LUẬN ÁN TRIẾT HỌC TRI THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ SỰ

TRÍ THỨC VÀ VAI TRÕ CỦA TRÍ THỨC
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

LU N ÁN TI N S TRI T HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ SỰ

TRÍ THỨC VÀ VAI TRÕ CỦA TRÍ THỨC
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành

: CNDVBC&CNDVLS

Mã số

: 92.29.002

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................3
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu .............................................3
5. Những đóng góp mới của luận án ...........................................................................3
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án .....................................................................3
7. Kết cấu của luận án ...................................................................................................4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Đ N ĐỀ TÀI LU N ÁN...........................................................................................5
1.1. Các công trình nghiên cứu về trí thức và vai trò của trí thức...............................5
1.1.1. Về trí thức..........................................................................................................5
1.1.2. Về vai trò của trí thức......................................................................................12
1.2. Các công trình, đề tài nghiên cứu về thực trạng trí thức Việt Nam và thực
trạng việc thực hiện vai trò của trí thức Việt Nam hiện nay .....................................18
1.3. Các công trình, đề tài nghiên cứu về giải pháp xây dựng và phát huy vai trò
của trí thức trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay..................................22
1.4. Đánh giá tổng quát và những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết.................34
1.4.1. Đánh giá tổng quát các nghiên cứu đã thực hiện ............................................34
1.4.2. Các vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết .........................................................36
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LU N CHUNG VỀ TRÍ THỨC VÀ
VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
HIỆN NAY ...............................................................................................................37
2.1. Quan niệm về trí thức và đặc điểm của trí thức .................................................37
2.1.1. Quan niệm về trí thức ......................................................................................37


iii
2.1.2. Đặc điểm cơ bản của trí thức Việt Nam ..........................................................44
2.2. Quan niệm về vai trò của trí thức trong sự phát triển của Việt Nam hiện nay ..48
2.2.1. Vai trò của trí thức trong lĩnh vực chính trị ....................................................49
2.2.2. Vai trò của trí thức trong lĩnh vực kinh tế .......................................................52

3.3.1. Trí thức là bộ phận có vai trò quan trọng để phát triển đất nước nhưng
nhận thức về vị trí, vai trò của trí thức hiện nay còn rất hạn chế ............................108
3.3.2. Mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức rất cao nhưng chính sách đào tạo, bồi
dưỡng trí thức còn nhiều bất cập .............................................................................110
3.3.3. Thực tiễn quá trình phát triển đất nước đặt ra yêu cầu rất cao đối với đội
ngũ trí thức nhưng chính sách sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức chưa tạo ra
động lực kích thích trí thức phát huy tiềm năng và vai trò của họ ..........................112
3.3.4. Để khuyến khích khả năng sáng tạo và phản biện xã hội, trí thức phải được tự
do tư tưởng nhưng môi trường dân chủ hiện nay chưa thực sự hoàn thiện...................114
3.3.5. Đội ngũ trí thức là lực lượng sản xuất tiên phong của xã hội nhưng bản
thân đội ngũ trí thức chưa thực sự phát huy tính tích cực, chủ động trước yêu
cầu phát triển đất nước ............................................................................................116
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI
TRÕ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN NAY ......................................119
4.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của trí thức trong quá trình phát triển của đất
nước hiện nay ..........................................................................................................119
4.2. Đào tạo, bồi dưỡng trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện nay .....123
4.3. Đổi mới chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức phục vụ
quá trình phát triển đất nước hiện nay.....................................................................129
4.4. Tạo môi trường thuận lợi nhằm phát huy hơn nữa tính độc lập, sáng tạo của
trí thức trước yêu cầu phát triển đất nước hiện nay ................................................138
4.5. Tăng cường tính chủ động, tích cực từ bản thân người trí thức trước yêu
cầu phát triển đất nước hiện nay .............................................................................143
K T LU N ............................................................................................................149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ...........................................152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................153
PHỤ LỤC ...............................................................................................................160


v

KT – XH

: Kinh tế - xã hội

NC&PT

: Nghiên cứu và phát triển

NN&PTNT

: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Nxb

: Nhà xuất bản

PGS.TS

: Phó giáo sư, tiến sĩ

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ những
thập niên cuối thế kỷ XX là tiền đề quan trọng để nền kinh tế nhân loại bước sang


2
trò quyết định mạnh mẽ nhất đến tốc độ và định hướng phát triển đất nước trong
giai đoạn mới. Do đó, cần phải có chiến lược dài hạn làm cho đội ngũ này thực sự
phát huy được vai trò tiên phong của mình. Đảng ta nhận thức sâu sắc điều đó, đã
đề ra mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của
đội ngũ trí thức trước yêu cầu phát triển đất nước.
Qua hơn 30 năm đổi mới, đội ngũ trí thức đã có bước phát triển lớn. Tuy
nhiên, so với yêu cầu CNH, HĐH, quá trình hội nhập toàn diện của đất nước thì trí
thức Việt Nam chưa thực sự phát huy được vai trò tiên phong của mình. Mặt khác,
thực trạng phát triển của đội ngũ trí thức với những biểu hiện đa dạng, nhiều diễn
biến mới đang cho thấy việc thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức có rất nhiều vấn
đề cấp bách cần phải khắc phục. Chưa bao giờ trong lịch sử nước nhà lại có được
đội ngũ trí thức đông đảo như bây giờ, nhưng cũng chưa bao giờ sự lãng phí chất
xám, lãng phí các nguồn lực, những tiêu cực của nhiều trí thức lại gây nhiều bức
xúc cho xã hội như bây giờ. Việc xác định đúng vai trò của đội ngũ trí thức với tư
cách là hạt nhân trong hệ thống động lực phát triển, chỉ ra những giải pháp cần thiết
để xây dựng và phát huy vai trò nguồn lực này là việc cấp thiết, cần làm ngay và
làm đúng.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Trí thức và vai
trò của trí thức trong sự phát triển của Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án
của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ khái niệm và vai trò của trí thức, thực trạng việc phát huy
vai trò của đội ngũ trí thức, luận án đề xuất những giải pháp xây dựng và phát huy vai
trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển của Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Luận án tập trung làm rõ những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

nghiên cứu về việc xây dựng và phát huy vai trò của trí thức đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước hiện nay.
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của trí thức
phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước, với xu thế vận động của đội ngũ
trí thức trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án đóng góp cách nhìn toàn diện về nội hàm khái niệm trí
thức và vai trò của trí thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống KT - XH, đồng thời cung


4
cấp bức tranh chung về thực trạng của trí thức Việt Nam và thực trạng việc thực hiện vai
trò của trí thức Việt Nam những năm gần đây và xu hướng vận động của trí thức trong
thời gian tới, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp để xây dựng và phát huy vai trò của đội
ngũ trí thức Việt Nam hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần vào việc nghiên cứu, đề xuất
các giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của trí thức ở Việt Nam hiện nay.
+ Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo về vấn đề khái niệm trí
thức, vai trò của trí thức, về thực trạng của trí thức và các giải pháp xây dựng và phát
huy vai trò của trí thức Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương và 16 tiết.


5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Đ N

nghiên cứu khá phổ biến. Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn Định hướng phát triển


