skkn tăng cường tiếng việt cho học sinh lớp 5 dân tộc thiểu số qua tiết đọc thư viện - Pdf 54

Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề gì
Điều 4 chương I – Luật phổ cập Giáo dục Tiểu học quy định: “Giáo dục
tiểu học được thực hiện bằng Tiếng Việt”. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ phổ thông
sử dụng trong giao tiếp. Môn Tiếng Việt là môn học có vai trò quan trọng đối
với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Chính vì
vậy, mọi trẻ em bước vào bậc tiểu học cần phải có được một vốn kiến thức cơ
bản, cần thiết với những kĩ năng quan trọng như nghe – nói – đọc – viết tiếng
Việt để tham gia hiệu quả vào quá trình học tập và các hoạt động ngoài giờ lên
lớp. Việc nghe – nói – đọc – viết đúng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số là
vấn đề mỗi giáo viên cần phải quan tâm, điều đó không chỉ khẳng định chất
lượng dạy học của nhà trường, năng lực của giáo viên mà còn khẳng định khả
năng nhận thức của học sinh dân tộc thiểu số khi học ngôn ngữ không phải là
tiếng mẹ đẻ.
Văn chương hướng con người tới chân, thiện, mỹ, giúp con người hoàn
thiện nhân cách để trở nên hữu ích cho xã hội. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy,
sự tác động của văn hóa đọc với sự hình thành cá tính và nhân cách ở lứa tuổi
thiếu nhi (từ 5 - 14 tuổi) đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học (7 - 11 tuổi) là rất
mạnh mẽ. Do ở lứa tuổi đó, các em còn chưa tự định hướng trong tiếp nhận
thông tin nên việc sử dụng và biến sách báo tài liệu trở thành công cụ và phương
tiện để giáo dục là việc làm hữu ích và đem lại hiệu quả to lớn. Chúng ta cần
thúc đẩy nhu cầu và hứng thú đọc sách cho các em lứa tuổi tiểu học là tạo ra môi
trường đọc sách hiện đại, thân thiện, biến những cuốn sách và thư viện trở thành
thú vị, dần dần xây dựng xã hội đọc sách và cao hơn là xã hội học tập.
Để đáp ứng nhu cầu đọc sách của học sinh, thư viện thân thiện đã ra đời.
Đây là một mô hình thư viện của nước ngoài được đưa vào các trường học, được
cụ thể hóa trong một tiết học “Tiết đọc thư viện”. Trong Tiết đọc thư viện có các
hoạt động đọc chính giúp phát triển thói quen đọc sách của học sinh. Những
hoạt động đọc không tập trung vào dạy kỹ năng đọc mà mục đích chính của tiết
đọc thư viện là hình thành và phát triển thói quen đọc sách của học sinh. Tuy
nhiên, khi các em đã có thói quen đọc sách thì kỹ năng đọc sách sẽ phát triển và

thư viện dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm, được giáo viên đưa vào kế
hoạch dạy học, thiết kế với các tiến trình hoạt động phong phú, đa dạng để thu
hút học sinh. Trong Tiết đọc thư viện học sinh đều được đọc và nói, đây là thời
gian thích hợp để sửa lỗi đọc, nói, viết đúng tiếng Việt cho học sinh. Bên cạnh
việc rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt, Tiết đọc thư viện còn rèn cho học sinh thói
quen đọc sách, việc này sẽ mang lại những lợi ích vô cùng to lớn vì sách chứa
đựng rất nhiều kiến thức trong cuộc sống và học tập, giúp chúng ta tư duy, nhận
thức sâu sắc hơn, trưởng thành hơn và tích lũy được vốn từ ngữ phong phú, hình
thành văn hóa đọc.
Tôi thấy rằng việc giúp học sinh dân tộc thiểu số phát âm đúng, chuẩn
tiếng Việt là việc làm quan trọng, cần thiết, nó là nhân tố bổ trợ cho học sinh học
tốt môn Tiếng Việt nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Xuất
phát từ lí do nêu trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Tăng cường Tiếng Việt cho học
sinh lớp 5 dân tộc thiểu số qua Tiết đọc thư viện”.
II. Mục tiêu của nghiên cứu
Qua tiết đọc thư viện, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt tích cực để học
sinh được sử dụng tiếng Việt và có điều kiện sửa sai, rèn luyện tiến tới nói, đọc,
viết đúng, chuẩn tiếng Việt. Nâng cao ý thức sử dụng tiếng Việt ngoài thời gian
trên lớp của các em. Qua mỗi câu chuyện, học sinh biết điều chỉnh giọng phù
hợp với ngữ cảnh, lời của người kể chuyện hay lời của nhân vật. Học sinh thể
hiện được hành vi văn minh trong giao tiếp như chú ý lắng nghe người khác nói,
biết giơ tay khi muốn nói và biết chờ đến lượt mình. Ngoài ra còn hình thành
thói quen và khơi dậy niềm đam mê đọc sách, tìm tòi để trau dồi vốn tiếng Việt,
rèn luyện kĩ năng đọc sách có hiệu quả, mỗi giờ đến tiết đọc thư viện là một
niềm vui, đúng như câu khẩu hiệu : “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”.
2


Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề

tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm.
Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để học sinh
tiếp thu tri thức, kỹ năng của các bộ môn khác trong chương trình giáo dục và
hướng đến việc hình thành kỹ năng sống cần thiết cho học sinh.
Thư viện trường học là một bộ phận cơ sở trọng yếu, là trung tâm sinh
hoạt văn hóa, khoa học của nhà trường. Thư viện trường học góp phần nâng cao
chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh, xây dựng thói quen
3


tự học cho học sinh. Mặt khác, thư viện trường học còn tạo cơ sở từng bước thay
đổi phương pháp dạy và học, xây dựng nếp sống văn hóa cho các thành viên
trong nhà trường.
Thư viện trường học giúp học sinh tự bổ sung kiến thức. Cũng chính ở thư
viện trường học, các em tự rèn luyện tính độc lập, tư duy và thói quen tự học.
Qua các tác phẩm mà các em đã đọc, sẽ hình thành cho các em tình cảm
đúng đắn, giúp các em hiểu thêm về con người, về đất nước và cuộc sống.
Theo Tạp chí Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hiện nay tại các trường Tiểu học ở
Việt Nam tồn tại 2 kiểu thư viện: Thứ nhất, thư viện không được đầu tư cả cơ sở
vật chất và sách phục vụ học sinh. Mặc dù được gọi là thư viện, nhưng thực sự
là nhà kho của trường. Thứ hai, thư viện được đầu tư tốt về cơ sở vật chất,
nhưng vẫn thiếu sách phục vụ học sinh. Sách trong thư viện này phần lớn là sách
phục vụ giáo viên. Sách phục vụ học sinh được khóa trong tủ và học sinh tìm
sách qua danh mục sách. Điều này cản trở học sinh tiếp cận với sách và lựa chọn
cho mình quyển sách phù hợp. Ngoài ra, một không gian thư viện phục vụ
chung cả giáo viên và học sinh cũng khiến học sinh không cảm thấy thoải mái
khi đến thư viện.
Như vậy, có thể nói rằng mô hình thư viện hiện nay chưa đáp ứng được
yêu cầu đọc sách và xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh. Việc có một mô
hình thư viện thân thiện để khuyến khích học sinh đến thư viện đọc sách, hình

