 tấn. Nhưng trước đó sản lượng nuôi tôm trên Thế giới có xu hướng
giảm. Cụ thể, năm 1994 sản lượng tôm biển trên thế giới là 733.000 đến năm 1995
giảm còn 712.000 và tiếp tục giảm còn 693.000 tấn vào năm 1996 đến năm 1997
còn 660.000 tấn (World Shrimp Farming,1997 trích dẫn bởi Lê Xuân Sinh, 2003).
Sản lượng tôm giảm trong những năm này là do dịch bệnh bùng phát và gây thiệt
4
hại ở nhiều nước như Thái lan, Việt Nam (1994- 1996), Peru (1997), các quốc gia
dọc bờ biển Đông và Tây Ấn Độ (1994-1995), Indonesia, Philippines (1996).
2.1.2 Việt Nam
Việt Nam với bờ biển trải dài 3.260 km từ Quảng Ninh đến Cà Mau vòng qua
Kiên Giang nên rất có tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản nước lợ phát triển. Diện
tích nuôi tôm gia tăng nhanh chóng từ 50.000 ha (1985) lên đến 295.000 ha (1998)
với 30 tỉnh nuôi tôm sú và tăng lên 449.275 ha (2001). Đến năm 2004 diện tích
đó có 10.929 ha nuôi thâm canh và bán thâm canh, sản lượng đạt 63.616 tấn (Sở
Thủy Sản Bạc Liêu, 2005)
2.1.4 Cà Mau
Cà Mau là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước mà
chủ yếu là thủy sản nước lợ. Do Cà Mau có ba mặt giáp biển, hệ thống sông ngòi
chằng chịt, nguồn tài nguyên và nguồn lao động dồi dào nên rất thuận lợi cho thủy
sản phát triển. Diện tích và sản lượng nuôi tôm trong những năm 1981 có 14.000
ha đạt 4.500 tấn, năm 1991 tăng lên 60.000 ha, 28.600 tấn, và năm 2000 có tới
153.373 ha với 35.700 tấn (Phùng Văn, 2005)
Năm 2001 có 217.898 ha; năm 2002 có 239.398 ha; năm 2003 có 245.338 ha; năm
2004 có 248.174 ha. Trong diện tích nuôi năm 2004 có các loại hình nuôi chủ yếu
là: tôm-rừng 46.300 ha, tôm-lúa 43.600 ha, tôm-vườn 22.000 ha, nuôi tôm công
nghiệp 580 ha, còn lại là nuôi tôm dạng sinh thái (Phùng Văn, 2005)
Năm 2008, Cà Mau có diện tích nuôi tôm 249.000 ha, gồm 35.000 ha rừng - tôm,
40.000 ha lúa - tôm, 1.000 ha tôm - vườn, 900 ha tôm công nghiệp, còn lại là diện
tích chuyên tôm dạng sinh thái (Nguyễn Tiến Hưng, 2008).
2.2 Tình hình dịch bệnh trong nuôi tôm
2.2.1 Trên thế giới
Phong trào nuôi trồng thủy sản trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ nhất là
nghề nuôi tôm châu Á - Thái Bình Dương vào những năm của thập kỷ 80 và lịch
sử bệnh tôm cũng gắn liền với phong trào nuôi đó. Công nghệ nuôi tôm ở các
6
nước châu Á tuy phát triển mạnh nhưng phải đối phó với vấn đề dịch bệnh và sự
suy thoái của môi trường, đã gây ra nhiều thiệt hại cho người nuôi. Ở Trung Quốc
sản lượng tôm nuôi giảm mạnh khoảng 120.000 tấn trong năm 1993, trong khi đó
ở Đài Loan sản lượng liên tục giảm từ đỉnh cao 88.000 tấn vào năm 1987 xuống
còn 12.000 tấn ở năm 1993. Trong khoảng thời gian từ 1993 - 1995 sản lượng tôm
ở Indonesia và philippines giảm tương ứng 48% và 58% (Nguyễn Văn Hảo, 2003).
Dơi: 4.300 ha và Năm Căn trên 800 ha. Nguyên nhân là do thời tiết diễn biến bất
thường, nhiệt độ dao động ngày đêm chênh lệch nhau, các đầm nuôi bị khô cạn
do nắng nóng kéo dài làm tôm suy yếu, phát sinh dịch bệnh (Tuyết Anh, 2008).
