một số biện pháp rèn kỹ năng giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 4 - Pdf 54

1. Phần mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Ở cấp Tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển
những cơ sở ban đầu, rất quan trọng trong việc phát triển nhân cách con người Việt
Nam. Đặc biệt là môn Toán có một vị trí hết sức quan trọng, bởi vì: Các kiến thức, kỹ
năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống. Chúng rất cần thiết
cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị
cho việc học tốt môn Toán ở bậc Trung học.
Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng
không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có được phương pháp nhận
thức một số mặt của thế giới xung quanh, biết cách hoạt động có hiệu quả trong học
tập và trong đời sống. Môn toán ở trường Tiểu học giúp học sinh có những tri thức cơ
sở, nền tảng về toán học. Rèn luyện khả năng tính toán, suy luận, đồng thời góp phần
rèn luyện các phẩm chất đạo đức ở mỗi học sinh. Môn Toán góp phần rất quan trọng
trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề. Góp
phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, khả năng ứng xử và
giải quyết những tình huống nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống; nhờ đó mà
hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực, phẩm chất. Phát triển năng lực trí
tuệ: khái quát, trừu tượng hoá, tư duy lô gic, tư duy biện chứng, óc phân tích, tổng
hợp, giáo dục kỹ năng sống, đạo đức và óc thẩm mỹ cho học sinh.
Trong môn toán ở bậc Tiểu học, giải toán có lời văn có một vị trí hết sức quan
trọng, trong các mạch kiến thức. Các bài toán được sử dụng để gợi động cơ tìm hiểu
kiến thức mới, giải toán được sử dụng để củng cố, luyện tập kiến thức; giải toán giúp
cho việc nâng cao năng lực tư duy của học sinh.
Các bài toán có lời văn có nội dung tổng hợp, để giải được học sinh cần nắm
bắt các kiến thức cơ bản về số học, đo lường, hình học ... Trong chương trình sách
giáo khoa các bài toán có lời văn thường yêu cầu học sinh phải vận dụng nhiều kiến
thức để giải. Toán có lời văn đa số là nội dung liên quan đến thực tế vì vậy khi giải
các bài toán này học sinh được mở rộng thêm kiến thức các môn học khác. Giải toán
có lời văn giúp học sinh phát triển cách suy luận, sáng tạo chứ không đơn thuần chỉ
là tính toán.

1.2. Điểm mới của đề tài:
- Thông qua việc tìm hiểu cấu tạo chương trình, sách giáo khoa toán 4, quy
trình giảng dạy các bài toán về “Giải toán có lời văn”, khảo sát thực trạng đề xuất
một số biện pháp giúp giáo viên lập kế hoạch bài dạy, lựa chọn phương pháp dạy học
2


phù hợp đối tượng học sinh lớp 4 theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Tổ
chức lớp học theo nhóm, phát huy tính tích cực chủ động phát hiện kiến thức mới.
Đồng thời giúp học sinh xác định đúng dạng toán, biết các bước giải và giải thành
thạo các bài toán có lời văn, biết tự kiểm tra đánh giá kết quả của mình.
- Thực hiện một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải bài toán có lời
văn nói riêng và học tốt môn toán nói chung.
1.3 Phạm vi áp dụng đề tài
Đề tài này áp dụng giảng dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 ở trường
tiểu học.
2. Phần nội dung
2.1. Thực trạng về giải bài toán có lời văn
Trong quá trình dạy học nhất là khi dạy về toán có lời văn cho học sinh lớp 4
tôi nhận thấy một số thực trạng sau:
- Học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm
của đề toán không chịu phân tích đề toán khi đọc đề.
- Đa số học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán.
Học sinh chưa xác định các kiểu tóm tắt đề toán khác nhau phụ thuộc vào từng dạng
bài cụ thể. Kỹ năng nhận dạng Toán, nắm chắc các bước giải từng dạng chưa rõ ràng
- Học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán phức
tạp. Hầu hết, các em làm theo khuân mẫu của những dạng bài cụ thể mà các em
thường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút
các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ.
- Chưa biết lập kế hoạch giải bài toán.