hướng dẫn sử dụng quy tắc 5 ngón tay để chọn sách: Em tự chọn một cuốn sách
bất kỳ và đọc 5 câu liên tục. Nếu không mắc lỗi hoặc chỉ 1 lỗi thì em nên chọn 1
cuốn sách ở mã màu cao hơn; nếu em mắc 2 - 4 lỗi trong 5 câu đó thì quyển sách
em chọn đã phù hợp với trình độ đọc của mình; còn nếu nhiều lỗi hơn, em cần
chọn mã màu thấp hơn.
Các tiết tiếp theo, các em sẽ được tiếp cận với các kiểu hoạt động: Đọc to
nghe chung; Cùng đọc; Đọc cặp đôi; Đọc cá nhân. Tùy thuộc vào trình độ đọc
của từng khối lớp mà giáo viên lựa chọn tỷ lệ các kiểu hoạt động phù hợp.
Chẳng hạn, đối với khối lớp 1, 2 có thể lựa chọn các hoạt động học như sau:
Đọc to nghe chung 40% số tiết; cùng đọc 30% số tiết; đọc cặp đôi 20% số tiết và
đọc cá nhân 10% số tiết/năm học. Đối với khối 4, 5 thì lại có lựa chọn khác: Đọc
to nghe chung 10% số tiết; Cùng đọc 20% số tiết; Đọc cặp đôi 30 % số tiết và
đọc cá nhân chiếm 40% số tiết/năm học.
Trong mỗi tiết, ngoài hoạt động đọc, các em được tham gia các trò chơi
nhẹ nhàng; viết hoặc vẽ những gì mình thích trong câu chuyện; trao đổi cho
nhau nghe về suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về nhân vật, về câu chuyện đó.
Giáo viên có thể trao đổi với các em bằng một số câu hỏi giản đơn có liên quan
đến nhân vật cũng như nội dung câu chuyện, nhằm hướng tới nhu cầu đọc sách
tích cực cho học sinh. Tất nhiên, không biến các câu hỏi thành khai thác sâu nội
dung câu chuyện.
Như vậy, trong Tiết đọc thư viện nếu kết hợp được Tăng cường tiếng Việt
vào thì sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho học sinh.
II. Thực trạng vấn đề
1. Đặc điểm tình hình
- Tổng số học sinh toàn trường là 282 em. Trong đó học sinh dân tộc Ê –
đê là 204 em, nữ dân tộc là 108 em. Số dân tộc thiểu số chiếm 71% số học sinh
toàn trường.
- Khối lớp 5 có 3 lớp với tổng số học sinh 48 em, dân tộc Ê – đê là 39 em,
nữ dân tộc là 26 em.
- Lớp 5C tổng số học sinh là 17 em, dân tộc Ê – đê là 17 em, nữ dân tộc là

Bởi vậy đối với học sinh dân tộc thiểu số tập trung Tăng cường tiếng Việt
là cần thiết và hợp lí, đóng vai trò trọng tâm, then chốt cho chất lượng giáo dục
vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
2. Thực trạng tăng cường Tiếng Việt tại trường Tiểu học Ea Bông
2.1. Các giải pháp đã tiến hành để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh
tại trường Tiểu học Ea Bông ở những năm trước
Trường Tiểu học Ea Bông đã tổ chức dạy học Tăng cường Tiếng Việt cho
học sinh bằng các bài tập bổ trợ Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1,
2, 3 và Tăng cường Tiếng Việt lồng ghép, tích hợp ở lớp 4, 5. Thực hiện theo
Quyết định 920/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đăk Lăk, ngày 14/4/2017
về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ
Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định
hướng 2025” trên địa bàn Đăk Lăk, nhà trường đã tổ chức các buổi chuyên đề
Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Giáo viên đã vận dụng
soạn – giảng Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh bằng nhiều phương pháp, cách
thức tổ chức linh hoạt, khéo léo, phù hợp để lồng ghép, tích hợp ở tất cả bài học
của các môn học, tăng cường mọi lúc, mọi nơi để nâng cao chất lượng giáo dục
nói chung và bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt, hình thành thói quen sử dụng tiếng
Việt của học sinh dân tộc thiểu số nói riêng.
6


Để tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, hầu hết các giáo
viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn đã áp dụng một số biện pháp sau:
- Chú trọng sửa lỗi phát âm sai về tiếng, từ, câu, dấu thanh.
- Tăng cường cho các em luyện đọc trên lớp.
- Nhắc nhở các em về nhà thường xuyên đọc lại bài.
- Tổ chức hoạt động nhóm để các em tham gia, trao đổi.
- Áp dụng Thông tư 22/2016 khuyến khích học sinh nhận xét bạn, để học
sinh có cơ hội được nói nhiều hơn.

được quan tâm đặc biệt, vì ở lớp dưới em đã thường xuyên nghỉ học, hay mặc
cảm, tự ti khi phải học chung với học sinh lớp dưới. Cơ thể các em phát triển
7


trội hẳn so với học sinh khác trong lớp nên tâm sinh lí cũng khác hơn, em đã biết
ngại, xấu hổ, có những suy nghĩ phức tạp hơn và không hòa đồng với học sinh
khác.
Những lỗi cơ bản mà học sinh của lớp tôi thường mắc phải khi đọc:
+ Phát âm sai hoặc thiếu dấu thanh:
Ví dụ: Chậm chạp

Châm cháp

Vạn vật

Van vất

Thích nghi

Thích nghì

+ Ngắt nghỉ bất kì lúc nào giữa câu hoặc không ngắt nghỉ sau mỗi dấu câu:
do các em hụt hơi hoặc từ tiếp theo là từ khó đọc các em phải dừng lại để đánh
vần nhẫm trong đầu rồi mới phát âm ra thành tiếng.
Ví dụ: Thỏ nghĩ bụng chắc còn lâu Rùa mới lết tới nơi nên nằm phịch xuống
vệ đường, đánh một giấc ngon lành.
Thỏ nghĩ bụng chắc còn lâu Rùa mới lết tới nơi nên nằm (,) phịch
xuống vệ đường đánh (,) một giấc (,) ngon lành.
+ Viết là hoạt động khó khăn nhất đối với học sinh dân tộc, các em thiếu

thân xin trình bày một số giải pháp để thực hiện nhiệm vụ của đề tài.
Việc sử dụng song song nhiều biện pháp tăng cường Tiếng Việt. Đặc biệt
khi tiết đọc thư viện được đưa vào giảng dạy việc vận dụng những ưu điểm của
phương pháp, hình thức dạy học đã sử dụng để hỗ trợ các biện pháp mới, sẽ
mang lại hiệu quả tích cực trong việc rèn cho học sinh dân tộc thiểu số nghe,
nói, đọc, viết tốt tiếng Việt.
1. Vận động, tuyên truyền phụ huynh học sinh, nhà trường tạo môi
trường giao tiếp thuận lợi
- Phối hợp với gia đình, nhắc nhở cha mẹ các em, quan tâm, đôn đốc việc
học tập của con em mình khi ở nhà. Khuyến khích các em đọc truyện cho cả nhà
nghe với những quyển truyện mà các em đã mượn từ thư viện và cha mẹ có thể
mua tặng các cháu để động viên khích lệ, hình thành thói quen đọc sách mỗi
ngày. Cha mẹ thường xuyên dùng tiếng Việt để trò chuyện, trao đổi, để các em
có thể sử dụng tiếng Việt mọi nơi, mọi lúc.
Ví dụ: vào đầu năm học, trong cuộc họp Cha mẹ học sinh, giáo viên trao
đổi chân tình những khó khăn của lớp. Nêu ra các biện pháp rèn luyện cho học
sinh ở lớp cũng như ở nhà. Vận động cha mẹ học sinh phối kết hợp với giáo viên
chủ nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc rèn luyện ở nhà của các em, khuyến khích cha
mẹ học – đọc cùng con. Với thời buổi thông tin liên lạc phát triển, giáo viên dễ
dàng trao đổi với cha mẹ qua điện thoại, vừa có thể tiết kiệm được thời gian của
cha mẹ và của giáo viên đồng thời cha mẹ cũng nắm được tình hình học tập của
con thường xuyên hơn mà giáo viên cũng biết được tình hình học tập của học
sinh ở nhà.
- Để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng môn Tiếng
Việt nói riêng yếu tố đầu tiên đó là chất lượng của đội ngũ giáo viên có phẩm
chất, năng lực có uy tín và tín nhiệm cao, có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình, gần
gũi, thân thiện với học sinh. Mỗi giáo viên phải là người tuyên truyền viên tích
cực, là nhân tố đi đầu trong phong trào vận động phụ huynh học sinh tham gia
vào việc đọc, việc học của các em nhất là việc đọc ở nhà, thường xuyên nhắc
nhở khích lệ, tạo điều kiện để các em được đọc, được khám thế giới qua các

