Viêm màng não mũ trẻ em - Pdf 54

Viêm màng não mũ trẻ em
VIÊM MÀNG NÃO MỦ TRẺ EM
Mục tiêu
1. Xác định được các vi khuẩn thường gặp gây VMNM theo lứa tuổi của trẻ .
2. Nhận biết được các dấu hiệu cơ năng và thực thể Hội chứng não -màng não trẻ em
3. Phân tích được kết quả của dịch não tũy .
4. Đánh giá, phân loại, chuyển viện được các trường hợp bệnh nghi ngờ Viêm màng não tại
tuyến y tế cơ sở theo chương trình IMCI, và chẩn đoán được Viêm màng não mủ ở tuyến trên
.
5. Ra quyết định điều trị chống phù não, chống co giật, chọn lựa kháng sinh thích hợp
6. Theo dõi, phát hiện, chẩn đoán và ra quyết định điều trị được các biến chứng sớm và muộn
của bệnh VMNM. Hướng dẫn được cách phòng bệnh và theo dõi sau khi trẻ ra viện .
Viêm màng não mủ là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn xảy ra tại não- màng não,
là một cấp cứu thường gặp trong nhi khoa và nguy hiểm ở trẻ em cần được chẩn đoán và xử
trí kịp thời.
1. Dịch tễ học
Viêm màng não mủ chiếm 1/3 trường hợp viêm màng não, trên thế giới cũng như ở Việt nam,
tỷ lệ mắc bệnh VMNM ở trẻ em vẫn còn khá cao. Theo trung tâm kiểm soát bệnh truyền
nhiễm ở Hoa kỳ từ 1981-1991, tỷ lệ bị VMNM hang năm là 1.1/100.000 dân, ước tính 2.600
trường hợp/năm. Tại Việt Nam, theo Phạm thị Sửu (Viện nhi Hà Nội) từ 1996-1999 có 162
trường hợp, tỷ lệ tử vong 16,9%, tỷ lệ di chứng 7,74%, theo Lê thanh Bình (BVTƯ Huế) từ
1999-2001có 65 trường hợp, tỷ lệ tử vong 9%, tỷ lệ di chứng 11%, không có sự khác biệt giữa
nam và nử, nông thôn bị bệnh cao hơn thành phố, dưới 1 tuổi chiếm 67,7%, nguyên nhân
hàng đầu là H .Influenzae 35,3%, thứ đến là não mô cầu 18,4%, phế cầu 9,2%, không tìm thấy
vi trùng 36,8%. Hiện nay ở Mỹ nhờ chủng ngừa vaccin H .Influenzae nên VMNM chủ yếu là
phế cầu và não mô cầu, tần suất phế cầu hằng năm là 1-3/100.000 dân.
Tần suất mắc bệnh còn khá phổ biến, tỷ lệ tử vong, các bién chứng và di chứng tâm thần kinh
còn nặng nề do đó bệnh cần được chẩn đoán sớm, xử trí kịp thời và tích cực để hạn chế tử
vong các biến chứng và di chứng.
2. Tác nhân gây bệnh
Các vi khuẩn gây VMNM thay đổi tùy theo từng thời kỳ, tùy theo từng vùng địa lý, từng