- Lời giải của học sinh nhiều khi chưa phù hợp, ăn khớp với sơ đồ đã vẽ ở
những học sinh trung bình và yếu. Một số giáo viên nói nhiều chiếm mất thời gian
nên lúc học sinh luyện tập còn rất ít thời gian. Một số giáo viên còn lúng túng khi áp
dụng các phương pháp vào quá trình dạy học và phần lớn dựa vào hướng dẫn của
sách giáo viên dẫn đến hiệu quả đạt được trong dạy học chưa cao.
- Giáo viên chưa chú trọng nhiều vào việc phân tích hướng dẫn học sinh cách
sử dụng sơ đồ khi giải toán. Việc hướng dẫn của giáo viên chỉ phù hợp với học sinh
từ trung bình khá trở lên. Những em có học lực yếu hơn một chút thì hầu như gặp
khó khăn khi giải loại toán này. Vướng mắc của các em là chưa hiểu được thấu đáo
về các dữ kiện bài toán đề toán. Các em hiểu một cách máy móc, nên khi tóm tắt bài
toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nhưng lời giải lại sai, không ăn khớp hoặc chưa biết cách
4


vẽ sơ đồ đoạn thẳng. Nguyên nhân sai sót trên là do giáo viên chưa đưa ra hệ thống
câu hỏi chi tiết để khai thác nội dung bài cho học sinh.
- Giáo viên còn ôm đồm kiến thức, sợ học sinh không hiểu nên nói nhiều,
giảng nhiều. Có giáo viên chưa khắc sâu kiến thức cho học sinh hiểu và nhận dạng
được dạng toán.
- Một số phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến học tập của con em mình,
một số học sinh không chuẩn bị bài trước ở nhà và không thực sự tích cực, tự giác
trong học tập.
Năm học 2018 - 2019 tôi được phân công dạy lớp 4 với 28 học sinh. Khi mới
học chương trình lớp 4 được bốn tuần tôi đã tiến hành khảo sát năng lực giải bài toán
có lời văn của học sinh:
Kết quả như sau (chỉ riêng phần giải toán)
Học sinh được đánh giá: 28 em
Mức độ giải được bài toán có lời văn
Giải thành
Giải được nhưng còn chậm,

làm việc khoa học của toán học, cộng với tính thực tiễn cao, các tri thức và kĩ năng
toán học trở thành công cụ để học tập các môn học khác. Không những thế mà toán
học còn là công cụ của các môn khoa học khác, công cụ của các hoạt động trong đời
sống. Vì lẽ đó, nó trở thành một thành phần không thể thiếu của nền văn hóa phổ
thông.
5


Một điều đặc biệt có ý nghĩa đối với đời sống con người là toán học góp phần to
lớn trong việc tạo nhân cách con người. Thông qua quá trình học, người học sẽ được
rèn các phẩm chất trí tuệ chung: phân tích, tổng hợp, đánh giá... Các đức tính cần cù,
sáng tạo, độc lập suy nghĩ là đức tính được rèn qua học tập môn toán.
2.2.1.2. Các nhiệm vụ của môn Toán
Do môn Toán ở tiểu học có vị trí đặc biệt như trên nên có các nhiệm vụ sau:
- Truyền thụ những tri thức toán học và những kỹ năng vận dụng toán học vào
thực tiễn.
- Phát triển năng lực trí tuệ: khái quát, trừu tượng hoá, tư duy lô gích, tư duy
biện chứng, óc phân tích, tổng hợp.
- Giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và óc thẩm mỹ.
- Bảo đảm chất lượng phổ cập, đồng thời chủ động phát hiện và bồi dưỡng học
sinh năng khiếu về toán.
2.2.1.3. Mục tiêu giảng dạy các bài toán dạng "Giải toán có lời văn”
- Dạy học sinh giải các bài toán có lời văn cho học sinh tiểu học chiếm một vị
trí hết sức quan trọng, là một phần trong chương trình Toán lớp 4. Trong giải toán
học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động vốn hiểu biết và tích
hợp các kiến thức, kĩ năng đã có vào trong các tình huống khác nhau, trường hợp
riêng biệt phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra rõ ràng
và trong chừng mực nào đó phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo.
- Việc giảng dạy giúp học sinh hiểu:
+ Biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ.