2.3 Ảnh hưởng của bệnh đốm trắng đến nghề nuôi tôm
Năm 1960 đã phát hiện virus gây bệnh trên trên giáp xác, đến năm 1990 xác định
bệnh do virut là trở ngại lớn cho nghề nuôi tôm, đặc biệt là bệnh do virut đốm
trắng. Năm 1992, các ao nuôi thâm canh đã gặp trở ngại về bệnh đốm trắng có hơn
80% số trại bị thất bại tại Indonesia. Năm 1994, bệnh đốm trắng gây tỷ lệ chết cao
và làm tổn thất lớn đến nghề nuôi tôm công nghiệp ở Trung Quốc, Nhật Bản,
Indonesia, Ấn Độ, Đài Loan. Năm 1996 ở Thái Lan dịch bệnh đốm trắng bùng
phát làm thiệt hại khoảng 40% tổng sản lượng, thiệt hại khoảng 500 triệu USD.
Virus gây bệnh đốm trắng WSSV lần đầu tiên được báo cáo ở Nhật vào năm 1993,
nhưng trước đó năm 1989 ở đã có báo cáo sự xuất hiện bệnh đỏ thân trên tôm sú
đây là dấu hiệu đi kèm với đốm trắng. Bệnh này đã làm giảm sản lượng tôm trên
thế giới từ 733.000 tấn năm 1994 còn 712.000 tấn năm 1995, còn 693.000 tấn
1996 đến năm 1997 còn 660.000 tấn (Nguyễn Văn Hảo, 2003). Theo thống kê của
Bộ Thủy Sản mỗi năm có hàng ngàn hecta ao nuôi tôm thương phẩm phải thu
hoạch sớm do bệnh trong đó 80% là bệnh đốm trắng. Năm 2003 Sóc Trăng có
16.346 ha bị thiệt hại hoàn toàn chiếm 40% diện tích, cuối năm 2004 diện tích tôm
nuôi bị mất trắng là 18.231 ha.
8
2.4 Đặc điểm của tác nhân gây bệnh đốm trắng
2.4.1 Tác nhân gây bệnh
Bệnh đốm trắng do virus gây hội chứng đốm trắng WSSV gây ra trên tôm he
(Penaeid). WSSV được tìm thấy ở nhóm tôm he và các loài giáp xác khác: tôm
nước ngọt, cua, tôm hùm, chân chèo và ấu trùng côn trùng. Bệnh được báo cáo
tôm bị bệnh đốm trắng từ ao khác và bay đến ao nuôi đã mang theo các mẫu thừa
và rơi vào ao.
2.4.4 Chẩn đoán
Lightner, (1996) đã đưa ra phương pháp mô học để chẩn đoán bệnh đốm trắng.
Với phương pháp này ta có thể quan sát được thể vùi WSSV phì đại trong nhân
của tế bào bị nhiễm nó bắt màu của thuốc nhuộm Hematoxylin và Eosin.
Dựa trên dấu hiệu đặc trưng là xuất hiện các đốm trắng dưới vỏ. Kết hợp với chẩn
đoán bằng phương pháp mô học: Quan sát nhân của tế bào biểu bì dưới vỏ, tế bào
biểu bì tuyến anten, tế bào cơ quan Lympho, tổ chức liên kết của vỏ, mang, tế bào
biểu bì dạ dày,…Khi nhuộm Hematoxylin và eosin các nhân tế bào có thể vùi lớn
bắt màu đỏ đồng đều. Và sử dụng kỹ thuật PCR và enzyme miễn dịch (Bùi Quang
Tề, 2003).