+ Trong tiết đọc “Đọc cá nhân” học sinh tự tìm một quyển sách và chọn
cho mình chỗ ngồi phù hợp để đọc. Giáo viên quan sát theo dõi học sinh, khi
học sinh đọc sai ở đâu, giáo viên sửa ngay ở đó, bằng cách gợi ý cho học sinh
đọc ngay tiếng, từ, câu vừa đọc sai và yêu cầu học sinh phải đọc lại cho đúng
hoặc nhắc lại theo giáo viên, để cho học sinh khác cũng ghi nhớ cách đọc đúng.
Tuyên dương khi học sinh đọc xong sách của mình mặc dù đọc chưa đúng hết
nhưng vẫn kèm theo lời động viên cố gắng đọc đúng, đọc hay hơn lần sau.
+ Ở hoạt động “Trong khi đọc” trong tiết Cùng đọc và Đọc nhóm đôi:
Học sinh làm việc theo cặp. Giáo viên khuyến khích các em khá giỏi ngồi gần
các bạn chưa có kĩ năng đọc tốt, những em còn đọc chưa chuẩn, phát âm sai,…
để nghe và sửa lỗi, kèm cặp, hỗ trợ nhau cùng đọc.
Ví dụ: Em H Bic Hđơk (chức vụ trong lớp là lớp phó học tập), rất nhiệt
tình trong mọi công việc được giao; chọn bạn H Koer (sinh năm 2007) làm bạn
cùng nhóm để giúp đỡ bạn, H Koer đọc yếu, đọc nhỏ, tính nhút nhát. Ngay từ
những buổi đầu, bạn lớp phó đã phát huy hết khả năng của mình, gương mẫu để
các nhóm làm theo. Sau một thời gian, H Koer đọc to, lưu loát các bài đọc hơn.
Tự tin đọc một mình trước lớp, mặc dù vẫn còn đọc sai ít dấu thanh nhưng mỗi
lần nhắc em cũng đã tự biết sửa lỗi. Ngoài ra, còn các nhóm bạn cũng có nhiều
tiến bộ như: H Ri Na và H Dưng, H Yun và H Noel.
+ Khi học sinh đọc “Đoạn trong câu chuyện làm em thích nhất? Vì sao?”
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng và đọc diễn cảm đoạn học
sinh thích và chọn đọc lại. Em H’ Noel trước khi có Tiết đọc thư viện, em đọc
10


thiếu dấu thanh nhiều và chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu câu. Sau vài Tiết đọc thu
viện, được cô và bạn cùng đọc giúp sửa lỗi, em đã đọc đúng dấu thanh và còn
thể hiện được giọng đọc diễn cảm, phù hợp với từng câu chuyện. Em hứng thú
tìm đọc những câu chuyện mới và thích chia sẻ lại câu chuyện mình đã đọc cho
các bạn cùng nghe.

lỗi sai để kèm, hỗ trợ nhau và tăng thời lượng các em được trò chuyện với nhau
bằng tiếng Việt. Ví dụ Em Y Tô Ni là học sinh đọc yếu nhất lớp, sau một thời
gian cùng bạn lớp trưởng Y Khoan đọc những câu chuyện trong tiết đọc thư
viện, em đã đọc trôi chảy và lưu loát hơn. Trong các môn học khác em đã mạnh
dạn, tự tin xung phong đọc bài trước lớp.
- Tạo điều kiện cho các em có chỗ ngồi thoáng mát, sạch sẽ, đủ ánh sáng
để các em đọc thoái mái nhất. Môi trường thân thiện kết hợp cây xanh trong
phòng thư viện tạo nên không khí trong lành, cảm giác được thư giãn và gần gũi
với thiên nhiên hơn. Có thể đặt những chậu hoa nhỏ bên cạnh kệ sách, một cây
xanh trên bàn đọc và ở góc trưng bày sản phẩm, những cây hoa dây leo ở các
khung cửa sổ và một số loại cây khác có thể đặt ở các vị trí phù hợp trong thư
viện. Môi trường đọc sách rất quan trọng, nó chi phối rất nhiều đến hứng thú, tác
động đến sự cảm nhận, cảm thụ tác phẩm của người đọc và có thể lĩnh hội được
nhiều nhất nội dung kiến thức mình đang đọc.
- Hỗ trợ tranh ảnh cho các câu chuyện, để giải nghĩa từ mới, từ trừu
tượng. Vì đối tượng học sinh dân tộc thiểu số có vốn từ tiếng Viết hạn chế, đôi
khi không diễn đạt được bằng các từ ngữ cụ thể, hình ảnh là cách gợi ý trực
quan và thực tế nhất để học sinh hiểu được từ ngữ bằng tiếng Việt, cung cấp
thêm vốn từ tiếng Việt cho các em.
3. Lập kế hoạch dạy học cho từng Tiết đọc thư viện
Giáo viên xác định được mục tiêu cần đạt được ở từng Tiết đọc thư viện:
Kiến thức kĩ năng cơ bản cần hình thành, rèn luyện cho học sinh; Tăng cường
Tiếng Việt: đọc đúng dấu thanh, tiếng, từ, câu, đoạn văn; trả lời câu hỏi đủ ý,
tròn câu. Sử dụng hợp lí các hình thức tổ chức học tập, thay đổi linh hoạt giữa
tiết đọc thư viện trước và sau tránh lặp lại, gây sự nhàm chán cho học sinh,
những vấn đề cần hỗ trợ học sinh…
Ví dụ:
- Tiết 1 – 2: Làm quen với nội quy thư viện, bảng mã màu, cách chọn
sách, mượn trả và bảo quản sách.
- Tiết 3: Cùng đọc

- Thiết lập mối quan hệ giữa phân môn Kể chuyện, Tập đọc và phần tăng
cường Tiếng Việt để tạo ra sự phối hợp và bổ trợ lẫn nhau.
c) Sau mỗi câu chuyện, giáo viên cần:
- Rút ra các từ mới, từ khó hiểu, từ trừu tượng,… cho học sinh giải thích
nghĩa của từ (nếu học sinh không giải thích được giáo viên phải hỗ trợ gợi ý và
giải thích cho học sinh). Cho học sinh nhắc lại các từ mới, từ khó hiểu,… để
cung cấp vốn từ cho học sinh.
- Tổ chức viết hoặc nói về cảm nhận của mình về câu chuyện đã đọc. Để
tạo môi trường sử dụng tiếng Việt trong học sinh dân tộc thiểu số đồng thời ôn
luyện nội dung tăng cường Tiếng Việt trong Tiết đọc thư viện.
Qua mỗi hoạt động trong Tiết đọc thư viện, đều có thể rèn cho các em một
số kĩ năng:

13


+ Rèn luyện cho các em ý thức và thói quen làm việc đúng quy tắc, đúng
quy định: Việc các em thuộc và thực hiện đúng nội quy trong thư viện sẽ hình
thành cho các em ý thức và thói quen làm việc đúng quy tắc, đúng quy định.
Ví dụ Nội quy thư viện: Bạn đọc cần thực hiện đúng các quy định sau:
1. Vào thư viện phải giữ gìn trật tự và giữ vệ sinh chung.
2. Phải có thẻ thư viện mới được mượn sách, mỗi lần mượn không quá 2
bản. Thời hạn 3 ngày, nếu đọc chưa xong bạn đọc phải đến thư viện xin gia hạn,
chưa trả sách không được mượn tiếp.
3. Báo chí, từ điển, sách quý hiếm chỉ được sử dụng tại chỗ.
4. Bạn đọc cần giữ gìn sách báo cản thận, không được làm rách, làm bẩn,
không vẽ, viết vào sách báo, cần tham gia bao bọc và tu sửa thường xuyên sách.
5. Bạn đọc làm mất sách phải đền sách mới hoặc đền tiền tương đương
với giá trị thực tế. Nếu làm hư hỏng, tùy mức độ phải bồi thường thỏa đáng.
6. Mỗi học kì nhà trường xét khen thưởng các bạn đọc sử dụng thường



+ Biết bảo quản và giữ gìn tài sản chung: Nhắc nhở học sinh phải giữ sách
cẩn thận, việc làm hằng ngày đó của học sinh sẽ rèn cho học sinh có ý thức trách
nhiệm bảo vệ, giữ gìn tài sản chung.
Ví dụ: Trước tiết học, các em sắp xếp bàn cho phù hợp với tiết học. Lấy
sách cẩn thận không làm đỗ giá sách, không được tự ý di chuyển các vận dụng
khác trong thư viện khi không được phép. Sau tiết học, các em trả sách đúng vị
trí đã lấy, sếp lại bàn gọn gàng và dọn vệ sinh thư viện sạch sẽ. Lúc các em
mượn sách về, giáo viên luôn nhắc nhở học sinh phải giữ sách cẩn thận, không
làm hư hỏng và mất sách.
+ Rèn kĩ năng sống cho các em: Qua mỗi câu chuyện của em đã được đọc,
các em rút ra được bài học cho bản thân, cung cấp thêm cho các em những kĩ
năng sống, những hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội và
quyền trẻ em trong các tình huống đơn giản cụ thể của cuộc sống hằng ngày.
Ví dụ: Qua câu chuyện Ngụ ngôn “Thỏ và Rùa” của tác giả La-phong-ten,
em H Ri Na đã mạnh dạn rút ra bài học cho bản thân: phải chăm chỉ như nhân
vật Rùa, biết vượt qua mọi khó khăn và sự hạn chế của bản thân để chiến thắng.
Không được chủ quan, xem thường người khác như nhân vật Thỏ.
Qua một số giải pháp tôi đã vận dụng Tăng cường Tiếng Việt qua Tiết đọc
thư viện vào trong đề tài nghiên cứu, tôi đã thấy được một số điểm mới, có hiệu
quả.
IV. Tính mới của giải pháp
Tăng cường Tiếng Việt thông qua Tiết đọc thư viện, học sinh có một
không gian học tập thoải mái và không bị áp lực khi đọc. Vì vậy, việc sửa lỗi sẽ
nhẹ nhàng hơn cho học sinh và cho cả giáo viên. Cách thức đưa phần Tăng
cường Tiếng Việt vào Tiết đọc thư viện gần như hòa lẫn vào nhau, phải cho học
sinh cảm nhận là mình đang đọc nên giáo viên phải thật khéo léo chỉnh sửa cho
học sinh để không làm mất hứng thú và sự tập trung đọc của học sinh cũng như
đi đúng với mục tiêu của Tiết đọc thư viện.

chính, đến giờ ra chơi, các em mạnh dạn xin phép nhân viên thư viện để được
vào thư viện tìm đọc sách. Như vậy, thói quen đọc sách đang dần hình thành
trong các em.
- Có những câu chuyện hay, hấp dẫn đến nổi các em muốn sở hữu ngay
quyển sách đó mà các em không ngần ngại hỏi cô giáo, hỏi nhân viên thư viện
“Cô ơi! Cô có bán quyển truyện này không ạ? Em thích nó lắm!”. Qua hành
động đó, tôi thấy được niềm đam mê đọc sách đang khơi dạy trong mỗi học sinh
của mình.
- Các em thích nói và muốn nói nhiều hơn về câu chuyện của mình đã
được đọc. Các em còn tiếp tục chia sẽ câu chuyện với nhau trong cả giờ ra chơi.
Vậy là các em đã mạnh dạn hơn khi sử dụng tiếng Việt trao đổi, trò chuyện, chia
sẻ với nhau.
- Kĩ năng đọc, nói của các em tiến bộ nhiều hơn. Các em đã tập trung chú
ý hơn vào việc đọc đúng dấu thanh, ngắt nghỉ sau dấu câu. Biết điều chỉnh giọng
đọc phù hợp trong mỗi tình huống câu chuyện cũng như trong giao tiếp, đã biết
trả lời và nói đủ thành phần câu, đủ ý.
- Các em tập trung hơn khi viết cảm nhận của mình về câu chuyện, những
dòng chữ nắn nót, cẩn thận hơn vì các em chỉ phải viết một đoạn ngắn để trưng
bày. Bên cạnh viết, các em còn rất hào hứng vẽ về câu chuyện mình vừa đọc.
Các em có nhiều sáng tạo độc đáo trong khi vẽ. Hoạt động này có thể phát huy
được năng khiếu mĩ thuật ở một số học sinh.
Điều kiện để tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu này
Giáo viên chủ nhiệm cần có hiểu biết sâu rộng để trở thành người hướng
dẫn cho học sinh. Nên bản thân tôi cũng phải đọc thật nhiều sách, nghiên cứu
nhiều tài liệu có liên quan để nâng cao trình độ chuyên môn. Cần có những buổi
chuyên đề, tập huấn về quản lí thư viện cho giáo viên.
16


Cán bộ thư viện chuyên trách có trình độ chuyên môn nghiệp vụ là người

Khi học sinh đã có ý thức tự giác học tập thì việc tiếp thu kiến thức sẽ nhanh và
dễ dàng hơn cho tất cả các môn học cũng như các hoạt động ngoại khóa.
Đề tài nghiên cứu này sẽ mang lại ý nghĩa quan trọng đối với học sinh,
công tác chủ nhiệm cũng như nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường:
- Học sinh sẽ đọc, nói đúng, chuẩn tiếng Việt. Khi học sinh đọc đúng dấu
thanh, ngắt nghỉ đúng dấu câu,… giúp các em hiểu đúng nội dung câu chuyện.
Từ nội dung câu chuyện học sinh sẽ rút ra ý nghĩa, bài học cho bản thân để học
sinh có thể vận dụng trong học tập cũng như trong cuộc sống của các em.
17


- Học sinh được tiếp xúc với các câu văn mẫu, cách diễn đạt câu, cách dùng
từ đúng, hay … sẽ góp phần trau dồi vốn tiếng Việt thiếu hụt và có thể giúp các
em học tốt phân môn Luyện từ và câu, môn Tập làm văn cũng như các môn học
khác. Nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh, học sinh sẽ học tốt
môn Tiếng Việt và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Vì sách là kho tàng kiến thức của nhân loại nên đây là con đường ngắn
nhất để học sinh tiếp cận với nguồn kiến thức phong phú, đa dạng đó. Ngoài ra,
việc đọc sách còn khơi gợi được niềm đam mê đọc sách. Nhờ vậy, học sinh chủ
động trong việc tìm, đọc sách, phát triển vốn từ, ngôn ngữ, được giáo dục đạo
đức, kỹ năng sống…
- Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa học sinh với học sinh, học sinh với
giáo viên, học sinh với nhân viên thư viện, giữa giáo viên với nhân viên thư
viện,…
Vì đây là đề tài đang trong quá trình nghiên cứu, nên tôi mạnh dạn đề xuất
một số biện pháp, giải pháp để Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh. Trong quá
trình thực hiện và tiếp tục nghiên cứu đề tài, tôi sẽ tiếp tục tìm ra các giải pháp
phù hợp và hiệu quả hơn để nâng cao kĩ năng nghe – nói – đọc – viết, sử dụng
tiếng Việt thành thạo của học sinh dân tộc thiểu số nói riêng và nâng cao chất
lượng giáo dục của toàn trường nói chung.

phục vụ cho việc hoàn thiện Thư viện thân thiện. Đề nghị lãnh đạo nhà trường
tham mưu với các ngành, các cấp đầu tư xây dựng cở sở vật chất, trang thiết bị
dạy học đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của học sinh trong thời kì đổi mới
này.
- Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, huy động sự đóng góp của các
doanh nghiệp, các tổ chức, các nhà hảo tâm, cá nhân, giáo viên, phụ huynh, học
sinh,… quyên góp sách báo cũ có giá trị với khẩu hiệu: “Góp một cuốn sách
nhỏ, đọc nghìn cuốn sách hay”.
- Nhà trường kết hợp với Đội thường xuyên tổ chức các hội thi, trò chơi,
các buổi sinh hoạt ngoại khóa,… để giúp học sinh “chơi mà học, học mà chơi”.
Từ đó học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng đọc, nói, kĩ năng phát âm
đúng tiếng Việt một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, thoải mái nhất.
b) Đối với nhân viên thư viện
- Cộng tác với giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh sử dụng và tra tìm
tài liệu trong thư viện. Thực hiện tốt công tác trưng bày và giới thiệu sách để thu
hút học sinh đến với thư viện.
- Nhân viên thư viện phải hòa nhã, gần gũi, thân thiện, chịu khó, hết lòng
vì công việc, biết tham mưu với lãnh đạo về công tác thư viện và nhu cầu tài liệu
của bạn đọc vào danh mục sách bổ sung mỗi năm học.
- Làm đúng vai trò, trách nhiệm của một nhân viên thư viện: “Nhân viên
thư viện là một chuyên gia lưu trữ và tra cứu; là những người hiểu biết; là những
người chuyên gia hướng dẫn cho người đọc” (Trích dẫn lời của Phó thủ tướng
Vũ Đức Đàm tại Hội thảo Phát triển và đổi mới hoạt động thư viện trong thời kì
đổi mới, diễn ra tại Thư viện Quốc gia sáng ngày 05/12/2018)
c) Đối với giáo viên
- Giáo viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình và sáng tạo
trong công tác giảng dạy, luôn gần gũi, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo
của học sinh.
- Trong quá trình Tăng cường tiếng Việt qua Tiết đọc thư viện cũng như
trong các môn học khác cho học sinh, giáo viên phải kiên trì, nhẫn nại, sửa lỗi,

.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
...............................................................................................................................

NHẬN XÉT CỦA HĐKH HUYỆN KRÔNG ANA
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học ngày 12 tháng 8 năm 1991.
2. Quyết định 920/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đăk Lăk, ngày
14/4/2017 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường Tiếng Việt
cho trẻ Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020,
định hướng 2025” trên địa bàn Đăk Lăk.
3. Công văn 1108/SGDĐT-GDTH, ngày 10 tháng 8 năm 2018 về việc triển
khai Chương trình “Thư viện thân thiện trường Tiểu học” năm học 2018 – 2019.
4. Tài liệu Tập huấn nâng cao năng lực quản lí thư viện trường Tiểu học
của Sở Giáo dục và Đạo tạo Đăk Lăk tháng 12 năm 2017.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status