Cơ sở lý thuyết nhượng quyền thương mại - Pdf 55

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
(FRANCHISING)
1.Khái niệm:
Nhượng quyền kinh doanh về tổng thể là một phương pháp phân phối hàng hoá và
dịch vụ mà trong đó, người có quyền, với một khoản thù lao, cho phép người nhận quyền
độc lập tiến hành kinh doanh bằng cách sử dụng các dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, cũng
như phương pháp, bí quyết kinh doanh của người có quyền, và dưới sự hướng dẫn, trợ
giúp và kiểm soát chất lượng của người đó. Trong hoạt động nhượng quyền kinh doanh,
người có quyền có thể trong cùng một thời gian cho phép nhiều pháp nhân khác nhau cùng
sử dụng "quyền kinh doanh" của mình. Bằng cách đó, người có quyền có thể xây dựng
được một mạng lưới, hệ thống phân phối hàng hoá, và nhờ đó, tối đa hoá được lợi nhuận.
Với sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động nhượng quyền kinh doanh, nhiều
định nghĩa về nó đã được đưa ra. Do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các định nghĩa này thường khác nhau. Dựa trên sự
khác nhau trong việc quản lý điều chỉnh các hoạt động nhượng quyền kinh do anh, có thể
phân chia các nước trên thế giới thành bốn nhóm nước như sau:
(I) Nhóm các nước với hệ thống pháp luật bắt buộc (hoặc khuyến khích sự tự
nguyện) công khai chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền kinh doanh; (II) nhóm
các nước với hệ thống pháp luật khuyến khích sự tự nguyện, công bố chi tiết nội dung của
thoả thuận nhượng quyền kinh doanh; (III) nhóm các nước có luật cụ thể, điều chỉnh hoạt
động nhượng quyền kinh doanh; (IV) nhóm các nước điều chỉnh hoạt động nhượng quyền
kinh doanh theo luật về chuyển giao công nghệ. Để hiểu rõ hơn về nhượng quyền kinh
doanh, chúng ta sẽ xem xét định nghĩa về nhượng quyền kinh doanh tại bốn quốc gia đại
diện cho từng nhóm nước nói trên, đó là: Mỹ, Châu Âu, Nga, Mê hi cô.
Còn Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise
Association), hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã định nghĩa nhượng quyền kinh
doanh như sau: "Nhượng quyền kinh doanh là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao
và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới
doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào
tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp
kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu

sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative
methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand
owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm,
hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó." Định nghĩa này phản ánh một phần
quan điểm của Mêhicô là một nước đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu
công nghệ và bí quyết kinh doanh từ nước ngoài.
Ở Nga, thỏa thuận nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa là "Sự nhượng
quyền thương mại" (commercial concession). Chương 54, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa
bản chất pháp lý của "sự nhượng quyền thương mại" như sau: "Theo Hợp đồng nhượng
quyền thương mại, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một
khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt
động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao
gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các
quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá , nhãn
hiệu dịch vụ,.." Tương tự như định nghĩa của EU, định nghĩa của Nga nhấn mạnh tới việc
Bên giao chuyển giao một số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho Bên nhận để đổi lấy
những khoản phí nhất định, mà không đề câp đến vai trò, nghĩa vụ của bên nhận.
Tất cả các định nghĩa về nhượng quyền kinh doanh trên đây đều dựa trên quan
điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các điểm chung
trong tất cả những định nghĩa này là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân phối
(marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các
quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát
triển và sở hữu; để được phép làm việc này, Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một
số hạn chế do Bên giao quy định.
Theo quan điểm của 1 tác giả Việt Nam, nhượng quyền kinh doanh tại Việt Nam
được định nghĩa như sau: “Nhượng quyền kinh doanh là một hoạt động thương mại, trong
đó một bên (người có quyền ), với một khoản thù lao, cho phép bên kia (người nhận
quyền) quyền độc lập phân phối hàng hoá và dịch vụ theo phương thức và hệ thống được
xây dựng, bởi người có quyền và với sự kiểm soát và trợ giúp đáng kể và thường xuyên
của người có quyền; và quyền được sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền, gắn liền

thuê lại quyền đó).
2.3.Các quy định về Phí nhượng quyền.
Quyền kinh doanh đó được bên bán (franchisor) bán cho bên mua (franchisee) để
thu về một số tiền ban đầu, thường gọi là phí gia nhập hay Phí nhượng quyền (franchise
fee). Số tiền này phải giao ngay sau khi hợp đồng được ký kết. Hợp đồng nhượng quyền
(franchise agreement) này sẽ chi tiết hoá tất cả những điều khoản ràng buộc và nghĩa vụ
của cả bên mua và bên bán, cũng như thời gian hợp đồng có hiệu lực (thường là vài năm).
Hợp đồng này sẽ được ký lại khi hết hiệu lực.
Phí nhượng quyền ban đầu chỉ bao gồm quyền sử dụng tên và hệ thống sản xuất,
điều hành, đôi khi bao gồm cả việc đào tạo theo chế độ, những thủ tục, tài liệu hướng dẫn,
và một số chi tiết phụ trợ khác. Phí này không gồm những thứ như: tài sản cố định, bàn
ghế, bất động sản…
Nhượng Quyền Thương Mại – Nhóm Ciao Trang 3
Ngoài phí nhượng quyền, bên mua còn phải trả một loại phí khác gọi là Phí thành
viên (royalty fees) hay những khoản thanh toán khác theo thỏa thuận để tiếp tục kinh
doanh. Phần chi phí này thường được trích ra từ doanh thu bán hàng, nhưng cũng có thể là
một khoản xác định. Tất cả những điều khoản này phải quy định rõ trong hợp đồng
nhượng quyền. Phí này được sử dụng vào mục đích duy trì các loại dịch vụ tư vấn và hỗ
trợ mà bên bán sẽ cung cấp cho bên mua. Bên bán cũng có thể cung cấp nguyên vật liệu
trực tiếp cho bên mua.
Ngân sách dành cho quảng cáo được chi trả định kỳ. Khoản tiền này thường được
đưa vào tài khoảng chung để sử dụng vào chiến dịch quảng cáo hay khuyến mãi của cả hệ
thống trên phạm vi địa phương hay toàn quốc. Quy định: những ràng buộc của hợp đồng
Thành công của hầu hết các đơn vị nhượng quyền đều dựa trên hệ thống hoạt
động, những phương thức và sản phẩm có sẵn. Chính vì thế, công ty nhượng quyền buộc
phải bảo vệ những thông tin mang tính độc quyền cũng như thương hiệu của mình. Để
thực hiện điều đó, họ đặt ra những điều khoản ràng buộc trong hợp đồng, nhằm chi phối
những hoạt động của các đơn vị được nhượng quyền.
Ví dụ, một trong những điều khoản ràng buộc thường thấy là bên mua quyền
không được thành lập hay điều hành bất cứ cơ sở nào khác thuộc lĩnh vực kinh doanh

- Có sẵn một thương hiệu nổi tiếng: đa số những thương hiệu franchisise đã được thị
trường chấp nhận và có tiếng tăm.
- Xác suất thành công cao: xác suất thành công của các DNNQTM cao hơn rất nhiều
so với các doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh lần đầu mà thương hiệu thì chưa ai
biết đến.
- Được sự hỗ trợ tối đa từ chủ thương hiệu: các hỗ trợ như về việc tuyển dụng, đào
tạo năng lực, thiết kế cửa hàng, quảng cáo và tái đào tạo.Đặc biệt là người nhận
NQTM sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ chuỗi franchise đã được tạo dựng và kinh
doanh hiệu quả bởi chủ thương hiệu.
- Dễ vay vốn ngân hàng: do xác suất thành công cao hơn nên các ngân hàng thường
tin tưởng .Nói cách khác, hầu như tất cả các DN kinh doanh NQTM lớn trên thế
giới đều chủ động đàm phán, thuyết phục các ngân hàng ủng hộ các đối tác bằng
cách cho vay với lãi suất thấp.
2.6.Những rủi ro:
Trong khi dự báo về khả năng bùng nổ phương thức nhượng quyền kinh doanh, một
phương thức có tỷ lệ thành công trên thế giới hơn 90%, thì NQTM vẫn có những rủi ro
được khuyến cáo để DN có những công tác chuẩn bị như :
- Doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ mức độ thành công, mức độ hỗ trợ của DN nhượng quyền
thương mại cho người nhận nhượng quyền vì một người nhượng quyền thương hiệu tốt sẽ
giúp người nhận quyền yên tâm về các vấn đề kỹ thuật, công nghệ…
- NQKD ở các nước thường quy định cung cấp đầy đủ thông tin và nộp hồ sơ nhượng quyền
kinh doanh cho các cơ quan của chính phủ để đảm bảo quyền lợi của người nhận nhượng
quyền kinh doanh.
3.Xây dựng và vận hành một doanh nghiệp nhượng quyền thương mại:
Một DN NQTM được xây dựng và vận hành theo cách hơi khác với một DN tư
nhân thông thường.
- Tính hệ thống : tính hệ thống là điểm mạnh của các doanh nghiệp NQTM và
được chuyên nghiệp đến mức cao nhất để đảm bảo hiệu quả kinh doanh tối
đa,đây là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp NQTM.Những
doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ hoạt động độc lập thường không đáp ứng

Hoạt động nhượng quyền kinh doanh được coi là khởi nguồn tại Mỹ, vào giữa thế
ký 19, lần đầu tiên trên thế giới. Hiện franchising đã xuất hiện ở mọi khu vực trên thế giới
và tại đa số các quốc gia với 16.000 hệ thống trên toàn cầu. Nhượng quyền thương mại là
phương thức kinh doanh được các tập đoàn lớn trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực phân
phối, dịch vụ sử dụng. Hiện nay, hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại 160 nước trên thế
giới với tổng doanh thu lên tới 18,3 tỷ USD năm 2000.
Ở Việt Nam, hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh. Khởi
đầu từ những năm 1990, với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các
hoạt động đó đã có doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996, trên 4 triệu USD vào năm 1998,
và từ đó đến nay liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng dự báo 15-20%/năm.
Các hệ thống nhượng quyền kinh doanh toàn cầu như: Kentucky, Burger Khan,
Five Star Chicken, Jollibee, Carvel, Baskin Robbins, Texas Chicken, Kentucky Fried
Chicken, Hard Rock Cafộ, Chili's, đã đầu tư vào Việt Nam sau khi thành công tại các thị
trường lân cận như: Nhật Bản, Indonexia, Đài loan, Trung quốc, Thái lan, Philippin. Các
hệ thống khác như Dunkin Donuts and McDonald's hiện đã kết thúc giai đoạn nghiên cứu
thị trường. Cùng với sự đầu tư vào Việt Nam của các hệ thống toàn cầu, các hệ thống
nhượng quyền kinh doanh của Việt nam cũng đã được hình thành và phát triển như: Cà
phê Trung nguyên, Qualitea,... Đặc biệt, Cà phê Trung Nguyên đã xây dựng được một hệ
thống kinh doanh trên toàn bộ Việt Nam và đang mở rộng ra nước ngoài. Đến thời điểm
này, đã có 3 doanh nghiệp trong nước thực hiện nhượng quyền thương mại là Cà phê
Trung Nguyên, bánh Kinh Đô và Phở 24; ngoài ra còn có 6 nhà bán lẻ nước ngoài đang
hoạt động tại VN là Bourbon Group, Metro Cash&Carry, Lotteria, KFC, Medicare,
Parkson.
Với những ưu thế như chính trị ổn định, tỷ lệ người biết chữ cao, thị trường trẻ
với 70% dân số dưới 30 tuổi, sức mua ngày càng tăng, VN đang có nhiều lợi thế để thực
hiện các hoạt động nhượng quyền thương mại. Ông Luke Kim, Giám đốc Công ty A.S
Louken của Singapore cho biết hầu hết các thương hiệu trên thế giới nhượng quyền thành
công tại Singapore như thương hiệu giày da thời trang Charles & Keith, Chapter 2 và một
số thương hiệu thức ăn nhanh như Break Talk, Cavana đều đang có ý định nhắm đến VN.
"Thị trường VN đã bắt đầu chín muồi để các thương hiệu trong và ngoài nước áp dụng

sinh những tác động tiêu cực tới môi trường kinh doanh nếu như nó được phát triển một
cách tự do, thiếu kiểm soát và nhất là thiếu sự giám sát, quản lý từ phía Nhà nước.
Điều đáng nói là nhượng quyền kinh doanh vẫn là một khái niệm mới đối với các
nhà làm luật, các quan toà, cũng như cộng đồng kinh doanh Việt Nam. Trong tất cả các văn
bản pháp lý hiện hành, chỉ có duy nhất một cụm từ đề cập đến khái niệm này trong điều
4.1.1 Thông tư 1254/BKHCN/1998 của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường được ban
hành nhằm hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định 45/ND-CP về chuyển giao công
nghệ. Toàn văn như sau:
Việc phân cấp phê duyệt Hợp đồng quy định tại Điều 32 Nghị định 45/1998 được
hiểu như sau:
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phê duyệt:
"Các hợp đồng với nội dung cấp li xăng, sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, kèm theo
các bí quyết sản xuất, kinh doanh được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam có giá trị
thanh toán cho một Hợp đồng trên 30.000 USD (hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh
- tiếng Anh gọi là franchise)"
Có thể thấy, khái niệm về hợp đồng nhượng quyền kinh doanh được mô tả ở trên
không thể hiện được rõ bản chất của nó, mà chỉ nhằm tháo gỡ tạm thời các vấn đề nảy sinh
trong quá trình thực hiện Nghị định 45/ND-CP về chuyển giao công nghệ.
Ngoài ra, Thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài hoạt động thương
mại tại Việt Nam muốn nhượng quyền thương mại phải đăng ký với Bộ Thương mại. Hợp
đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có
giá trị pháp lý tương đương và phải được đăng ký với Bộ Thương mại.
Mô hình nhượng quyền trên thế giới đã được áp dụng rất phổ biến trên nhiều loại
hình kinh doanh và nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên tại Việt Nam, hoạt động nhượng
quyền vẫn còn chưa phát triển mạnh. Để đánh giá cơ hội hoạt động nhượng quyền trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, Lantabrand.com đã rút gọn và đưa ra nhận xét với 40 loại hình
phù hợp nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam . Doanh nghiệp của bạn phù hợp với loại
hình nhượng quyền nào?
Nhượng Quyền Thương Mại – Nhóm Ciao Trang 8
STT Loại hình sản phẩm dịch vụ Khuyến nghị của LANTABRAND

dụng
Retail stores: specialty
Thônq qua kinh doanh chuyên về 1 mặt
hàng sẽ là lợi thế lớn giúp thương hiệu trở
nên mạnh hơn và dễ nhượng quyền hơn.
5
Cửa hàng bán
lẻ đa dụng
Retail stores: variety
Đáp ứng nhiều nhu cầu của khách hàng và
chú trọng vào sự tiện lợi , vào giá cả. Việc
nhượng quyền mở rộng tính qui mô và tính
kinh tế cho hệ thống cửa hàng này.
6
Cửa hàng
bánh ngọt
Food : pastry, baked
Kinh Đô đã rất thành công và hiện nhân
rộng mô hình nhượng quyền cho các cửa
hàng tiếp theo, tuy nhiên thị trường này vẫn
còn rất lớn
7
Cửa hàng
kem, sữa chua
Food: ice-cream,
yoghurt
Các cửa hàng kem tại VN hiện nay đều
đang nỗ lực chuẩn hoá hình ảnh để chuẩn
bị lên kế hoạch nhượng quyền cho mình.
8

Cho thuê quần
áo cưới - dự
tiệc
Formal / wedding wear
rental
Đây là dịch vụ đáng xem xét vai trò của
nhượng quyền vì nó đáp ứng nhu cầu thiết
thực và có thể nhân rộng nhanh chóng.
13 Cho thuê trang Rental equipment Việc thuê mướn trang thiết bị sẽ phục vụ
Nhượng Quyền Thương Mại – Nhóm Ciao Trang 10
thiết bị
nhu cầu sử dụng trong ngắn hạn, và việc
mở rộng các cửa hàng cho thuê sẽ làm tăng
tính qui mô và hiệu quả cho họ.
14
Cho thuê xe -
Dịch vụ về xe
Auto rentals -
Automotive services
Dịch vụ này phát triển mạnh ở các khu đô
thị và do đó việc nhượng quyền rất khả thi.
15 Chụp hình Photography
Các cửa hàng photosticker ( chụp lấy ngay)
mọc lên rất nhanh, cũng với các dịch vụ
tương tự, hứa hẹn mô hình nhượng quyền
như cơ hội phát triển mạnh.
156
Dịch vụ chăm
sóc trẻ em
Children's services

Storage services
Sự bùng nổ đô thị sẽ giúp dịch vụ này phát
triển mạnh, việc nhượng quyền chỉ cần có
hệ thống thương hiệu và có chiến lược phát
triển hợp lý để nhân rộng mô hình.
21
Dịch vụ mua
sắm
Shopping services
Đưa sự tiện lợi lên hàng đầu, có thể thông
qua thương mại điện tử để phát triển và
nhân rộng mô hình này. Nhượng quyền sẽ
dựa trên một hệ thống dịch vụ mạnh hỗ trợ
KH.
22
Dịch vụ sức
khoẻ
Health services
Các dịch vụ thể hình, dịch vụ massage, spa
hiện nay đang phát triển rất mạnh và cần
kiểm soát thương hiệu trước khi nhượng
quyền.
23
Dịch vụ viễn
thông
Telecommunications
services
Viễn thông đang được mở rộng cùng với sự
hỗ trợ của chính phủ, và nhượng quyền để
phát triển mô hình viễn thông sẽ là bước kế

đến việc xây dựng thương hiệu và kế hoạch
nhượng quyền để nhân rộng mô hình của
mình.
29
Khách sạn và
phòng trọ
Hotels and motels
Mô hình nhượng quyền được áp dụng rất
phổ biến trên thế giới đối với loại hình này,
vì các khách sạn không chỉ có thương hiệu
mà còn là mô hình quản lý chuyên nghiệp.
30 Mỹ phẩm Cosmetics
Các cửa hàng mỹ phẩm và chăm sóc sắc
đẹp sẽ dựa vào uy tín và "bí quyết công
nghệ" , một trong những yếu tố cần thiết để
thành công của nhượng quyền.
31 Nữ trang Jewellery
Đòi hỏi chi phí cao, nhượng quyền để huy
động vốn là 1 phương thức hữu hiệu khi
muốn mở rộng qui mô của mình.
32 Nhà hàng Food: restaurants
Nhà hàng thức ăn nhanh được xem là khai
sinh cho mô hình nhượng quyền, vì đây là
1 trong những lợi thế lớn của ngành này.
33 Nhà sách Book Stores
Nhượng quyền là mô hình kinh doanh hiệu
quả đối với các nhà sách, giúp cửa hàng
sách đạt được lợi thế về qui mô.
34
Quán cà phê,

thương hiệu và hệ thống chuẩn hoá -->
nhượng quyền là cơ hội kinh doanh lớn
38 Tiệm uốn tóc Hair salons
Chưa thật sự quản lý được thương hiệu nên
vẫn còn chần chừ trong việc nhượng
quyền.
39
Thiết bị gia
dụng
Home appliancaes
Chỉ tập trung vào giá chứ chưa chú ý xây
dựng thương hiệu cho mình, vì thế nhượng
quyền đòi hỏi có thời gian.
40
Vi tính/ Điện
tử
Computer / electronics
Các dịch vụ mua bán, sửa chữa và bảo
hành vi tính / điện tử có thể sử dụng mô
hình nhượng quyền rất tốt.
Việt Nam đang được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một thị trường lý
tưởng của hoạt động bán lẻ. Trong vài năm tới, hoạt động này sẽ bùng nổ với sự đổ bộ của
nhiều nhãn hiệu trong và ngoài nước thông qua phương thức NQTM.
Nhượng Quyền Thương Mại – Nhóm Ciao Trang 13
II.HỆ THỐNG NHƯỢNG QUYỀN TIÊU BIỂU:
1.KFC - KENTUCKY FRIED CHICKEN
1.1.Giới thiệu về công ty KFC :
Thương hiệu KFC (Kentucky Fried
Chicken) được thành lập bởi ông Harland Sanders. Hiện
KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất và nổi

được giám sát cẩn mật mà cả trang thiết bị và nhân viên nhà hàng cũng bị đặt trong tình
trạng vệ sinh cao độ.
KFC gia nhập thị trường thức ăn nhanh VN từ năm 1997. Đến năm 2002, KFC đã
có 5 cửa hàng. Thị trường ngày càng được mở rộng hơn theo chiều hướng phát triển chung
của KFC trên toàn thế giới. Tính đến nay, tại TP.HCM, KFC đã có tất cả 17 cửa hàng và
con số này sẽ còn tăng nhanh trong một vài năm tới. Dịch cúm gà H5N1 đã gây cho KFC
không ít khó khăn. Tuy nhiên KFC Việt Nam luôn trong tư thế sẵn sàng để đón nhận rủi ro
này. KFC luôn kiểm soát được số gia cầm sẽ được đưa vào chế biến. Vấn đề vệ sinh, an
toàn thực phẩm cũng được đảm bảo vì số gia cầm trước khi được đưa vào chế biến đều đã
qua sự kiểm duyệt gắt gao của cơ quan Nhà nước.
Nhượng Quyền Thương Mại – Nhóm Ciao Trang 14
KFC tại Việt Nam mới đầu tung ra sản phẩm chủ yếu là gà rán tại các địa
điềm: nhà hàng, siêu thị, cửa hàng,….Đây là hình thức kinh doanh mới, sản phẩm được
đưa ra các kênh phân phối, đến tận các điểm bán lẻ.
Sau khi KFC đã được người tiêu dùng chấp nhận, thì công ty không ngừng đưa ra
những sản phẩm mới như: thức ăn cho trẻ em, sà lách, tráng miện, nước giải khác…trên
các địa điểm hiện có để thu hút khách hàng hơn.Và gần đây nhất, Thống đốc bang
Washington, ông Gary Locke trực tiếp đi tiếp thị cho món khoai tây chiên và táo tươi nổi
tiếng nhất nước Mỹ của bang Washington cho các khách hàng Việt Nam. Ông đã mời
nhiều khách hàng Tại siêu thị Metro An Phú (quận 2), Thống đốc tự bưng khay mời người
tiêu dùng Việt Nam nếm thử những quả táo tươi chín mọng vừa được ông trực tiếp mang
sang từ tiểu bang Washington xa xôi...
Sẽ còn bất ngờ hơn nữa nếu biết rằng ngài Thống đốc đã dành ngay những giây
phút đầu tiên đặt chân đến VN không phải để đi tham quan, mà là cho hoạt động quảng bá
khoai tây và táo, và tiếp xúc với báo giới, khách hàng để tăng thêm lòng tin cậy của người
dân Việt Nam đến KFC, vì thị trường Việt Nam đang tiêu thụ ngày càng nhiều khoai tây
của vùng Washington.
KFC hoạt động tại thị trường Việt Nam ngày càng mạnh, thể hiện qua sự ra đời
liên tiếp của các cửa hàng KFC, đặc biệt là tại Tp.HCM. Sau đây là 1 số địa điểm cửa hàng
của KFC:

đầu tư để mở 1 chi nhánh KFC. Chi phí để mở 1 chi nhánh KFC là 25000 USD. Theo qui
định tất cả đều được thanh toán bằng tiền mặt. Bên thuê (franchisee) có thể đầu tư vốn
trong phạm vi tài chính của mình, đầu tư ban đầu có thể thấp hơn so với bảng báo giá dưới
đây:
Hạng mục Phí thành lập mức 1 Phí thành lập mức 2
Lệ phí nhượng quyền 25.000$ 25.000$
Quảng cáo 5.000$ 5.000$
Thiết bị 250.000$ 250.000$
Tồn kho ban đầu 10.000$ 10.000$
Bất động sản 832.000$ 1.357.000$
Phí đào tạo 2.300$ 2.300$
Những chi phí và quỹ khác (cho 3
tháng)
42.850$ 33.000$
Tổng đầu tư 1.142.300$ 1.732.300$
Ngoài lệ phí nhượng quyền, bên thuê còn phải chi trả 1 số khoản đầu tư ban đầu
như đã nêu trong bảng trên. Và với 1 khoản chi phí tổng cộng này, bên thuê có thể mở 1
chi nhánh chính thức mang thương hiệu KFC.
Khi đã đi vào hoạt động, Chi nhánh KFC (bên thuê) phải trả cho công ty tiền bản
quyền khoảng 4% hoặc 600 USD/tháng, phí quảng cáo trong khu vực 3% và quảng cáo
toàn quốc khoảng 2% trong tổng thu nhập.

Và khi đã chính thức trở thành 1 chi nhánh KFC, chi nhánh đó sẽ được xem như
là một đội “những khách hàng kỳ quặc”, mà mục đích của họ là đảm bảo thực khách luôn
luôn nhận được sự phục vụ tốt nhất. Sở giao dịch và hệ thống đảm bảo chất lượng cũng sẽ
cung cấp cho các chi nhánh nguồn thực phẩm an toàn, sự huấn luyện chu đáo với các cách
thức kiểm tra sổ sách. Đồng thời, công ty KFC sẽ đồng ý bảo trợ độc quyền trong bán kính
1,5 dặm với số dân khoảng 30.000 người.
Kết quả của sự hợp tác chặt chẽ giữa công ty và các franchisee là các đại lý KFC
có quyền tự do chọn lựa và chuyển nhượng các chi nhánh với nhau.Các đại lý đa chi nhánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status