- Thiết kế trò chơi học tập.
- Hoạt động ứng dụng.
- Đánh giá, nhận xét thường xuyên học sinh.
Khi lập kế hoạch, tôi viết ngắn gọn để thuận tiện khi sử dụng ở trên lớp. Kế
hoạch bài học phải bao gồm mục tiêu cần đạt của học sinh, đồ dùng, phương pháp,
các hoạt động dạy học và triển khai các hoạt động đó để các đối tượng học sinh đều
đạt được mục tiêu của bài học theo khả năng, năng lực của mình.
Ví dụ: Khi dạy bài Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó (trang 47
sách Toán 4)
+ Tôi xác định mục tiêu bài học này là giúp học sinh thực hiện giải bài toán
Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó bằng hai cách:
- Cách 1: Số bé = (Tổng – hiệu) : 2 ;

Số lớn = số bé + hiệu

- Cách 2: Số lớn = (Tổng + hiệu) : 2 ;
7

Số bé = số lớn – hiệu


+ Với bài học này có thể sử dụng một số đồ dùng dạy học như: bảng phụ,
phiếu học nhóm.
+ Để bài dạy có hiệu quả, giúp học sinh nắm được kiến thức và vận dụng thực
hành tốt, tôi áp dụng nhiều hình thức dạy học khác nhau như: tổ chức hoạt động cá
nhân, hoạt động nhóm, hoạt động lớp, tổ chức các trò chơi học tập ...
+ Để tiết học được sinh động, tạo không khí vui vẻ cho học sinh vào bài mới,
tôi tổ chức cho các em khởi động bằng một trò chơi nhỏ “Hái hoa tặng quà”. Một vài
em xung phong lên hái hoa, trong mỗi bông hoa là một món quà (câu hỏi ôn kiến
thức bài cũ hoặc một món quà tinh thần).

bản của bài toán. Việc tóm tắt đề toán có thể thực hiện bằng sơ đồ, bằng hình vẽ,
hoặc ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn. Khi tóm tắt đề cần gạt bỏ tất cả những gì là thứ
yếu, lặt vặt trong đề toán và hướng sự tập trung của học sinh vào những điểm chính
yếu của bài toán, tìm cách biểu thị cô đọng nhất nội dung bài toán.
Đây là dạng diễn đạt ngắn gọn đề toán, tóm tắt đúng sẽ giúp cho học sinh có
cách giải dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. Nhìn vào tóm tắt là định ra các bước giải bài
toán.
Có 4 cách tóm tắt đề toán:
- Cách 1: Tóm tắt bài toán bằng lời:
Trong cách tóm tắt này, người ta thường viết tắt các giá trị của một số lượng các
từ, chữ rồi ghi lại các dữ kiện của bài toán thành các phép tính cộng trừ, nhân, chia
với những từ, chữ ấy.
Ví dụ : Bài toán: Một người bán hàng lần đầu bán 5 quả táo và 6 quả cam giá
7500 đồng; lần thứ hai bán 2 quả cam và 3 quả táo hết 3000 đồng. Tính giá tiền mỗi
quả?
Với dạng này thì ta có thể tóm tắt như sau:

5 táo 6 cam : 7500 đồng
2 táo 3 cam : 3000 đồng

Tóm tắt như vậy để hướng học sinh giải theo phương pháp khử hoặc thế.
- Cách 2: Dưới dạng sơ đồ đoạn thẳng
Đây là cách tóm tắt đề thường được sử dụng nhất khi giải toán có lời văn ở tiểu
học. Cách tóm tắt này giúp học sinh dễ hiểu đề hơn và biết cách giải bài toán.
Muốn rèn luyện tốt cho học sinh kĩ năng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng cần
làm quen với cách biểu thị một số quan hệ sau:
+ Các phép tính:
+ Quan hệ "lớn hơn hay kém hơn một số đơn vị".
9


tìm hai số biết tổng (hiệu) và tỉ số ... thì bước vẽ sơ đồ đoạn thẳng cũng là một bước
giải bài toán đó. Hay khi giải các bài toán suy luận logic thì vẽ sơ đồ cũng là một
cách giải hữu hiệu. Ví dụ:
Bài toán: Trong một cuộc thi học sinh giỏi, 4 em Xuân (X), Hạ (H), Thu (T),
Đông (Đ) chiếm các giải nhất, nhì, ba, tư. Để biết ai chiếm giải nào, người ta có
những câu trả lời khác nhau:

T chiếm giải nhất, H giải nhì. (1)
T chiếm giải nhì, Đ giải ba. (2)
X chiếm giải nhì, Đ giải tư. (3)

Hỏi mỗi em đã chiếm giải nào ? Biết trong mỗi câu trả lời chỉ có một phần là
đúng, phần kia là sai.

Vẽ đoạn thẳng nối em học sinh với giải đạt được nét liền là đúng, nét đứt là sai
X

I

X

I

H

II

H

II

Đối với dạng toán tính chu vi , diện tích các hình tôi thường hướng dẫn học
sinh tóm tắt bài toán dưới dạng hình vẽ.
Ví dụ: Bài toán 4: Một mảnh đất trồng hoa hình bình hành có độ dài đáy là 40 dm,
chiều cao là 25 dm. Tính diện tích mảnh đất đó? (Trang 105 SGK toán 4)

25dm

40dm
- Cách 4: Tóm tắt bằng kí hiệu
Ví dụ: Bài toán: Một rổ cam có 12 quả. Hỏi
quả cam? (SGK trang 135 toán 4)
? quả

11

2
số cam trong rổ là bao nhiêu
3


12 quả
Tuỳ vào dạng toán mà tôi hướng dẫn cho các em cách tóm tắt phù hợp
Khi tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc hình vẽ cần phải đảm bảo tính cân đối,
chính xác.
Ở những dạng toán học sinh mới gặp lần đầu, giáo viên có thể làm mẫu tóm
tắt. Sau đó nên gợi ý, hướng dẫn học sinh tự mình tóm tắt đề toán thì tốt hơn.
Dựa vào tóm tắt giáo viên cho học sinh nhắc lại ngắn gọn đề toán (đúng nội
dung) mà không cần đúng nguyên văn.
Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải
Bước phân tích đề toán để tìm ra cách giải là bước quan trọng nhất trong quá

tính được gì? (tổng hai số); Bài toán còn cho biết gì nữa? (hiệu hai số là 32); Vậy ta
đưa bài toán về dạng nào đã học? (tìm hai số biết tổng và hiệu)?
Suy nghĩ theo cách kết hợp giữa đường lối tổng hợp và phân tích:
Ví dụ: Bài toán: Một người đi xe đạp trong 3 giờ. Giờ thứ nhất đi được 12km,
giờ thứ hai đi được 18km, giờ thứ ba đi được bằng nửa quãng đường của hai giờ đầu.
Hỏi trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu km?
Ta có thể suy nghĩ bài toán này theo hướng:
Bài toán yêu cầu gì? (tìm trung bình mỗi giờ đi được bao nhiêu km).
Muốn tìm được trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu ki-lô-mét ta
phải tìm gì? (phải tìm được giờ thứ ba người đó đi được bao nhiêu ki-lô-mét).
Bài toán cho biết gì? (quãng đường người đó đi trong giờ thứ nhất và giờ thứ
hai). Quãng đường đi trong giờ thứ ba biết chưa? (chưa). Vậy ta phải tìm gì? (Quãng
đường đi trong giờ thứ ba).
Như vậy là ta thấy hai quá trình suy nghĩ gặp nhau ở chỗ đều phải tìm
quãng đường người đó đi trong giờ thứ ba. Và đó cũng là bước then chốt để giải bài
toán này.
Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải
13


Sau khi học sinh đã tìm được cách giải bài toán bằng phương pháp phân tích,
lập sơ đồ giải toán, thì việc trình bày bài giải không phải là bước khó khăn lắm đối
với các em. Tuy vậy cũng cần hướng dẫn cho các em bết viết lời giải và trình bày bài
giải một cách khoa học rõ ràng, chính xác và đầy đủ theo phương pháp tổng hợp,
ngược với phương pháp phân tích để tìm lời giải.
Khi đã tiến hành các bước trên, bây giờ là lúc hướng dẫn học sinh trình bày bài
giải một cách đầy đủ. Đây là bước khá quan trọng vì nó rèn luyện cho học sinh khả
năng trình bày bài toán một cách khoa học từ các câu lời giải và các phép tính. Ở
bước này cần lưu ý học sinh các câu lời giải phải ngắn gọn, đủ ý và phù hợp với phép
tính.