6
đội ngũ trí thức Việt Nam trong CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
cho rằng, để có thể được coi là trí thức thì cần phải thỏa mãn những tiêu chí, bao
gồm tiêu chí về trình độ chuyên môn, năng lực cống hiến nhằm cải biến trong thực
tiễn và có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Vì vậy, việc nảy sinh những “nhân tài
tiềm tàng” là bẩm sinh, vì nó gắn với di truyền học và sinh học, nhưng nếu thiếu
nhân cách, không cống hiến trong thực tiễn xã hội thì cũng không phải là trí thức.
Tác giả nhấn mạnh chỉ có trí thức chân chính mới được nhân dân ta thừa nhận, tôn
trọng. Sự khác nhau giữa trí thức chân chính và người có học vấn hoặc người nắm
giữ tri thức khoa học, nghệ thuật nói chung là ở chỗ có giữ được “thiên chức” của
người trí thức hay không. Người trí thức chân chính luôn hướng sự nghiệp của bản
thân chủ yếu bằng lao động trí tuệ hoặc bằng tư duy sáng tạo mang tính cá thể và
thường có cá tính. Thứ nữa, trong bối cảnh phát triển hiện nay, trí thức không chỉ là
người có học vấn cao tương xứng với thời đại, mà là người bằng lao động trí tuệ
sáng tạo của mình gắn nghề nghiệp hay sự nghiệp của mình với nhân dân, với dân
tộc và với lý tưởng mà mình theo đuổi. Hay nói cách khác, người trí thức chân
chính không thể thiếu nhân cách hướng thiện, hướng về nhân dân và dân tộc mình.
Sự kết hợp giữa hiểu biết và lương tri chính là tính trí thức - đó là tiêu chí căn bản
để phân biệt giữa trí thức chân chính và trí thức không chân chính.
Trong khi đó, một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến tính sáng tạo như là đặc
trưng gắn liền với người trí thức. Nguyễn Văn Sơn trong cuốn Trí thức giáo dục đại
học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002
cho rằng, với điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay, chỉ những
người đã qua đào tạo hoặc tự học mà đạt trình độ đại học hoặc tương đương mới có
thể tiếp cận được kiểu lao động của người trí thức. Nhưng việc nhận biết người trí
thức cần căn cứ vào việc đánh giá tính sáng tạo của họ trong quá trình lao động trí
óc phức tạp, ở giá trị của những sản phẩm khoa học, và vì vậy, những người có

và sáng tạo ấy đặt ra đòi hỏi cao về tính độc lập của người trí thức trong tư duy, vận
dụng kiến thức và kinh nghiệm đã được tích lũy cũng như năng lực chuyên môn
nghề nghiệp để tìm ra biện pháp tối ưu giải quyết công việc.
Tương tự, tác giả Võ Văn Thắng trong bài viết Phát huy vai trò của đội ngũ trí
thức trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế (Tạp chí Triết học, số 2 (261) 2013) cho rằng, bằng cấp cao chỉ là một dấu hiệu, hơn nữa không phải là dấu hiệu
bản chất của trí thức. Trên thực tế, có những người không có bằng cấp cao nhưng
do tư chất thông minh, lại chịu khó học hỏi nên có vốn kiến thức sâu rộng, có nhiều
sáng tạo và được cộng đồng ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định
như là một trí thức. Và do vậy, một người có học vấn hay chuyên môn cao, cho dù
là giáo sư, tiến sỹ chưa hẳn đã là nhà trí thức nếu họ là những kẻ thụ động tinh thần,
chấp nhận một cách dễ dãi những gì được dạy, không chịu nỗ lực suy nghĩ chín
chắn về những vấn đề xã hội, không có khả năng hình thành ý kiến độc lập với
những gì được nhiều người công nhận. Và vì vậy, theo tác giả, cái căn cước của trí


8
thức không phải dựa vào vị trí công việc mà là thái độ, hành động và những giá trị
mà họ tạo ra hoặc giữ gìn, dấn thân cho những mục tiêu cao cả của cộng đồng.
Bên cạnh xu hướng nhấn mạnh đến một số tiêu chí nào đó, trên thực tế cũng
có rất nhiều các công trình nghiên cứu cho rằng cần phải xác định và xây dựng cả
một hệ tiêu chí thì mới có thể xác định được đúng đắn và biểu hiện được nội hàm
đầy đủ của khái niệm này. Tiêu biểu đầu tiên có thể kể đến quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy, khóa X - 2008 về
xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đảng ta
xác định: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực
chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri
thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội [31; 82].
Khái niệm trên đã bao quát những đặc trưng và tiêu chí cơ bản nhất của trí thức Việt
Nam hiện nay nhưng lại chưa bao quát hết được các đối tượng trí thức cụ thể và những
trường hợp ngoại lệ.