2.4.5 Phòng ngừa và xử lý bệnh
Hiện nay bệnh đốm trắng chưa có phương pháp nào chữa trị có hiệu quả, do đó để
nuôi tôm có hiệu quả thì việc phòng bệnh phải được quan tâm hàng đầu. Để phòng
bệnh đốm trắng có hiệu quả thì chúng ta phải phòng bệnh tổng hợp (Trần Thị
Tuyết Hoa, 2004), tức là phải làm tốt các khâu từ việc vệ sinh trại, lựa chọn tôm
bố mẹ, chọn giống tốt, cải tạo ao nuôi, xử lý nước, nuôi với mật độ vừa phải, cho
ăn thức ăn có chất lượng tốt, chăm sóc và quản lý sức khoẻ ao nuôi…
10
2.5 Một số nghiên cứu bệnh đốm trắng
Bệnh đốm trắng được báo cáo đầu tiên ở Nhật Bản vào năm 1993 trên tôm nhập từ
Trung Quốc về nuôi (Trần Thị Tuyết Hoa, 2004), cho đến nay bệnh đã xuất hiện
trên khắp thế giới và gây thiệt hại hàng trăm triệu USD/năm chỉ tính riêng ở Châu
Á (Wongteerasupaya et al. 2003). Vì thế có nhiều nghiên cứu được tiến hành
vực Miền Trung và Miền Nam Việt Nam để so sánh các dòng WSSV ở Việt Nam
với dòng WSSV ở Thái Lan (WSSV – TH), Đài Loan (WSSV – TW) và Trung
Quốc (WSSV – CN). Sử dụng các cặp mồi được thiết kế dựa trên đoạn gen của
WSSV thuộc ORF14/15, ORF24/25, ORF75, ORF94, ORF125. Kết quả chứng
minh các dòng WSSV ở việt Nam có cùng nguồn gốc với WSSV – TW (Đài
Loan) và WSSV – TH (Thái Lan) khi sử dụng 2 cặp mồi ORF23/24 và ORF14/15,
và kết quả này cho thấy ORF75 và ORF125 có ý nghĩa quan trọng trong việc
nghiên cứu dịch tể học của bệnh đốm trắng sau này ở Việt Nam. Tran Thi Tuyet
Hoa et al., (2005) sử dụng phương pháp PCR-genotyping khuyếch đại vùng lặp lại
thuộc ORF94 trên các mẫu tôm nuôi và tôm giống ở Việt Nam. Kết quả nghiên
cứu đã xác định được số vùng lặp lại thuộc ORF94 của WSSV trên tôm giống từ 4
đến 8 và trên tôm nuôi là 4 đến 9 trong đó kiểu gen của WSSV có 7 vùng lặp lại
chiếm tỷ lệ cao nhất. Lê Vân Hải Yến, (2006) sử dụng phương pháp PCR-
genotyping khuếch đại vùng lặp lại thuộc ORF94 để xác định số vùng lặp lại của
virus gây bệnh đốm trắng trên 130 mẫu tôm sú thu tại Sóc Trăng, Trà Vinh. Kết
quả nghiên cứu cho thấy WSSV có 5, 7, 8, 9, 12 vùng lặp lại thuộc ORF94 trong
đó kiểu gen có 8 vùng lặp lại chiếm tỷ lệ cao nhất trên 50%. Triệu Thanh Tuấn,
(2006) cũng sử dụng phương pháp PCR-genotyping khuếch đại vùng lặp lại thuộc
ORF94 để xác định số vùng lặp lại của virus gây bệnh đốm trắng trên 169 mẫu
tôm sú có dấu hiệu đốm trắng thu ở Cà Mau, Bạc Liêu. Kết quả nghiên cứu đã
nghi nhận được vùng lặp lại thuộc ORF94 của WSSV có từ 4 đến 16 vùng lặp lại,
trong đó kiểu gen có 5 vùng lặp lại chiếm tỷ lệ cao nhất (48,8% ở Bạc liêu, 68,4%
ở Cà Mau). Pradeep et al., (2007), đã sử dụng ADN ly trích từ tôm hậu ấu trùng,
tôm nuôi có nhiễm WSSV, đồng thời sử dụng cả tôm tự nhiên và cua của Ấn Độ.