2.2.3 Chấn thương đầu
- Vỡ sọ kín : phế cầu, liên cầu nhóm A, trực trùng Gram (-).
- Vỡ sọ hở hoặc mổ sọ : Tụ cầu vàng, trực trùng Gram (-).
2.2.4 Bệnh tiềm ẩn
- Tiểu đường : phế cầu, trực trùng Gram (-), Staphylococcus.
- Leucémie : phế cầu, Gram (-).
- Trẻ suy dinh dưỡng, điều trị corticoides: M. tuberculosis, Cryptococcus.
- Cắt lách : phế cầu, Haemophilus.
- Van tim nhân tạo : Staphylococcus aureus hoặc S. epidermidis.
3. Bệnh sinh viêm màng não mủ
3.1 Giải Phẩu Bệnh
Phản ứng viêm ở màng nuôi, màng nhện và dịch não tủy làm cho màng não dày ra, xung
quanh các tĩnh mạch, dọc theo chiều cong của não bộ, theo các khuyết sâu của các rãnh,
quanh tiểu não. Các cấu trúc cạnh màng não cũng có thể có những thay đổi bệnh lý như viêm
tắc tĩnh mạch võ não, ở các động mạch màng nuôi có thể tạo thành mạch lựu và tắc mạch.
Nhờ có màng nuôi chắn ngang nên vi khuẩn không xâm nhập trực tiếp vào mô não. Tuy nhiên
phần não và các tổ chức tiếp cận màng não vẫn bị ảnh hưởng, sung huyết và phù nề. Những
biến đổi bệnh lý thường gặp là tràn dịch dưới màng cứng vô trùng, viêm động mạch não, viêm
tắc tĩnh mạch vỏ não, viêm tắc mao mạch ở lớp vỏ tiếp cận với màng não viêm.
Tủy sống cũng có thể chứa mủ. Mủ thường hiện diện trong khoang dưới nhện, nhiều nhất là
phần đáy và khoảng gần tiểu não, sau đó lan ra ở 2 rãnh trên não.
Thành não thất cũng có thể chứa mủ, mất lớp tế bào phủ mặt trong não thất.
Tổn thương dây thần kinh sọ xảy ra nơi tích tụ nhiều dịch viêm. Thần kinh III và VI tổn
thương do chèn ép thùy thái dương do thoát vị lều, hậu quả của tăng áp nội sọ. Dây III và VI
còn có thể bị liệt do huyết khối xoang hang nhiễm trùng.
Phù não, tăng áp nội sọ trong viêm màng não mủ là do :
- Do chết tế bào (phù não do gây độc tế bào).
- Do tăng tính thấm mao mạch do chất Cytokine (phù não do nguồn gốc mạch máu).
- Do gia tăng áp lực thủy tĩnh (phù não kẻ), do tắc nghẽn tái hấp thu DNT.
- Do tăng tiết ADH bất thường và gây ứ nước quá mức.

một số chất trung gian gây viêm khác với Cytokin.
Với sự hiện diện của các chất trung gian viêm này, phản ứng viêm tiếp tục xảy ra : thấm nhập
bạch cầu đa nhân, tăng tính thấm mạch máu, tổn thương hàng rào mạch máu - não và huyết
khối mạch máu. Sau khi NNT đã sạch vi khuẩn, một phản ứng viêm khác tiếp tục xảy ra mà
nguyên nhân là do các chất Cytokin thừa thải đã được tiết ra mà người ta cho rằng di chứng
của viêm màng não mủ là do tình trạng viêm mãn tính này.
Tăng protein NNT một phần là do tăng tính thấm của hàng rào mạch máu não, một phần là do
mất chất dịch giàu albumin từ các mao mạch và tĩnh mạch đi ngang qua khoang dưới màng
cứng. Vào giai đoạn sau của viêm màng não mủ, hiện tượng thấm dịch này sẽ gây ra tràn dịch
dưới màng cứng.
Glucose NNT giảm là do màng não bị viêm gây giảm vận chuyển glucose và do tăng nhu cầu
sử dụng glucose của tổ chức não.
3.2.1 Yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho sự xâm nhập của vi khuẩn qua màng não
- Có nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus hoặc nhiễm trùng phổi do Pneumococcus.
- Vi khuẩn có ái tính với màng não một khi đã lan tràn vào máu (H. influenzae, phế cầu và
não mô cầu).
- Tổn thương màng chắn máu - dịch não tủy để vi khuẩn vào đến khoang dưới màng nhện do
chấn thương sọ não kín, hở gây hủy hoại tình trạng dinh dưỡng tại chổ.
3.2.2 Các yếu tố có nguy cơ gây viêm màng não mủ
- Yếu tố vật chủ : thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải, nam mắc bệnh nhiều hơn nữ.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mắc bệnh nhiều hơn trẻ lớn. Trẻ bị cắt lách dễ bị viêm màng não mủ do
phế cầu, H. influenzae týp b và trực trùng gram (-). Trẻ bị thiếu máu hồng cầu hình liềm và bị
bệnh lý huyết sắc tố Hb bị viêm màng não mủ do phế cầu và H. influenzae b. Trẻ thiếu bổ thể
C5 - C8 dễ bị viêm màng não do não mô cầu. Bệnh lý bổ thể dễ bị viêm màng não mủ do
Salmonella. Bệnh ác tính hệ võng nội mô dễ bị viêm màng não do các vi khuẩn có độc lực
thấp và ít đe dọa ở những trẻ này.
- Yếu tố gen : H. influenzae gây viêm màng não mủ cao hơn ở một số chủng tộc. HLA B12 dễ
bị viêm màng não mủ hơn so với HLA BW40. Chậm đáp ứng kháng thể IgG so với kháng
nguyên vỏ polysaccharide type b dễ bị mắc viêm màng não mủ.
62