động sáng tạo khoa học thì mới được coi là trí thức. Những sản phẩm lao động sáng
tạo ngày càng được xã hội hóa, ứng dụng sâu sắc vào trong quá trình thực tiễn, có
khả năng đem đến sự cải biến trong hoạt động thực tiễn thì đó mới thực sự là sự
sáng tạo của người trí thức. Sự sáng tạo của tư duy là sự trăn trở, tìm tòi của bản
thân người trí thức mà có chứ không chỉ là những sự bắt chước, sự thỏa hiệp với ý
kiến của số đông. Trí thức chân chính phải là những người có thực học, thực lực và
thực tài, có năng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo, có cấu trúc nhân cách
đức - tài hoàn chỉnh, có phương pháp và bản lĩnh của một nhân cách khoa học, là
những chủ thể của sự sáng tạo có tính độc lập cá nhân, biểu hiện cá tính của người
trí thức. Trí thức là những người tôn trọng chân lý và tôn trọng đạo lý.
Tương tự, tác giả Phan Trọng Thưởng trong bài viết Nhận diện trí thức và một số
đề xuất xung quanh đề án xây dựng đội ngũ trí thức (Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số
tháng 6 - 2008) cho rằng để nhận diện trí thức cần có nhiều tiêu chí và phải kết hợp nhiều
tiêu chí. Có thể kể đến các tiêu chí như lao động của trí thức là lao động trí óc sáng tạo,
đạt trình độ học vấn nhất định và là những người có phẩm chất như: có tư duy lao động
sáng tạo, có hoài nghi khoa học, ít có khả năng tự vệ do tính chất cá nhân trong lao động.
Đề tài Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, (Đề tài
nghiên cứu cấp cấp nhà nước, do Đàm Đức Vượng làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2010)
đưa ra định nghĩa của mình về trí thức với nhiều tiêu chí: Trí thức là một lực lượng
xã hội, gồm những người lao động trí óc có học vấn chuyên môn cần thiết cho
ngành của mình, có trình độ phát triển về trí tuệ, nhạy bén với cái mới và quan tâm
đến đổi mới và phát triển; thông thường có trình độ đại học và tương đương trở lên.
Hay tác giả Đặng Quang Định trong cuốn Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công
nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2010 đã đưa ra quan niệm khá khác biệt của mình về trí thức. Trên cơ sở tổng kết
thành sáu thuộc tính cơ bản của trí thức - với tư cách là một tầng lớp xã hội (những
người lao động trí óc phức tạp, sản xuất tinh thần là chủ yếu; có trình độ học vấn


10

nào thì mọi sự mâu thuẫn trong tư tưởng của giới trí thức Nga cũng đều thể hiện
những trăn trở, lo lắng, băn khoăn của những người trí thức trước những bước ngoặt
lịch sử của dân tộc họ. Mặc dù ở các bài viết khác nhau, các tác giả đã trình bày
những quan điểm khác nhau về sứ mệnh của người trí thức Nga lúc bấy giờ, nhưng


11
đều thống nhất với nhau ở quan điểm cho rằng người trí thức phải là người có học
thức, luôn tự ý thức về sứ mệnh của mình đối với cộng đồng và có thái độ dấn thân
thực sự để thực hiện sứ mệnh ấy. Những kiến giải sâu sắc về nội hàm khái niệm trí
thức, về mối quan hệ giữa trí thức và pháp quyền, giữa trí thức và chủ nghĩa xã hội,
về phương hướng và nhiệm vụ của giới trí thức Nga, các tác giả đã cung cấp cho
người đọc một bức tranh nhiều màu sắc về trí thức Nga, về đặc trưng của người trí
thức Nga từ đó cho chúng ta biết được một trong những cội nguồn tạo nên sức
mạnh quật cường, vĩ đại của dân tộc Nga, cả trước đây, bây giờ và sau này.
Trong cuốn sách này, có bài viết Phẩm tính trí thức rất đáng suy ngẫm của
Dimitri Likhaichev, một trí thức Nga lỗi lạc, người được tôn vinh là “người giám hộ
của nền văn hóa Nga”, “là lương tâm của nước Nga”. Theo ông, việc lọc lựa và xếp
ai đó đứng trong hàng ngũ trí thức không thể tùy tiện. “Người trí thức không đơn
thuần là người có học vấn, càng không phải là kiểu người như “ký giả”, tức là
“những người có giáo dục nhưng vụ lợi, dễ mua chuộc, tóm lại là xoàng xĩnh về
tinh thần” [71; 240]. Mà trí thức “là đại diện của một nghề nghiệp gắn với lao động
trí óc - kỹ sư, bác sỹ, nhà khoa học, họa sỹ, nhà văn, - và phải là con người có sự
đoan chính về nhận thức” [71; 240]. Ông viết tiếp, “chỉ những con người tự do
trong đức tin của mình, những con người không bị lệ thuộc bởi các ràng buộc kinh
tế, đảng phái, quyền chính, không phải tuân phục các khế ước tư tưởng mới thuộc
về giới trí thức” [71; 240]. Không chỉ có thế, tác giả còn cho rằng đạo đức như là
một nhân tố đặc trưng của người trí thức. “Lương tri không chỉ là vị thần hộ mệnh
của nhân phẩm, nó còn là người cầm lái của tự do. Lương tri sẽ trông coi để tự do
không bị biến thành sự tuỳ tiện, mà trỏ cho con người đường đi nước bước đích xác

nền văn hóa và truyền thống khác nhau”, “không nên chỉ biết đến sách vở thuần túy
mà cần có những nhận thức và phân tích, tất cả do đào tạo mà thành”, phải trở thành
công dân toàn cầu về mặt hoài bão, tầm nhìn và thông tin, có khả năng thực hành
kiến thức trong tổ chức, phải có khả năng học tập liên tục. “Cá nhân càng học cao,
có chuyên môn cao thì sự nghiệp của họ càng cao” [17; 408]. Điều đó cũng có
nghĩa là “giáo dục chiếm vị trí trung tâm trong xã hội tri thức, trường học sẽ là thiết
chế trung tâm” [17; 385].
1.1.2. Về vai trò của trí thức
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò của trí thức
đối với sự phát triển của xã hội. Tác giả Đỗ Mười trong cuốn Trí thức Việt Nam
trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 đã chỉ rõ
vai trò to lớn của đội ngũ trí thức trước vận mệnh của dân tộc. Người trí thức, theo
quan điểm của tác giả, phải là người trước hết ý thức được trách nhiệm của mình
với tương lai của đất nước, trăn trở với thời cuộc, tìm cách để góp phần đưa đất
nước tiến kịp với bạn bè năm châu. Vai trò của trí thức được thể hiện trên các khía
cạnh cơ bản, đó là góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, hợp tác trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham gia


13
vào việc biên soạn hoặc đảm nhiệm vai trò tư vấn, phản biện, giám định các dự
thảo, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, các dự án KT XH và khoa học, công nghệ ở tầm quốc gia. Trí thức là đại diện cho trí tuệ của dân
tộc, luôn nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với tiền đồ của Tổ quốc. Những
trí thức chân chính bao giờ cũng nặng lòng yêu nước, thương dân, dám rũ bỏ tị
hiềm, mặc cảm để làm tròn trách nhiệm của mình với dân, với nước [69; 237]. Dù
cuốn sách đã đề cập khá nhiều bằng cách này hay cách khác đến vai trò của trí thức,
nhưng do đối tượng của mỗi bài viết là các đối tượng trí thức cụ thể chứ không phải
là một cuốn tài liệu nghiên cứu về trí thức, vì vậy, tác giả chưa có sự phân tích khái
quát vai trò của trí thức.
Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn trong cuốn Một số vấn đề về trí thức Việt Nam,

