Những tháng ngày thăng hoa trong sáng
tác tình khúc của Trịnh Công Sơn
Mới đó mà đã gần đến ngày giỗ thứ 8 của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Từ ngày anh mất
(01/04/2001) đến nay, tôi đã đọc nhiều tác phẩm viết về người nhạc sĩ thiên tài này và tôi
có cảm giác là người ta (không biết cố ý hay vô tình) thường viết rất ít hoặc viết một cách
thiếu chính xác nếu không nói là hời hợt và nặng phần hư cấu về những tháng ngày anh đã
sống và sáng tác tình ca rất khoẻ, rất thành công suốt thời gian 1962 - 1964 ở Quy Nhơn.
Theo tôi không gian Quy Nhơn và thời gian 62 - 64 là một khoảng đời mà nếu hiểu rõ và
đánh giá đúng thì chúng ta - những người đã viết và sẽ viết về anh - không được quyền cắt
bỏ hoặc viết sai lệch về anh trong giai đoạn đó.
Trịnh Công Sơn đã đi vào miền bất tử cùng với những tình khúc bất hủ của anh. Tôi nghĩ,
trong tương lai sẽ có người viết tiểu sử của anh dựa vào những tư liệu góp nhặt được trên
sách báo sau khi anh mất, mà những tư liệu này như thế nào, tôi đã đề cập ở trên.
Tác giả NQC (thứ hai, từ phải) & TCS (hình như chưa bao giờ rời kính).
(Ảnh tư liệu NQC)
Nhân danh là một người bạn cùng học, là một người em luôn sát cánh cùng anh Sơn hoạt
động văn nghệ trong suốt những năm 62, 63, 64 ở Trường Sư phạm Quy Nhơn, tôi tha thiết
muốn đóng góp phần hiểu biết khiêm tốn của mình hầu giúp những nhà chuyên viết tiểu sử
có một chân dung đầy đủ, chính xác của thiên tài âm nhạc Việt Nam mà thế giới đã công
nhận: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Hồi đó, những lúc rảnh rỗi, chúng tôi thường rủ nhau đi tham quan những danh lam, thắng
cảnh ở Quy Nhơn như Ghềnh Ráng, mộ Hàn Mạc Tử, trại phong Quy Hoà, Tháp Chàm ...
Bây giờ đã có nhiều người biết, nhưng vào thời điểm đó, mấy ai biết rằng “Diễm Xưa” đã
ra đời sau khi chúng tôi đi thăm Tháp Đôi (Tháp Chàm) ở ngoại ô Quy Nhơn. Trái tim
người nhạc sĩ thiên tài đã rung cảm trước vẻ đẹp cổ kính của Tháp Chàm, đồng thời để
hoài niệm về cuộc tình không may với một người con gái Huế mang tên Diễm. Nếu tôi nhớ
không lầm thì một hoặc hai năm sau “Diễm Xưa” đã đoạt giải nhất cuộc thi âm nhạc tại
Hội chợ quốc tế Osaka tại Nhật.
Hồi đó, phần lớn sinh viên Trường Sư phạm Qui Nhơn là người Huế. Mỗi dịp Tết đến, hè
về.v.v... chúng tôi thường trở về Huế với gia đình, riêng Trịnh Công Sơn vẫn ở lại Qui
Nhơn một mình để tìm cảm hứng sáng tác trong cô đơn.
Anh Sơn ơi! Nếu linh thiêng anh đừng có trách người bạn nhỏ của anh nghe. Nó
chỉ muốn bản tiểu sử của anh, một thiên tài âm nhạc của Việt Nam, để lại cho hậu
thế, phải là một bản tiểu sử chính xác, đầy đủ, trung thực. Trong dòng chảy tuôn
trào không dừng được của những hoài niệm về quá khứ, em đã kể ra hết, kể cả
những điều mà trong một đời người, sống để dạ, chết mang theo.
Nhạc sĩ tiền bối Văn Cao, ngoài những nhạc phẩm bất hủ, còn có trường ca Sông
Lô.
Cũng như thế, những đêm dài thao thức trên bãi biển Qui Nhơn, chứng kiến cảnh
sóng xô vào bờ vô tình phá bỏ, hủy hoại liên tục những công trình cát của những
chú dã tràng tội nghiệp, rồi liên tưởng đến thân phận con người trong kiếp nhân
sinh, Trịnh Công Sơn đã thai nghén và hình thành trường ca “Tiếng hát Dã Tràng”
hay còn gọi là “Dã Tràng Ca” mà Ban hợp xướng của Trường Sư phạm Qui Nhơn
(gần 100 sinh viên) dưới sự điều khiển của Nhạc trưởng trẻ tuổi Trịnh Công Sơn đã
trình bày trong một Đại nhạc hội tại rạp Kim Khánh vào năm 1964, năm chúng tôi
chuẩn bị rời Trường Sư phạm Qui Nhơn để trở thành những nhà giáo. Đại nhạc hội
năm đó đã đưa tên tuổi của Trịnh Công Sơn vang dội vào tận Sài Gòn.
Đó cũng là lần cuối, chúng tôi (Trịnh Công Sơn, Thanh Hải, Ngô Quang Cảnh, Lê
Thị Ngọc Trinh, Bùi Thị Bích Phương, Lê Khắc Long, Vũ Lập, Phan Thị
Thăng.v.v... đàn hát với nhau để rồi không lâu sau đó mỗi đứa một nơi, với nhiệm
vụ mới: Nhà giáo.
“Dã Tràng Ca” đã kết thúc trong nước mắt. Tất cả chúng tôi đều khóc.
“Thôi! Còn gì nữa đâu xác dã tràng trắng bể chìm sâu.
Không còn gì nữa đâu, còn dài mãi sau, đời lên cơn đau.
......................
Còn gì đâu, còn gì đâu mà không thương nhau.
Mùa thu năm 1964, tôi ở lại dạy học ở Qui Nhơn còn Trịnh Công Sơn nhận quyết
định lên Bảo Lộc - nơi mà sau này người nghệ sĩ tài hoa đã gặp một Khánh Ly lúc
đó còn vô danh chưa ai biết đến.
Sở dĩ tôi hơi dài dòng kể về Qui Nhơn vì chính nơi đây, không gian này, thời gian
này (1962 – 1964) đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sáng tác tình