4.3 Các dấu hiệu có nguy cơ trầm trọng
4.3.1. Rối loạn huyết động ngoại biên
- Nhợt nhạt, xanh xao, nhiễm độc.
- Lạnh đầu chi, tím tái đầu chi, vã mồ hôi.
- Kéo dài thời gian vi tuần hoàn da (bình thường < 3 giây).
4.3.2. Rối loạn huyết động trung tâm
- Mạch nhanh (phụ thuộc một phần tuổi của trẻ và tình trạng sốt).
- Thở gấp thở nhanh.
- Đái ít.
- Hạ huyết áp (dấu hiệu muộn).
4.3.3. Rối loạn thần kinh giao cảm
- Nhiệt độ không ổn định, hạ thân nhiệt.
- Rối loạn nhịp thở, có cơn ngưng thở.
4.3.4. Hiện diện của ban xuất huyết dạng hình sao (viêm mao mạch nhiễm trùng) thường là do
não mô cầu.
- Nhẹ : chấm xuất huyết đỏ, dạng hình sao, rải rác trên da, tiến triển hoại tử.
- Nặng : xuất hiện nhanh, kích thước lớn, lan tỏa nhiều, nhanh.
4.4 Các dấu hiệu hoặc thương tổn có thể kết hợp với viêm màng não mủ
- Sốt kéo dài trên 10 ngày sau điều trị gặp 15% do H. influenzae, 9% do phế cầu. Hoặc là triệu
chứng của tràn dịch, tràn mủ dưới màng cứng, viêm tĩnh mạch, viêm phổi, viêm khớp, viêm
màng ngoài tim, nhiễm trùng tại bệnh viện hoặc do kháng sinh.
63
Viêm màng não mủ trẻ em
- Chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết hình sao gợi ý cho chẩn đoán não mô cầu. Tử ban
kèm hạ thân nhiệt và choáng thường do CIVD và có ý nghĩa tiên lượng xấu.
- Co giật : co giật trước khi vào viện hoặc 1 hoặc 2 ngày sau khi vào viện xuất hiện khoảng 20
- 30% trường hợp. Co giật toàn thể thường không mang ý nghĩa tiên lượng xấu. Trái lại trẻ co
giật cục bộ chắc sẽ có di chứng thần kinh nhiều hơn. Co giật xuất hiện muộn trong quá trình
điều trị là do tổn thương não, tràn dịch dưới màng cứng, nghẽn mạch và hình thành áp-xe.
Cần tiến hành các thăm dò thích hợp để chẩn đoán.

mang tính đặc hiệu và thường khó phân biệt với các triệu chứng nhiễm khuẩn ở màng não do
virus hoặc các bệnh khác có sốt cao. Một thay đổi trong tình cảm hay tình trạng tỉnh táo của
trẻ là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của viêm màng não. Cổ cứng (dấu Kernig và
Brudzinski ), co giật, thóp phồng và hôn mê ít thấy hơn ở lứa tuổi còn bú và thường là triệu
chứng muộn, song đủ mang tính đặc trưng để chẩn đoán là VMN.
Thường là khó đối với một người thầy thuốc phải nhận biết một bệnh nhi viêm màng não
trong số rất nhiều trẻ còn bú và trẻ em đến khám vì một bệnh có sốt cao. Năng lực phân biệt
trường hợp viêm màng não với các trường hợp khác là kết quả tích lũy kinh nghiệm trong
việc xử lý các bệnh trẻ em. Không có gì thay thế được tính nhạy bén lâm sàng trong việc nhận
biết và chẩn đoán mau lẹ viêm màng não ở trẻ còn bú và trẻ em.
Tuy vậy về mặt cộng đồng một số các tình huống sau cần nghi ngờ VMNM :
Sốt cao + co giật
Sốt + bỏ bú
64
64


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status