Ngoài cách trên còn có nhiều cách thử lại khác như:
- Xét tính hợp lí của đáp số.
- Thử lại bằng phương pháp giải theo cách khác. Nếu như bài toán còn cách

giải khác thì yêu cầu học sinh giải lại và so sánh với kết quả của cách giải vừa trình
bày. Trong trường hợp này mà tất cả các cách giải đều dẫn tới cùng một đáp số thì
đáp số đó là đúng.
- Thử lại bằng cách thay đáp số vào đầu bài để tính lại xem có phù hợp hay
không. Coi đáp số tìm được là số đã biết và một trong những số đã cho là chưa biết.
Nếu tìm thấy đáp số của bài toán ngược này đúng bằng số đã cho coi là chưa biết ấy
thì bài toán đã được giải đúng.
- Xem kết quả có phù hợp với thực tế không, so sánh với các bài toán tương
tự...
Việc hình thành thói quen thử lại bài sau khi giải là hết sức quan trọng nhất là
khi giải các bài toán khó và có nhiều bước giải. Bên cạnh đó cũng rèn cho học sinh
tính cẩn thận khi làm bài.
Trong quá trình giải thì ở bước 2 và 3 là vô cùng quan trọng, bởi nó chính là
tiền đề, yếu tố quyết định việc đi đúng hướng giải theo yêu cầu. Vấn đề này tôi
thường xuyên quan tâm.
Trong tất cả các bước trên, hầu hết các hoạt động đều được làm trên giấy nháp
hoặc nghĩ thầm trong đầu, chỉ riêng việc viết bài giải là học sinh phải làm vào bài tập
mà thôi.
Tuy nhiên, xác định cụ thể những bước đi cơ bản cho việc giải toán như vậy,
nhưng không hẳn trong giải toán, lúc nào học sinh cũng phải tuân theo đầy đủ các
bước như trên. Các em có thể lướt qua những bước mà các em đã nhuần nhuyễn với
những bài toán đơn giản để rút ngắn thời gian giải toán. Song, nếu nắm vững các
15



16


Nhóm trưởng còn là người biết tổng hợp kết quả bài làm của bạn trong nhóm và báo
cáo kết quả học tập. Ngoài ra tôi thường cho các em đổi vị trí nhóm trưởng, động
viên, khuyến khích kịp thời để các em tiếp thu chậm khỏi tự ti, biết thể hiện mình
trước tập thể và cố gắng học tốt.
Việc hoạt động nhóm dưới sự dẫn dắt, định hướng của giáo viên sẽ giúp cho
giờ học Toán vốn khô khan nay sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn người học hơn. Vân
dụng các phương pháp này đem đến cho người học một bầu không khí thoải mái, học
sinh tự do phát triển sở thích, suy nghĩ, ý tưởng cá nhân cũng như cá tính sáng tạo
của bản thân. Những kiến thức đó đích thực là của các em, do các em tìm ra và giúp
nhớ lâu. Hoạt động dạy học này cũng sẽ góp phần không nhỏ trong việc hình thành
nhân cách, ý thức tự tin trong cuộc sống của các em.
Tôi luôn tận dụng và sử dụng một cách triệt để các đồ dùng và trang thiết bị
dạy học không chỉ trong quá trình dạy học mà còn đóng góp một phần không nhỏ
trong việc giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành. Với đối tượng học sinh chưa hoàn
thành khả năng tư duy trừu tượng thấp do đó cần tăng cường, hỗ trợ các em về khả
năng tư duy bằng hình ảnh, bằng âm thanh … bằng trực quan sinh động sẽ giúp các
em tiếp thu bài tốt hơn, hiệu quả hơn.
Đối với học sinh khá giỏi, tôi hướng dẫn học sinh khai thác triệt để bài toán,
giúp các em nắm bài một cách sâu sắc và từ bài toán đó các em rút ra được kinh
nghiệm, cũng như phương pháp giải một dạng toán cụ thể nào đó. Chẳng hạn khuyến
khích các em tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án giải toán tốt nhất, làm thế
nào đủ để sau khi làm xong bài toán học sinh luôn tự đặt câu hỏi: Có thể giải bài toán
bằng cách nào khác không? Từ bài toán có thể rút ra nhận xét gì? Từ bài toán này có
thể đặt ra được những bài toán nào? Có những cách giải nào? ... Đây là một cách rất
tốt để học sinh tự rèn luyện cho mình năng lực suy nghĩ độc lập và linh hoạt, trí
thông minh và óc sáng tạo...
2.2.5. Giải pháp 5: Tăng cường đánh giá, nhận xét trong quá trình học tập, rèn

