ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
NÔNG THÁI HÒA
NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG
KHUẨN CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC TẠI XÃ HOÀNG NÔNG,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý Tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2014 - 2018
THÁI NGUYÊN - 2018
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thu Hiền
THÁI NGUYÊN - 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình điều tra
trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên tài liệu nào.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Thái Nguyên, 17 tháng 6 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu.
(Ký, ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, sau 5 tháng thực tập em đã hoàn thành khóa luận tốt
bệnh ................................................................................................. 28
Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu .................... 32
Bảng 4.2. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ........................... 33
Bảng 4.3. So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1)
với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2) ................. 34
Bảng 4.4. Thống kê các chi có nhiều loài được sử dụng làm thuốc ............... 36
Bảng 4.5. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu... 37
Bảng 4.6. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực
nghiên cứu ....................................................................................... 39
Bảng 4.7. Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc của trong
cộng đồng dân tộc Dao và Nùng tại khu vực nghiên cứu ............... 41
Bảng 4.8. Đa dạng tần số các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc trong cộng
đồng dân tộc Dao và Nùng ở khu vực nghiên cứu ......................... 42
Bảng 4.9. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể ................. 43
Bảng 4.10. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực
nghiên cứu ....................................................................................... 44
Bảng 4.11. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Râu mèo và cây
Trứng quốc ............................................................................... 46
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài .......................... 29
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ các dạng sống của nguồn cây ở khu vực nghiên cứu 38
Hình 4.2. Hình ảnh một số dạng sống của nguồn cây thuốc tại khu vực
nghiên cứu ....................................................................................... 38
Hình 4.3. Biểu đồ sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống của nguồn cây
thuốc ở khu vực nghiên cứu ............................................................ 40
Hình 4.4. Hình ảnh hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết ............................... 46
Khoa học & công nghệ
L
Lá
Lp
Dây leo
Me
Cây gỗ trung bình
Mi
Cây gỗ nhỏ
Na
Cây bụi
NCTN & MT
Nghiên cứu tài nguyên & môi trường
NĐ - CP
Nghị định Chính phủ
Vườn quốc gia
Vs
Sống ven sông ven suối
Vu
Sống ở vườn
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ .............................................................. iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... v
MỤC LỤC ........................................................................................................ vi
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghía khoa học .................................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiến ..................................................................................... 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu...................................................... 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ..................................... 4
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................... 47
5.1. Kết luận .................................................................................................... 47
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài
nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc
thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần Thúy
và cộng sự, 2005) [21]. Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về
điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng
đồng dân tộc đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức dân gian về
kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh.
Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong mỗi
dân tộc, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho con
cháu đời sau, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trải qua thời gian, các bài thuốc
có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe người
dân của cộng đồng mình và những dân tộc xung quanh. Vì vậy, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn tri thức y
học dân gian được tiến hành và mang lại giá trị khoa học và thực tiễn. Tuy
nhiên, hiện nay nhiều loài cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có
nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều và
vấn đề bảo tồn cây thuốc còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân
khác nhau như: chiến tranh, quá trình đô thị hóa hay tác động của kinh tế thị
nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã
Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá
trị cao được cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh.
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện
có ở khu vực nghiên cứu.
3
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghía khoa học
- Xác định được tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng
đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên.
- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá
trị cao tại khu vực nghiên cứu.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiến
Kết quả của đề tài sẽ là một trong những cơ sở thực tiễn để đề xuất biện
pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc
thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử dụng
người Neanderthal có 8 loài cây thuốc (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65].
Đóng góp quan trọng về mô tả cây thuốc đã được thực hiện bởi
Dioscorides, một bác sĩ trong quân đội La Mã đã viết “De materia medica”
trong khoảng những năm tác giả 60 tuổi. Bộ sách này được viết bằng tiếng Hy
Lạp mô tả nguồn gốc, đặc điểm và công dụng của khoảng 500 loài thực vật và
quy trình sử dụng 1.000 loại thuốc đơn giản (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65].
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho
mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được
các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới:
Ở Châu Á:
Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri thức
bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa dạng, đã
có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực khác nhau như:
Sanjay Kr Uniyal và cộng sự (2006) [55] khi nghiên cứu về sử dụng kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc giữa các cộng đồng của vùng Chho Bhangal, phía
Tây dãy Hymalaya đã tìm thấy 35 loài thực vật thường được người dân địa
phương sử dụng trong việc chữa các bệnh khác nhau.
Yanchun Liu và cộng sự (2009) [61], đã ghi nhận và thu thập 68 loài cây
thuốc trong 64 chi thuộc 40 họ được người Tây Tạng sử dụng để chữa các
bệnh khác nhau.
Manju Panghal và cộng sự (2010) [45] khi nghiên cứu kiến thức bản địa
về cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quận
Jhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họ
được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu này
6
cây thuốc được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họ
Fabaceae.
gia (VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật
thuộc 168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác
nhau như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các
vết cắt vết thương.
Dol Luitel và cộng sự (2014) [37] khi nghiên cứu cây thuốc được sử
dụng bởi cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal
đã tìm thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử
dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau.
Ở Châu Âu:
Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân gian
bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép lại và thông qua
truyền miệng qua nhiều thế kỉ (Evidence-Based Complementary và cộng sự,
2012) [64]. Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về việc sử dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dân bản
địa được thực hiện:
Joana Camejo – Rodrigues và cộng sự (2014) [44] khi nghiên cứu về
thực vật học của cây thuốc trong công viên tự nhiên của Sera de Saox
Mamede, Bồ Đào Nha đã cung cấp thông tin của 165 loài thực vật được sử
dụng để điều trị các bệnh khác nhau.
Maria Leporatti và cộng sự (2007) [46] khi nghiên cứu về một số công
dụng của cây thuốc trong khu vực Alto Tirreno Cosentino, Calabria, miền
Nam nước Ý đã chỉ ra 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người dân sử dụng
để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô hấp,
đau răng, sâu răng và đau thấp khớp.
Montse Parada và cộng sự (2009) [52] nghiên cứu thực vật dân tộc của
khu vực Alt Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia đã tìm thấy trên 518 loài
thực vật thuộc 335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh
khác nhau.
9
Cecilia Almeida và cộng sự (2006) [35] nghiên cứu cây thuốc phổ biến
được sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc
Brazil đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử
dụng để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim
mạch, bệnh thận, viêm và an thần.
Gabriele Volpato và cộng sự (2009) [39] nghiên cứu sử dụng cây thuốc
của người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba đã chỉ ra
123 loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti sử dụng để
điều trị các bệnh khác nhau.
Gaia Luziatelli và cộng sự (2010) [40] nghiên cứu cây thuốc của cộng
đồng Ashaninka (một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo
Quimiriki, Junin, Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng
để điều trị các loại bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu
thuộc các họ: Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và
Piperaceae.
Yadav Uprety và cộng sự (2012) [60] nghiên cứu sử dụng cây thuốc
trong rừng phương Bắc của Canada đã điều tra và thống kê 546 loài cây thuốc
được sử dụng bởi những người thổ dân của rừng phương bắc Canada, các loại
cây thuốc này được sử dụng để điều trị 28 bệnh và triệu chứng rối loạn khác
nhau, trong đó các cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh rối loạn dạ dày –
ruột, rối loạn cơ xương là chủ yếu.
Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo
León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91
họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ
được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón
và cộng sự, 2014) [38].
họ Asteraceae (David J Simbo, 2010) [36].
“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc
của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài cây
thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các
11
bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn
và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cộng sự, 2011) [29].
“Nghiên cứu cây thuốc của Otwal và Ngãi ở quận Oyam, Bắc Uganda”,
đã chỉ ra 71 loài thực vật thuộc 41 họ được người dân địa phương sử dụng để
điều trị các loại bệnh khác nhau, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là họ
Asteraceae (Maud M Kamatenesi và cộng sự, 2011) [47].
Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển
Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc
được sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi
nhận 8 loài được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng
trong khi sinh, các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan
đến tình dục như bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cộng sự,
2013) [48].
Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng
đồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài cây
thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng để
điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cộng sự, 2014) [34].
Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền bởi
những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia, đã thống kê được 49
loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều trị
các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [32].
Ở Châu Úc:
dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong sử
sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y Nguyễn
Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm nước
Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung
Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21].
Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và bán các
loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện dược liệu, 1993) [27].
13
Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế hoạch
tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc
ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để cung cấp
cho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Nổi bật ở thời này là nhà sư Tuệ Tĩnh
(Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh thuốc
Nam”. Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân không
lấy tiền và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư nước
Việt dùng thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh cho
nhân dân với phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đã
truyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức,
1997) [9]. Thời kỳ nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộ
trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện,
có lương y chăm lo việc chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt
phòng và chống dịch bệnh cho nhân dân. Trong giai đoạn này có làng thuốc
ở thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển
(Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21].
Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 – 1791)
đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo” nội
dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm
tính hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc. Công trình
nghiên cứu của Crévót, Pétélot. Pétélot đã cho xuất bản bộ “Catalogue des
produits de L’Indochine” (1928 – 1935), trong đó tập V (Produits
medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có
hoa. Năm 1952, tác giả đã cho bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes de
médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập và thống kê
được 1.482 vị thuốc thảo mộc ở ba nước Đông Dương (Lê Thị Thanh Hương,
2007) [12].
Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được những
thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe
15
của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn. Chỉ thị số 210
TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như sau:
“Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động vật. Có
nhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới. Dược liệu ở nước ta chẳng những là cơ
sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong nền y học hiện
đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây thuốc Nam, thuốc
Bắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá trị,… phải coi trọng
dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi, 1996) [5].
Vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở nước
ta được quan tâm nhiều hơn. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và
phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách
“Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên
soạn năm 1957 và đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập.
Trong đó, tác giả đã mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc
nam (Nguyễn Tập, 2007) [15]. Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và
trrong những năm từ 1962 – 1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc
về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm
tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian gia
truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [13]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương
thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [1] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên
khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [2]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược”
(Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006) [8]; “Cây có vị thuốc ở Việt Nam”
do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006) [11];
“cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cộng sự (2000) [16]
đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình nghiên
cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như:
Đặng Quang Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái
ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác
nhau (Đặng Quang Châu, 2011) [4]. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khi
điều tra các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu