VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ PHƯỢNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL RAIMUND POPPER.
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ VỀ MẶT TRIẾT HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ PHƯỢNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL RAIMUND POPPER.
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ VỀ MẶT TRIẾT HỌC
Chuyên ngành
: Triết học
Mã số
: 92.29.001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
hội mở................................................................................................................. 84
Chương 4: NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ VỀ MẶT TRIẾT HỌC
TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL POPPER............105
4.1. Những đóng góp về mặt triết học trong tư tưởng chính trị - xã hội của Karl
Popper...............................................................................................................105
4.2. Một số hạn chế về mặt triết học trong tư tưởng chính trị - xã hội của Karl
Popper...............................................................................................................127
KẾT LUẬN......................................................................................................14848
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN...........1522
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................153
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bên cạnh triết học và chính trị học Mác - Lênin, việc nghiên cứu về triết học
và tư tưởng chính trị phương Tây hiện đại trong đó có triết học Karl Popper cũng
được những người làm công tác lý luận ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây quan
tâm. Tuy nhiên, trong thời kỳ trước đổi mới, việc nghiên cứu về các trào lưu này
được tiến hành chỉ với mục đích vạch ra những sai lầm về mặt lý luận của các trào
lưu này. Nhìn chung, trong thời kỳ trước đổi mới, chủ nghĩa xã hội mô hình Liên Xô
chưa bộc lộ rõ nét những yếu kém của nó, chưa rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng,
do vậy khuynh hướng tán dương và bảo vệ chủ nghĩa xã hội mô hình này còn giữ
vai trò chủ đạo trong giới nghiên cứu lý luận, tất cả những ý kiến phản biện đều bị
coi là ‘xét lại’, ‘phản động’, ‘thù địch’. Trong bối cảnh lịch sử đó, việc nghiên cứu
về triết học phương Tây hiện đại thường thiếu thái độ khách quan, cầu thị, kết quả
nghiên cứu thường mang tính chủ quan, không phản ánh hết được những đóng góp
có giá trị của các trào lưu này.
Công cuộc đổi mới đất nước được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khởi
xướng từ năm 1986 không bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà là một cuộc đổi mới toàn
diện, cả trong lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Để đổi mới công tác lý luận, trước hết Đảng
xã hội chủ nghĩa Đông Âu đặt ra câu hỏi về nguyên nhân đích thực của tình trạng
này. Liệu có những khiếm khuyết trong lý luận về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản hay đây chỉ là những sai lầm về mặt thực tiễn? Mặt khác, các trào lưu tư
tưởng chống cộng, trong đó có triết học của Karl Popper tìm cách phủ nhận hoàn
toàn triết học Mác và chủ nghĩa cộng sản, đồng nhất triết học Mác với ‘chủ nghĩa
lịch sử’, coi xã hội cộng sản là xã hội ‘đóng’, đối lập với xã hội mở. Ngoài ra, trong
lĩnh vực nghiên cứu lý luận hiện nay cũng đang tồn tại một khuynh hướng sai lầm là
quá tán dương tư tưởng chính trị - xã hội của Karl Popper để phủ nhận hoàn toàn
chủ nghĩa Mác. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl
Popper một mặt kế thừa một số điểm hợp lý để bổ sung, phát triển triết học Mác,
mặt khác chỉ ra những sai lầm cực đoan trong tư tưởng của Karl Popper để bảo vệ
những giá trị không thể chối bỏ được của triết học Mác và những thành tựu của cách
mạng Việt Nam.
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta gắn liền với chuyển đổi mô hình của chủ nghĩa xã
hội từ kế hoạch hóa tập trung (cơ bản là ‘đóng’ ở nhiều mặt) sang mô hình chủ
2
nghĩa xã hội dựa trên cơ chế thị trường (biểu hiện cơ bản của xã hội mở về kinh tế,
văn hóa, giáo dục), với việc từng bước loại bỏ cơ chế xã hội bảo thủ, khép kín và
thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập với thế giới bên ngoài, không chỉ trong kinh
tế mà còn trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Chúng tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu
tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Karl Poppper, nhất là tư tưởng của ông về xã
hội mở” sẽ có những đóng góp nhất định cho yêu cầu này của nước ta hiện nay.
Việc nghiên cứu và giảng dạy lý luận nhất là lý luận triết học, chính trị -xã hội,
lịch sử ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, thường được tiến
hành theo một mục đích và phương pháp giáo điều, bảo thủ, thiếu tinh thần khoa
học thực sự, tức là chỉ tìm cách chứng minh cho tính đúng đắn tuyệt đối của chủ
nghĩa Mác - Lênin và phê phán sai lầm của các quan điểm chống đối. Hiện nay, việc
mở và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Đồng thời, việc vạch ra những hạn chế
cực đoan, phiến diện trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl Popper sẽ
góp phần bảo vệ những giá trị của chủ nghĩa Mác- Lênin và đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tư tưởng
chính trị - xã hội của Karl Raimund Popper. Những giá trị và hạn chế về mặt triết
học” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu phân tích một cách hệ thống để làm rõ
những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl
Popper, từ đó chỉ ra những giá trị cùng những hạn chế về mặt triết học của nó để
một mặt, bổ sung, phát triển lý luận triết học về chủ nghĩa xã hội, mặt khác vạch ra
những sai trái trong các luận điệu phủ nhận triết học Mác.
Để thực hiện được mục đích nêu trên, những nhiệm vụ mà luận án phải thực
hiện là:
- Làm rõ cuộc đời, sự nghiệp lý luận khoa học, bối cảnh lịch sử và những tiền
đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl Popper.
- Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội
của Karl Popper, trong đó có quan niệm của ông về chủ nghĩa tự do; sự phê phán
chủ nghĩa lịch sử; quan niệm và phương pháp của ông về xây dựng xã hội mở.
- Phân tích những giá trị trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl
Popper để bổ sung, phát triển triết học Mác, kế thừa và vận dụng trong công tác lý
luận và hoạt động thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời chỉ ra
những hạn chế phiến diện, cực đoan của nó nhằm bảo vệ tính đúng đắn của triết học
4
Mác, vạch trần những sai trái trong các luận điệu chống triết học Mác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nội dung tư tưởng triết học về
chính trị - xã hội của Karl Popper.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng của các
trường phái và triết gia phương Tây hiện đại, cụ thể là tư tưởng triết học về chính trị
- xã hội của Karl Popper với mục đích kế thừa những điểm hợp lý để bổ sung triết
học Mác – Lênin, đồng thời phê phán những biểu hiện cực đoan của nó để bảo vệ
tính đúng đắn của triết học Mác – Lênin. Đây là một vấn đề đang được đặt ra cấp
thiết đối với nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án góp phần đổi mới cách tiếp cận đối với nhiều vấn đề
xã hội, lịch sử; đóng góp ý kiến tham mưu cho các cấp Đảng và Nhà nước trong
việc điều chỉnh một số quan niệm về xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hiện dân chủ,
phát huy tối đa mọi tiềm năng sáng tạo của cá nhân và tập thể trong xây dựng xã hội
mới ở nước ta hiện nay. Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập lịch sử triết học phương Tây hiện đại nói chung và triết
học Karl Popper nói riêng ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản
của luận án bao gồm 4 chương, 13 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
Chương 2: Bối cảnh và tiền đề hình thành tư tưởng triết học về chính trị - xã
hộị của Karl Popper.
Chương 3: Những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học về chính trị - xã hội
của Karl Popper.
Chương 4: Những đóng góp và hạn chế về mặt triết học trong tư tưởng chính
trị - xã hội của Karl Popper.
6
CHƯƠNG 1
Hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu về Karl Popper tuy có tăng hơn nhưng vẫn
còn rất hạn chế. Hiện đã có ba trong số các tác phẩm của Karl Popper được dịch ra
tiếng Việt, trong đó chỉ có hai cuốn được xuất bản thành sách: cuốn “Sự nghèo nàn của
thuyết sử luận” (‘'Thuyết sử luận’ là từ dịch không chính xác, đúng ra là ‘chủ nghĩa
lịch sử’) và cuốn “Tri thức khách quan” do Chu Đình Lan dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội,
2012. 'Cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” đã được Nguyễn Quang A dịch và
công bố trên mạng internet nhưng chưa được xuất bản thành sách in. Tuy đã được dịch
nhưng việc chuyển ngữ từ tiếng Anh ra tiếng Việt chưa được tốt lắm, cho nên người
đọc gặp nhiều khó khăn với các thuật ngữ trong các sách này.
Tháng 11 năm 2012, một cuộc hội thảo quốc tế được tổ chức tại Viện Triết học
thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam có chủ đề “Triết học Áo và ý nghĩa hiện
thời của nó”, trong đó có mấy bài tham luận về triết học của Karl Popper. Kỷ yếu Hội
thảo đã được xuất bản thành sách do Phạm Văn Đức chủ biên [22].
Ở nước ta ngoài một số luận văn thạc sĩ, cho đến nay chưa có một luận án tiến
sĩ nào đã được bảo vệ về tư tưởng chính trị - xã hội của Karl Popper.
Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tư tưởng chính trị - xã
hội của Karl Popper có thể phân ra thành các loại như sau:
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ
LÝ LUẬN, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về bối cảnh hình thành tư tưởng triết
học về chính trị - xã hội của Karl Popper
Tác phẩm “Unended Quest: An Intellectual Autobiography” (Cuộc sưu tầm
chưa kết thúc: Một Tự tiểu sử trí tuệ) [111] là một nguồn tài liệu quý (vì do chính
ông kể lại) để nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper. Ông dành 3
mục: 1) Ký ức tuổi thơ, 2) Những ảnh hưởng đầu tiên và 3) Chiến tranh thế giới lần
thứ nhất [111, pp.2-11], để thuật lại khá đầy đủ bối cảnh xã hội ở thành phố Viên và
hoàn cảnh gia đình ông lúc bấy giờ. Đó là tình trạng đói nghèo, chính trị rối ren và
chính bối cảnh đó có nhiều thay đổi trong quan niệm của Karl Popper về triết học
Stanford Encyclopedia of Philosophy (Bách khoa thư triết học Stanford), cũng dành
một phần trong bài viết về Karl Popper để nói về thời thơ ấu, hoàn cảnh gia đình và
việc học hành, công việc xã hội đầu tiên của Popper.
9
Lý Quốc Tú trong nội dung đầu tiên của chương IV tác phẩm “Karl Raimund
Popper” [49], tác giả nói về sự mở rộng tầm mắt sang lĩnh vực triết học chính trị của
Popper, tác giả cho rằng cuộc sống và công việc của Popper ở New Zealand rất dễ chịu,
nhân dân ở đó rất khiêm nhường, niềm nở và hiếu khách, mọi người cảm thấy bình yên.
Trong khi ở châu Âu lại đang khói lửa chiến tranh; Phát xít Đức tấn công điên cuồng ở
trong nước. Và trong thời gian ở New Zealand, Popper đã hoàn thành hai cuốn sách
triết học chính trị: “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” và “Xã hội mở và những kẻ
thù của nó”. Tác giả trình bày rất kỹ bối cảnh ra đời của hai tác phẩm, và sự ảnh hưởng
của hai tác phẩm đó đến xã hội phương Tây lúc bấy giờ.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về tiền đề lý luận cho sự hình thành tư
tưởng triết học về chính trị - xã hội của Karl Popper
Gilles Dostaler trong “Chủ nghĩa tự do của Hayek”[8] nói về sự ảnh hưởng lẫn
nhau về tư tưởng giữa F. Hayek và Karl Popper. Hayek kiên trì tiến hành một cuộc
đấu tranh kép, một mặt chống lại sự can thiệp của nhà nước trong chủ nghĩa tự do
xã hội của Keynes, mặt khác chống chủ nghĩa xã hội, hai mặt được ông xem là kết
nối chặt chẽ với nhau và cuối cùng đều dẫn đến chủ nghĩa toàn trị. Công trình còn
đề cập đến bối cảnh và điều kiện gặp nhau giữa hai nhà triết học của nước Áo là
Hayek và Popper. Sau khi đọc xong các tác phẩm của Popper thì Hayek chấp nhận
ngay triết học của Popper. Ông nói: “Nhận ra điều này đã là đủ cho tôi nhưng khi
thấy Popper lập luận và biện minh một cách rõ ràng thì, một cách tự nhiên, tôi liền
chấp nhận triết học của ông vì triết học ấy đã khai triển điều tôi hằng cảm nhận. Từ
đó, tôi luôn đồng hành cùng với Popper. Cuối cùng, chúng tôi trở thành bạn rất thân.
quan hệ giữa Karl Popper với chủ nghĩa thực chứng nhóm Viên.
Tác giả Nguyễn Tấn Hùng trong tác phẩm “Một số trào lưu triết học và tư
tưởng chính trị phương Tây đương đại” [36] cho rằng quan điểm chính trị - xã hội
của Karl Popper là kết quả của một quá trình đối chiếu, lựa chọn có cân nhắc kỹ
lưỡng sau khi đã tiếp xúc với tất cả các trào lưu tư tưởng đang thịnh hành lúc bấy
giờ ở Áo, không chỉ về lý luận mà còn có thời gian tham gia hoạt động thực tiễn với
họ nữa. Karl Popper nghiên cứu Phân tâm học của Sigmund Freud và Alfred Adler,
có thời gian ông tình nguyện làm việc trong một bệnh viện phân tâm học nhi khoa
của Adler, nhưng cuối cùng, ông cũng phát hiện ra tính phi khoa học của học thuyết
này. Karl Popper cũng có tiếp xúc với các nhà khoa học ‘nhóm Viên’, tham dự các
11
cuộc thảo luận của nhóm dưới sự chủ trì của Moritz Schlick, với sự tham gia của
Rudolf Carnap, Otto Neurath, Viktor Kraft, Hans Hahn và Herbert Feigl, v.v., nhưng
ông cũng không trở thành hội viên chính thức của nhóm này; và do việc Karl
Popper phê phán các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa thực chứng lôgic nên về sau
ông không còn được mời tham dự nữa. Karl Popper cũng đã tham gia các hoạt động
chính trị của đảng xã hội và đảng cộng sản ở Áo, nhưng ông đã sớm phát hiện ra
tính không tưởng (utopia) của chủ nghĩa cộng sản nên đã từ bỏ nó và đứng hẳn về
phía chủ nghĩa tự do xã hội.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp triết học và
khoa học của Karl Popper
Các từ điển và bách khoa thư như “Từ điển Bách khoa Việt Nam”; “The
Internet Encyclopedia of Philosophy” (Bách khoa thư Triết học Internet);
“Wikipedia, the free encyclopedia” (Bách khoa mở Wiki); “The Stanford
Encyclopedia of Philosophy” (Bách khoa thư Triết học Stanford); “Encyclopædia
Britanica” (Bách khoa thư Britanica), “Tân Bách khoa thư triết học” của Liên bang
Nga (Новая Философская Энциклопедия) đều dành một phần quan trọng trong
Lập trường chính trị - xã hội của Karl Popper là “chủ nghĩa tự do xã hội”
(social liberalism). Chủ nghĩa tự do xã hội khác với các biến thể khác, như chủ
nghĩa tự do cổ điển (classical liberalism) và chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism) của
Friedrich Hayek và một số biểu hiện cực đoan của chủ nghĩa tự do đang tồn tại trên
thế giới như Đảng tự do (Liberitarian Party) ở Mỹ hiện nay. Chủ nghĩa tự do xã hội
một mặt đề cao vai trò của tự do cá nhân, nhưng mặt khác phản đối tình trạng bất
công xã hội, chủ trương giúp đỡ người nghèo khổ. Tư tưởng tự do xã hội của Karl
Popper đã có mầm mống từ lúc nhỏ trong bối cảnh xã hội Áo lúc bấy giờ và nhất là
do giáo dục và truyền thống của gia đình ông. Điều này được thể hiện trong ‘Tự tiểu
sử’, trong đó Karl Popper nói rằng người cha của ông là người theo chủ nghĩa tự do
xã hội không phải chỉ về mặt tư tưởng mà còn chủ động tổ chức những hoạt động
giúp đỡ người nghèo nữa. Ý thức về giúp đỡ người nghèo đã đưa Popper đến với
chủ nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa tự do xã hội.
Tác phẩm “Một số trào lưu triết học và tư tưởng chính trị phương Tây đương
đại” của Nguyễn Tấn Hùng cũng đã dành một phần nói về quan điểm triết học chính
trị - xã hội của Karl Popper. Sau khi rời khỏi Đảng Cộng sản Áo, Karl Popper
13
đứng hẳn về phía lập trường chủ nghĩa tự do xã hội. Tác giả điểm qua một vài đặc
trưng của chủ nghĩa tự do nói chung và ‘chủ nghĩa tự do xã hội’ nói riêng. Chủ
nghĩa tự do xã hội tuy cũng đề cao tự do cá nhân, phản đối gay gắt chế độ cai trị độc
tài, nhưng lại ủng hộ một số biện pháp can thiệp cần thiết của nhà nước để giải
quyết khủng hoảng kinh tế, đấu tranh chống bất công xã hội, tạo công ăn việc làm
và tạo phúc lợi xã hội. John Stuart Mill là một nhà triết học Anh đã góp phần quan
trọng vào việc phát triển hình thức mới này của chủ nghĩa tự do. Chính Karl Popper
đã thừa nhận người cha của mình là một người tự do chủ nghĩa thuộc trường phái
John Stuart Mill.
Bách khoa mở Wikipedia [128] có nói về tác động của sự kiện năm 1919 (cuộc
biểu tình do Đảng Cộng sản Áo tổ chức) đến sự thay đổi lập trường chính trị của
chủ nghĩa lịch sử. Tác giả trình bày tư tưởng của Karl Popper trong sự liên hệ với
các nhà triết học từ Platon, Aristotle đến Hêghen, Mác [101, pp.193-248].
Các từ điển và bách khoa thư ở Liên Xô trước đây tuy có đề cập dến quan
niệm về xã hội mở của Karl Popper nhưng lại quy lập trường của ông về sự biện hộ
cho tự do tư sản. Còn Tân bách khoa thư triết học Nga [119] tuy có trình bày cụ thể
quan niệm về xã hội mở của Karl Popper nhưng không có bình luận, phê phán. Nhà
triết học Nga T.I. Oizerman (Т.И. Оизерман) trong một số bài viết và nhất là trong
tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa không tưởng” (Марксизм и утопизм) có
nhiều chỗ đề cập đến tư tưởng về xã hội mở của Popper. Theo Oizerman, Karl
Popper không hoàn toàn bác bỏ mà còn đề cao những đóng góp nhất định của Mác
trong lý luận về giai cấp, trong sự phê phán của Mác đối với những bất công của
chủ nghĩa tư bản [Xem: 118].
Người phê phán quan điểm xã hội mở của Karl Popper mạnh mẽ nhất là nhà
mácxít Anh Maurice Cornforth với tác phẩm “The Open Philosophy and The Open
Society: A Reply to Dr. Karl Popper’s Refutations of Marxism” (Lawrence &
Whishart, London, 1968), được Đỗ Minh Hợp dịch từ tiếng Nga với tiêu đề “Triết
học mở và xã hội mở” [06]. Trong lời giới thiệu cuốn sách, nhà triết học Nga I.S.
Narxki viết: Cuốn sách này “dường như là kết quả hội ngộ của hai số phận trực tiếp
đối lập với nhau: ‘nhà lý luận, kẻ chống cộng số một’ Karl Popper và nhà triết học,
nhà mácxít nổi tiếng người Anh – M. Cornforth”. M. Cornforth viết tác phẩm này
với mục đích bảo vệ triết học Mác bằng hình thức trả lời những vấn đề mà các nhà
phê phán chủ nghĩa Mác đặt ra, và trong những người phê phán đó ông chọn Karl
15
Popper. Vì quyển sách ra đời vào năm 1968, trong khi mô hình chủ nghĩa xã hội kế
hoạch hóa tập trung đang thịnh hành, chưa gặp khủng hoảng, cho nên có nhiều điều
mà M. Cornforth bảo vệ cho đến nay đã lỗi thời, nhưng phải nói rằng đây là nguồn
tư liệu quý giá để chúng tôi tham khảo.
hết sức cơ bản quan niệm của Popper về xã hội mở và xã hội đóng. Có thể nói, đây
là nguồn tư liệu để chúng tôi đi vào nghiên cứu quan niệm của Popper về xã hội mở.
Lưu Phóng Đồng trong “Triết học phương Tây hiện đại”, tập IV [48], tuy dành
phần chủ yếu để phân tích tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper, nhưng
cũng có một đoạn ngắn nói về tư tưởng triết học chính trị của Karl Popper. Theo
Lưu Phóng Đồng, Karl Popper phản đối quyết định luận lịch sử. Ông cho rằng sự
phát triển của lịch sử xã hội không có tính quy luật, mọi người cũng không thể dự
định trước cho tương lai của xã hội. Theo ông, ‘Chủ nghĩa Utopia’ có liên hệ tự
nhiên với quyết định luận lịch sử; chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một
loại công trình xã hội kiểu Utopia. Vì thế, ông đề xướng ‘công nghệ xã hội từng
bước’, tức là tiến hành cải tạo từng bước, thiết thực, khả thi đối với xã hội, và lấy đó
để phản đối lý luận cách mạng xã hội của chủ nghĩa Mác, ông nói, chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa cộng sản của chủ nghĩa Mác là ‘xã hội đóng’, xã hội mà ông cố gắng
thực hiện lại là ‘xã hội mở’ [48, tr.240].
Sách “Một số trào lưu triết học và tư tưởng chính trị phương Tây đương đại”
của Nguyễn Tấn Hùng phân tích và trích dẫn nhiều đoạn quan trọng trong tác phẩm
của Popper “Xã hội mở và những kẻ thù của nó”. Kẻ thù của xã hội mở theo Popper
chính là những xã hội đóng được xây dựng theo mô hình của các lý thuyết xã hội
không tưởng (được Popper gọi là chủ nghĩa lịch sử). Tác giả khái quát những đặc
trưng cơ bản của xã hội mở được Karl Popper nêu ra trong tác phẩm của mình bằng
cách đối lập nó với những hình thức xã hội đóng. Một là, xã hội mở là xã hội do
mọi người sáng tạo một cách tự do, không phụ thuộc vào tính tất yếu và quy luật
lịch sử và tác giả đã đưa ra những nhận định và phê phán của mình về quan điểm đó
của Popper. Hai là, Popper cho rằng xã hội mở được xây dựng theo một “công nghệ
xã hội” nhất định được ông gọi là ‘kiến thiết xã hội từng phần’ đối lập với phương
pháp kiến thiết ‘toàn phần’ hay ‘không tưởng’. Karl Popper còn so sánh hiệu quả
của phương pháp cải biến xã hội toàn phần và xã hội từng phần, rồi từ đó chỉ ra tính
ưu thế của phương pháp cải tạo xã hội từng phần so với phương pháp cải tạo toàn
17
hướng của vị sư phụ nổi danh Karl Popper, mà ông có dịp được thụ giáo trong thời
18
gian theo học tại trường Kinh tế Luân đôn hồi cuối thập niên 1940 qua đầu thập
niên 1950. Soros cho rằng người ta nói nhiều về hội nhập kinh tế trong nền kinh tế
toàn cầu. Cơ chế thị trường đã thành công xuất sắc trong giải phóng tài năng kinh
doanh và tạo ra của cải. Nếu chỉ dựa vào cơ chế thị trường và nhấn mạnh thái quá
đến các giá trị thị trường, chủ nghĩa tư bản không thể đảm bảo tự do, dân chủ, và
pháp trị; có thể, và nó đã dẫn đến những thảm họa như hai cuộc Chiến tranh thế
giới, các cuộc khủng hoảng tài chính. Vì sao chúng xảy ra? Làm sao có thể tránh
được những thảm họa như vậy, hay chí ít làm nhẹ bớt tác động tai họa của chúng?
Trong nội dung phần I, tác giả đề cập đến khái niệm “Xã hội mở”, khái niệm này
được Henri Bergson dùng đầu tiên năm 1932, và Karl Popper phát triển và làm cho
khái niệm được biết đến rộng rãi. Soros chịu ảnh hưởng mạnh bởi Karl Popper. Cho
nên thông qua việc tìm hiểu quan điểm của ông về các nguyên tắc chỉ đạo cho một
xã hội mở toàn cầu, chúng ta sẽ phần nào hiểu được quan niệm về xã hội mở của
Popper. Đây là một cuốn sách về triết học thực tiễn, nó có ích cho các học giả, các
nhà hoạch định chính sách, và tất cả những ai quan tâm đến những vấn đề chính trị
và kinh tế thế giới, và dĩ nhiên có ý nghĩa đối với bản thân nghiên cứu sinh trong
quá trình làm luận án.
1.2.3. Những công trình đề cập đến sự phê phán chủ nghĩa lịch sử của Karl
Popper
Bách khoa thư mở Wikipedia trong mục từ ‘Historicism’ khái quát quá trình
tiến hóa của khái niệm này qua một số nhà triết học như Karl W. F. Schlegel, Michel
de Montaigne, G. B. Vico, Georg Hegel, Franz Boas và sau đó phân tích những đặc
trưng của khái niệm này ở Karl Popper.
Trong bài tham luận Hội thảo về “Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó”,
tác giả Nguyễn Tấn Hùng phân tích lập luận 5 điểm nhằm bác bỏ khả năng nhận
Tác giả Nguyễn Minh Hoàn: “Tư tưởng triết học chính trị của Karl Raimund
Popper trong Sự nghèo nàn của thuyết sử luận nhìn từ phương pháp luận mácxít”.
[27]. Đây cũng là bài viết của tác giả tham gia hội thảo quốc tế “Triết học Áo và ý
nghĩa hiện thời của nó”. Trong bài viết này, tác giả đi vào phân tích những quan
điểm triết học chính trị chủ yếu của Popper, với phương pháp luận của mình,
Popper đánh giá về chủ nghĩa lịch sử, nhất là quan điểm lịch sử của triết học Mác.
Tác giả còn đi vào trình bày quan điểm của Popper khi ông phân chia chủ nghĩa lịch
20
sử thành ‘chủ nghĩa phản tự nhiên’ và ‘chủ nghĩa duy tự nhiên’ và tiến hành phê
phán nó. Có thể nói, tuy bài viết ngắn nhưng tác giả đã khái quát cơ bản tư tưởng
triết học chính trị của Popper và đưa ra những nhận xét quý báu góp phần làm rõ
hơn tư tưởng của Popper khi phê phán chủ nghĩa lịch sử.
1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ
NHỮNG HẠN CHẾ VỀ MẶT TRIẾT HỌC TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI CỦA KARL POPPER
1.3.1. Những công trình đánh giá những giá trị về mặt triết học trong tư
tưởng chính trị - xã hội của Karl Popper
Tác giả Lương Đình Hải trong “Karl Popper - xã hội mở và những kẻ thù của
nó” [24], cho rằng việc nghiên cứu các quan điểm của Popper, có thể giúp chúng ta
hiểu sâu thêm nhiều luận điểm của triết học Mác và toàn bộ chủ nghĩa Mác nói
chung, đồng thời hiểu rõ hơn cả những quan điểm của các nhà mácxít đương đại.
Đương nhiên, không thể đồng ý với Popper trên rất nhiều điểm về lịch sử loài
người, về xã hội, về lập trường và cách lập luận của ông, nhưng việc đọc ông giúp
chúng ta hình thành nên trong tư duy của mình cách nhìn hai mặt, suy tư bằng hai
con mắt, hai lỗ tai và bằng tư duy hai chiều, có phê phán, với tất cả những gì mà
chúng ta đã học. Việc đó, một mặt, làm cho chúng ta hiểu sâu hơn các nguyên lý của
chủ nghĩa Mác; mặt khác, hiểu sâu thêm cả những tư tưởng hợp lý và những tư
1.3.2. Những công trình đánh giá về những hạn chế về mặt triết học trong
tư tưởng chính trị - xã hội của Karl Popper
Maurice Cornforth trong tác phẩm “Triết học mở và xã hội mở”, có thể nói đây
là một tác phẩm mà Cornforth phê phán Popper một cách kịch liệt bằng cách bác bỏ
các luận điểm của ông nhằm bảo vệ triết học Mác.
+ Popper cho rằng, triết học Mác là triết học ‘đóng’ tức là ‘giáo điều, cực
đoan’, không có khả năng hoàn thiện và phát triển, còn chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản là sự hiện thực hóa thực tiễn của chúng ta là ‘xã hội đóng’.
Cornforth phê phán quan điểm này của Popper và cho rằng chính triết học mácxít
mới có tính chất “mở” theo đúng nghĩa. Nó là một học thuyết sáng tạo, luôn phát
triển, mở để tiếp thu những thành tựu mới của thực tiễn xã hội và khoa học. Tác giả
cho rằng chính chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một chế độ xã hội “mở”
theo nghĩa tính dân chủ đích thực và khả năng của nó luôn được hoàn thiện và tiến
22