vở cho bạn để kiểm tra.
Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn , tôi tập trung nghiên cứu bài dạy, đưa ra
các bài toán có lời văn khó hướng dẫn học sinh để tổ cùng nhau thảo luận .
Ngoài ra, bản thân là người đứng trên bục giảng phải tâm huyết với nghề
nghiệp, nghiên cứu kĩ chương trình mục tiêu từng bài dạy, trau dồi kiến thức, kĩ năng,
học hỏi, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, đọc tham khảo các tài liệu có liên quan,
chuẩn bị bài tốt trước khi lên lớp. Một điều không thể thiếu được là phải hiểu tâm lí
18


học sinh, thực sự thương yêu các em. Nếu chúng ta làm tốt các điều đó, chắc chắn
chúng ta sẽ thành công trong sự nghiệp trồng người.
Sau đây tôi xin trình bày bài soạn minh họa cho hình thức bài dạy Giải toán có
lời văn cho học sinh lớp 4. Bài Luyện tập
TOÁN:

LUYỆN TẬP

I.Mục tiêu :
- Thực hiện được phép chia cho số có hai chữ số.Giải bài toán có lời văn.
- HS cả lớp hoàn thành bài 1(dòng1, 2), bài 2.
- Giáo dục hs yêu môn toán và cẩn thận khi tính toán.
- Năng lực: Khả năng tư duy, tính toán chính xác, hợp tác nhóm.
* HSKT: Làm được bài 1(dòng1), bài 2
II Chuẩn bi :

Bảng nhóm

III Các hoạt động chủ yếu .
A. Hoạt động cơ bản.

15
315

35136 18
171
1952
093
036
0
18408 52
0280
354
208
0

b) 4674 82
0574 57
00

Bài 2:
Em cùng bạn đọc bài toán, phân tích và tóm tắt bài toán .
Tóm tắt:
25 viên gạch: 1m2
1050 viên gạch:……m2 ?
- Việc 1: Cá nhân tự giải vào vở nháp
- Việc 2: Em cùng bạn chia sẻ kết quả bài giải
- Trình bày trước lớp bài giải.
*Giúp đỡ em Quý làm bài
Đánh giá:
20

khi còn nhầm lẫn
Số
19
9
0
lượng
Tỉ lệ
67,8%
32,2%
0%
Trong cuối học kì 1, với phương pháp dạy học như trên, tôi đã thấy rõ sự tiến bộ ở
học sinh trong việc giải toán. Cụ thể qua bảng so sánh sau:

Loại

Bµi
kiÓm
tra 1

Bµi
kiÓm
tra 2
21

Tăng

Tỉ lệ

Giảm



21.4%

So với kết quả đã khảo sát lần 1 tôi thấy sự tiến bộ của học sinh tăng lên rõ rệt.
Với bất kỳ đối tượng học sinh nào, khi các em đã xác định được dạng toán và
xác định rõ những bước giải phù hợp với từng dạng toán đó, các em sẽ không lúng
túng, ngỡ ngàng trước một bài toán giải mới. Hơn thế ở các em học sinh khá giỏi ý
thức ham học, yêu thích môn toán được nâng lên rõ rệt. Các em có nhu cầu học toán
và giải toán nhất là các bài toán có lời văn.
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Là giáo viên tiểu học, khi tôi nghiên cứu đề tài này không nằm ngoài mục đích
đổi mới phương pháp dạy nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh. Để từ đó giúp
các em khám phá, tiếp thu và vận dụng kiến thức trong thực tiễn cuộc sống góp phần
nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học. Chúng tôi tin rằng sẽ có thêm hành trang
vững chắc trong sự nghiệp “trồng người” của bản thân và là một tài liệu tham khảo
hữu ích cho bạn bè đồng nghiệp sau này trong quá trình giảng dạy tại các trường tiểu
học. Góp phần đào tạo ra những thế hệ học sinh, sáng tạo, năng động trong tư duy
học tập và lao động.
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng, với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã rút
ra một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 giải toán có lời văn như sau:
- Giáo viên nắm chắc nội dung chương trình và phương pháp dạy giải toán có
lời văn cho học sinh lớp 4.
- Sử dụng sách giáo khoa và sách giáo viên, bài tự soạn phải phù hợp với đối
tượng học sinh.
- Lựa chọn một số hoạt động cần thiết nhất khi xây dựng kế hoạch dạy học.
-Phải chuẩn bị bài dạy một cách chu đáo trước khi lên lớp đặc biệt là hệ thống
câu hỏi phải phù hợp với đối tượng học sinh.
22


vụ.
23


- Thc hin tt bi dng tay ngh thụng qua d gi, thm lp ca ng
nghip kp thi phỏt hin, un nn nhng nhc im trong ging dy. trờn c s
ú phỏt huy tớnh t giỏc, t ch phn u vn lờn ca mi giỏo viờn.
ngi giỏo viờn cú th thc hin tt nhim v chc nng ca mỡnh trong
yờu cu i mi giỏo dc cn nhiu yu t nh: tõm huyt vi ngh nghip, lũng yờu
ngh, mn tr, tinh thn hc hi, nghiờn cu, tip thu cỏc phng phỏp, cụng ngh
mi trong dy hc... ũi hi nh giỏo chỳng ta luụn nghiờn cu v hc tp khụng
ngng.
im mi ca ti: Thụng qua vic tỡm hiu cu to chng trỡnh, sỏch giỏo
khoa toỏn 4, quy trỡnh ging dy cỏc bi toỏn v Gii toỏn cú li vn, kho sỏt thc
trng xut mt s bin phỏp giỳp giỏo viờn lp k hoch bi dy, la chn phng
phỏp dy hc phự hp i tng hc sinh lp 4 theo mụ hỡnh VNEN. T chc lp
hc theo nhúm, phỏt huy tớnh tớch cc ch ng phỏt hin kin thc mi. ng thi
giỳp hc sinh xỏc nh ỳng dng toỏn, bit túm tt bi toỏn v gii thnh tho cỏc
bi toỏn cú li vn.
3.2. Nhng kin nghi, xut
Mi giỏo viờn, mun dy tt c tit v gii toỏn cú li vn bờn cnh nhng
iu kin tt nh: Giỏo viờn v hc sinh phi nm c v trớ, nhim v, mc ớch
ging dy, cu to chng trỡnh v sỏch giỏo khoa , t tng tỡnh cm tt, kin thc
sõu v nm chc v toỏn hc, ngoi ra giỏo viờn nm vng phng phỏp l ht sc
quan trng.
Trờn õy l mt s gii phỏp m tụi tìm tòi, suy nghĩ v ó s dng
trong cụng tỏc dy hc gii bi toỏn cú li vn cho hc sinh lp 4, bc y ó mang
li hiu qu trong dy hc. Song trong quỏ trỡnh nghiờn cu, tỡm hiu khụng th
trỏnh khi nhng khim khuyt. Tụi mong c s gúp ý, b sung ca tt c cỏc
ng nghip ti c hon thin hn, ỏp dng rng rói hn, góp phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status