Nghiên cứu tìm hiểu sự thay đổi trên các vùng lặp lại của WSSV đã tìm ra trước
12
đây, bao gồm ORF94, ORF125 và ORF75. Đối với ORF94, có 13 kiểu gen được
tìm thấy với số lần lặp lại từ 2 đến 16. Trong đó lặp lại 7 lần chiếm 11,3%, không
là VP19 và VP28. Vacxin chứa VP28 cho thấy tỉ lệ chết của tôm thấp hơn có ý
nghĩa khi so sánh với lô đối chứng (vi khuẩn chỉ chứa vector rổng) thông qua
phương pháp ngâm (tỉ lệ sống 61%), trong khi đó vacxin chứa VP19 không thể
hiện sự bảo vệ nào. Để xác định sự tấn công và thời gian bảo vệ của vacxin, thí
nghiệm cảm nhiễm được thực hiện sau khi sử dụng vacxin 3, 7 và 21 ngày. Tỉ lệ
sống cao hơn có ý nghĩa được quan sát sau khi tôm sử dụng vacxin 3, 7 ngày (64%
và 77%), nhưng sự bảo vệ đã giảm sau 21 ngày (tỉ lệ sống 29%). Trái với những
hiểu biết hiện tại, động vật không xương sống không có hệ thống đáp ứng miễn
dịch nhưng kết quả này cho thấy đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và khả năng bảo vệ
có thể tạo ra ở P. monodon. Các thí nghiệm trên mở ra con đường mới phòng
WSSV mang lợi ích cho công nghiệp nuôi tôm. Hứa Quyết Chiến, (2004) đã
nghiên cứu và sử dụng thành công việc sử dụng chế phẩm SH'99 trong việc phòng
bệnh virut đốm trắng trên tôm sú. Khi cho tôm ăn liên tiếp chế phẩm SH'99 ngay
sau khi thả có thể giúp tôm phòng bệnh đốm trắng. Sarathi et al., (2007) đã sử
dụng vi khuẩn có chứa VP28dsRNA vào trong thức ăn viên cho tôm ăn để làm
giảm khả năng gây hại của WSSV. Có hai phương pháp được thử nghiệm. Phương
pháp thứ nhất là trộn vi khuẩn có chứa VP28dsRNA vào trong thức ăn viên cho
tôm ăn. Phương pháp hai trộn phức hợp mảnh nhỏ VP28dsRNA-chitosan vào
trong thức ăn viên cho tôm ăn. Tôm khoẻ được gây cảm nhiễm bệnh đốm trắng
bằng cách cho ăn tôm bị bệnh đốm trắng. Thí nghiệm được thực hiện trong 30
ngày. Kết quả cho thấy ở những lô tôm nhiễm WSSV có cho ăn dsRNA thì tỉ lệ
sống cao hơn tôm ở lô đối chứng (vi khuẩn chứa véc tơ LITMUS38i không mang
đoạn gen VP28). Tỉ lệ sống của tôm ở nghiệm thức sử dụnh vi khuẩn bất hoạt có
chứa WSSV VP28dsRNA là 68%. Trong khi chỉ có 37% tôm sống sót ở nghiệm
thức sử dụng phức hợp mảnh nhỏ VP28dsRNA-chitosan và 100% tôm chết được
ghi nhận ở nghiệm thức đối chứng. Tôm còn sống cho kết quả xét nghiệm cho âm
tính với WSSV bằng phương pháp PCR và Westnern Blot. Dựa trên kết quả đạt
14
Kỹ thuật PCR được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo Trần Thị Tuyết
Hoa (2004), kỹ thuật PCR được ứng dụng vào các lĩnh vực sau
Trong thủy sản: (i) Phát hiện nhanh các tác nhân gây bệnh ở dạng tiềm ẩn giúp cho
quá trình chọn lọc cá thể thủy sản có chất lượng tốt trong chọn giống và ương
nuôi; (ii) Chẩn đoán bệnh: điều tra nguyên nhân bùng nổ bệnh và cách giải quyết
khi dịch bệnh xảy ra, đồng thời đề ra hướng ngăn chặn sự xuất hiện của dịch bệnh;
(iii) Phòng bệnh và kiểm soát bệnh: kiểm tra tôm giống và tôm bố mẹ ở các trại
giống, kiểm tra tôm nhập khẩu trước khi cho thả nuôi ở các địa phương.
Trong các lĩnh vực khác: (i) Nghiên cứu khoa học: xác định trình tự đoạn ADN
cần nghiên cứu, phát hiện đột biến, nghiên cứu quá trình tiến hóa phân tử, phục
hồi gen tồn tại hàng triệu năm; (ii) Chọn giống vật nuôi và cây trồng từ đó lựa
chọn được những cá thể bố mẹ thuần chủng, sạch bệnh trong thời gian ngắn; (iii)
Y học và khoa học hình sự: áp dụng để chẩn đoán chính xác các bệnh nhiễm trùng
từ vi rút, vi khuẩn, nấm, chẩn đoán sớm ung thư và các bệnh do di truyền, xác định
huyết thống, truy tìm dấu vết tội phạm.
2.6.3 Hạn chế
Theo Đặng Thị Hoàng Oanh (2007) phương pháp PCR có những hạn chế sau.
Phương pháp PCR thừơng không hoạt động với những đoạn DNA lớn hơn 3 kb,
điều kiện tối ưu cho phản ứng phải qua thực nghiệm.
Sự ngoại nhiễm là vấn đề cực kỳ quan trọng, nguồn ngoại nhiễm lớn nhất thường
là các sản phẩm khuếch đại của những lần thao tác trước.
Sự sai sót do Taq polymerase, cứ 10.000 nucleic thì enzyme gắn sai 1 nucleic.
16
PHẦN III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU