Chương 2
BÀI TOÁN LUỒNG CỰC ĐẠI VỚI KHẢ NĂNG THÔNG QUA
CÁC CUNG – CÁC ĐỈNH
Bài toán luồng cực đại trong mạng là một trong số những bài toán tối ưu trên đồ
thị tìm được những ứng dụng rộng rãi trong thực tế cũng như những ứng dụng thú vị
trong lý thuyết tổ hợp. Bài toán được đề xuất vào đầu những năm 1950, và gắn liền với
tên tuổi của hai nhà bác học Mỹ là Ford và Fulkerson. Bài toán luồng cực đại trong
mạng có nhiều ứng dụng trong thực tế như: Bài toán xác định cường độ dòng lớn nhất
của dòng vận tải giữa hai nút của một bản đồ giao thông, bài toán tìm luồng dầu lớn
nhất có thể bơm từ tàu chở dầu vào bể chứa của một hệ thống đường ống dẫn dầu…
Ngoài ra, ứng dụng của bài toán còn để giải các bài toán như: Bài toán đám cưới vùng
quê, bài toán về hệ thống đại diện chung, bài toán phân nhóm sinh hoạt, bài toán lập
lịch cho hội nghị …Trong phạm vi đề tài này tôi sẽ trình bày “bài toán luồng cực đại
trong mạng với khả năng thông qua các cung các đỉnh” và phải nhờ thuật toán của
Ford và Fulkerson để giải bài toán đặt ra và nêu một số ứng dụng của bài toán.
I. PHÁT BIỂU BÀI TOÁN
1.Bài toán
Giả xử trong đồ thị G = (V,E), ngoài khả năng thông qua của các cung c(u,v), ở
mỗi đỉnh v
∈
V còn có khả năng thông qua của đỉnh là d(v), và đòi hỏi tổng luồng đi
vào đỉnh v không còn vượt quá d(v), tức là
∑
∈
≤
Vw
vdvwf )(),(
Cần phải tìm luồng cực đại giữa s và t trong mạng như vậy.
Xây dựng một mạng G’ sao cho: mỗi đỉnh v của G tương ứng với hai đỉnh v
+
, v
Hình 1
Do luồng đi vào đỉnh v
+
phải đi qua cung (v
+
,v
-
) với khả năng thông qua d(v),
nên luồng cực đại trong G’ sẽ bằng luồng cực đại trong G với khả năng thông qua của
các cung và đỉnh.
Hai bước trên ta có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ thuật toán sau:
2
C[v,t]
C[u,t]
C[s,v]
C[s,u]
t
-
d
t
t
+
C[u,v]
v
-
d
v
v
+
n x n như sau:
Trong đó: d
i
là khả năng thông qua đỉnh i; C[i,j] khả năng thông qua cung [i,j].
3.2 Biểu diễn mạng G’ tương ứng với mạng G
Mạng tương ứng với G = (V,E), |V | = n là mạng G’ = (V’,E’), |V’| = 2 |V |, |E’|
= 2 |E | - 1. Được biểu diễn thông qua ma trận A’ cấp (2n x 2n) như sau:
3
d
i
,nếu i = j
c[i,j] ,nếu [i,j] ∈ E
0 ,nếu [i,j] ∉ E
A = ( a
ij
) =
A’ = ( a’
ij
) =
nếu i = j
c[i,j] nếu [i,j] ∈ E’
Begin
Mạng G
Mạng G’
Luồng cực đại trên G’
End
Thí dụ 2. Như thí dụ trên có mạng G như sau:
Ta có ma trận biểu diễn mạng G :
-
7
2
s
+
A =
s u v t
7 5 2 0 s
0 6 1 4 u
0 0 8 3 v
0 0 0 6 t
A’ =
s
+
s
-
u
+
u
-
v
+
v
-
t
+
t
-
0 7 0 0 0 0 0 0 s
+
Thuật toán
1
0
Xuất phát từ một luồng chấp nhận được f.
2
0
Tìm một đường đi tăng luồng P. Nếu không có thì thuật toán kết thúc. Nếu
có, tiếp bước 3 dưới đây.
3
0
Nếu
δ
(P) = +
∞
thuật toán kết thúc.
Trong đó
δ
(P) - Lượng luồng tăng thêm, hay nói khác là làm sự tăng luồng (flow
augmentation) dọc theo đường đi tăng luồng P một lượng thích hợp mà các ràng buộc
của bài toán vẫn thoả.
Sơ đồ của thuật toán Ford – Fulkerson có thể mô tả trong thủ tục sau đây:
Procedure Max_Flow;
(* Thuật toán Ford – Fulkerson *)
begin
(* Khởi tạo: Bắt đầu từ luồng với giá trị 0 *)
for u
∈
V do
5
C =
0 0 0 0 0 0 0 0 t
-
for v
∈
V do f(u,v):=0;
Stop:=false;
While not Stop do
if< Tìm được đường tăng luồng P> then <Tăng luồng dọc theo P>
else Stop:= true;
end;
Để tìm đường tăng luồng trong G
f
có thể sử dụng thuật toán tìm kiếm theo
chiều rộng ( hay thuật toán tìm kiếm theo chiều sâu) bắt đầu từ đỉnh s, trong đó không
cần xây dựng tường minh đồ thị G
f
. Ford- Fulkerson đề nghị thuật toán gán nhãn chi
tiết sau đây để giải bài toán luồng trong mạng. Thuật toán bắt đầu từ luồng chấp nhận
được nào đó trong mạng ( có thể bắt đầu từ luồng không) sau đó ta sẽ tăng luồng bằng
cách tìm các đường tăng luồng. Để tìm đường tăng luồng ta sẽ áp dụng phương pháp
gán nhãn cho các đỉnh. Mỗi đỉnh trong quá trình thực hiện thuật toán sẽ ở một trong ba
trạng thái: chưa có nhãn, có nhãn chưa xét, có nhãn đã xét. Nhãn của một đỉnh v gồm
2 phần và có một trong hai dạng sau: [+p(v),
ε
(v)] hoặc [-p(v),
ε
(v)]. Phần thứ nhất
+p(v) (-p(v)) chỉ ra là cần tăng (giảm) luồng theo cung (p(v),v) cung (v,p(v)) còn phần
thứ hai
ε
hoặc V
T
=
∅
, thuật toán kết thúc. Ngược lại thì chọn một đỉnh u
∈
V
T
để thăm và đưa nó ra khỏi V
T
. Xét tất cả các đỉnh cạnh u, tức là xét mọi cung có
dạng (u,v) và (v,u).
2
0
Nếu (u,v)
∈
E, F(u,v) < C(u,v) và v chưa gán nhãn thì gán nhãn nó và đưa v
vào tập V
T
.
6