Muốn làm được điều đó, đội ngũ trí thức là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong
việc “bắt chước” một cách thông minh, sáng tạo một cách chọn lọc các giá trị dựa
trên các giá trị văn hóa ngoại lai, mang lại lợi ích thiết thực cho dân tộc, vừa bảo vệ
được giá trị văn hóa truyền thống lại vừa đưa nền văn hóa dân tộc hội nhập với
những nền văn minh tiên tiến của nhân loại. Việc đề cập đến vai trò của trí thức trên
3 lĩnh vực trên của tác giả đã khái quát được vai trò to lớn của trí thức. Tuy nhiên,
khi tách vai trò quản lý đất nước thành một vai trò tương đương với hai vai trò còn
lại là một sự nhấn mạnh có chủ đích của tác giả theo chúng tôi có phần thiếu hợp lý.
Bởi vì trong bối cảnh hiện nay, không chỉ có quản lý đất nước là vai trò quan trọng
và nổi bật mà còn có những vai trò khác cũng nổi bật, thậm chí còn nổi bật hơn như
vai trò sáng tạo và chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực thì
tác giả lại chưa có sự đầu tư phân tích thích đáng.
Tác giả Nguyễn Văn Khánh trong cuốn Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức
trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước (chủ biên, 2004, Nxb Thông tấn,
Hà Nội) đã khẳng định lại quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách
mạng vô sản, những đóng góp của trí thức trong xây dựng và phát triển nền văn hóa
dân tộc, trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ góc độ nghiên cứu của
một nhà sử học, tác giả đã làm rõ vai trò, đóng góp của trí thức trong tiến trình cách
mạng Việt Nam giai đoạn trước, đồng thời khẳng định những quan điểm đúng đắn
của Đảng đối với trí thức.
Một trong những tác giả có sự nhìn nhận và phân tích kỹ lưỡng vai trò mang
tính đặc trưng của trí thức trong giai đoạn hiện nay là tác giả Nguyễn Đắc Hưng.
Trong cả hai cuốn Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 và cuốn Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, tác giả Nguyễn Đắc Hưng nhất quán đánh giá vai trò
quan trọng của trí thức đối với quá trình phát triển của xã hội, đặc biệt trong bối
cảnh hiện nay. Không chỉ là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, trí thức có vai
trò đặc biệt quan trọng khi cuộc cách mạng KH&CN diễn ra mạnh mẽ hiện nay. Trí
thức không chỉ quyết định trong vai trò sáng tạo các giá trị vật chất mà còn trong

học xã hội và nhân văn, góp phần đào tạo và phát triển con người; phê bình và phản
biện, dự báo xã hội; là lực lượng trực tiếp tham gia vào việc xây dựng và phát triển
một mô hình xã hội nhất định. Tác giả khẳng định, trong bất cứ xã hội nào cũng cần
quan tâm đến trên tất cả nội dung trên và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa
học xã hội và nhân văn phải khai thác đầy đủ ở cả bốn nội dung đó. Nếu không sẽ
dẫn đến tình trạng “lãng phí chất xám”. Những vai trò mà tác giả đã phân tích là


16
một sự tham khảo hữu ích cho việc làm rõ vai trò của cả đội ngũ trí thức nói chung
từ vai trò của trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói riêng.
Nguyễn An Ninh trong cuốn Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội
Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008) khẳng định, khoa học xã hội có
vai trò quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ quốc gia nào. Việc phát huy vai
trò của trí thức khoa học xã hội là một hướng tiếp cận nhằm phát huy vai trò của đội
ngũ trí thức Việt Nam trong tình hình mới. Theo tác giả, khoa học xã hội và khai
thác tiềm năng của trí thức khoa học xã hội có vai trò to lớn đối với quá trình phát
triển hiện đại. Khi lực lượng sản xuất xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ với sự
phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ, trí thức khoa học xã hội và nhân văn
càng có vai trò quan trọng hơn. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội nếu tách rời
khỏi những mục tiêu xã hội nhân văn thì nó sẽ là khởi đầu của một quá trình “tự
hủy diệt”. Hay những phát kiến của khoa học tự nhiên và công nghệ nếu không đặt
trên lập trường tiến bộ, không được dẫn đường bởi những nhận thức đúng đắn, nhân
bản của khoa học xã hội thì những phát kiến kia rất dễ phản tác dụng. “Vai trò của
các khoa học xã hội là to lớn trong việc phân tích những sự chuyển dịch xã hội gắn
với thành tựu của khoa học và công nghệ, và trong việc tìm kiếm giải pháp cho
những vấn đề đang nảy sinh” và “các nhà khoa học là người chịu trách nhiệm đặc
biệt trong việc ngăn chặn sử dụng các thành quả khoa học một cách không thể chấp
nhận được về mặt đạo đức và gây hậu quả có hại” [70; 64]. Trách nhiệm của người
trí thức khoa học xã hội cũng ngày càng nặng hơn đối với các quá trình xã hội và

Bình - “tổng công trình sư của công cuộc cải cách, mở cửa và xây dựng hiện đại hóa
xã hội chủ nghĩa Trung Quốc (…), sáng lập ra lý luận xây dựng một mô hình chủ
nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” [45; 11]. Nhân tài là một bộ phận và là bộ
phận tinh túy nhất của trí thức, là then chốt của phát triển; tôn trọng trí thức, tôn
trọng nhân tài là kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước, “then chốt của thành bại
trong công việc là có phát hiện được nhân tài, có sử dụng được nhân tài hay không”
[45; 52]. Sự hưng suy, thành bại của một quốc gia, một dân tộc, một sự nghiệp
không phải ở tài nguyên, không ở tiền vốn, không ở thiết bị, mà ở chỗ có hay không
có hàng loạt nhân tài kiệt xuất. Quan niệm “then chốt là ở con người” của Đặng
Tiểu Bình không chỉ có ý nghĩa đối với Trung Quốc những thập niên trước đây, tạo
ra những bước phát triển nhảy vọt cho quốc gia này mà còn là những nguyên tắc
mang tính định hướng cho cả Trung Quốc trong thế kỷ XXI. Những tư tưởng về
nhân tài với tầm nhìn sâu rộng của Đặng Tiểu Bình còn có giá trị tham khảo cho
những nước đi sau như Việt Nam.
Cuốn Nhân tài - Nguồn tài nguyên số 1 của các tác giả Triệu Vĩnh Hiền,
Trương Hạo Hàm, Hoàng Duy … (Trung Quốc), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
ấn hành bản dịch năm 2013 cho rằng, nhân tài có vai trò quan trọng nhất, là nguồn
tài nguyên số một đối với sự phát triển của quốc gia. Bởi chính nhân tài quyết định
tính tiên tiến của lực lượng sản xuất, là nền tảng cho đất nước phát triển phồn thịnh,
nhân tài ảnh hưởng đến tiến trình tương lai của thế giới. “Nhân tài có sự tích lũy và


18
nắm bắt chuyên môn đối với kiến thức mới nhất của một lĩnh vực khoa học kỹ thuật
nào đó, các công việc mang tính chuyên môn mà họ làm tất nhiên trở thành đầu tàu
của lực lượng sản xuất tiên tiến (…) Nhân tài giỏi nắm bắt điểm chuyển ngoặt của
những vấn đề trọng đại trong phát triển KT - XH, khai thác những lĩnh vực mà con
người chưa biết đến” [44; 36]. Đặc biệt khi Trung Quốc tiến hành trỗi dậy trong
điều kiện tài nguyên thiên nhiên ngày càng hạn hẹp thì tài nguyên con người, nhất
là nhân tài là nguồn tài nguyên có tính căn bản nhất, có tiềm năng khai thác và khai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status