DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÊN VIẾT TẮT
TÊN ĐẦY ĐỦ
UBND
Uỷ ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
CT-HĐND
Chủ tịch hội đồng nhân dân
NĐ-CP
Nghị định chính phủ
QĐ-TTg
Quyết định thủ tướng
MỤC LỤ
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài..................................................................................2
2.5.1 Trong quy định của pháp luật.......................................................................27
2.5.2 Trong thực tiễn hoạt động............................................................................28
2.6. Một số giải để phát huy vai trò của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã................28
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở cấp gần nhất và là nơi diễn
ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội của tầng lớp nhân dân. Uỷ ban
nhân dân (UBND) cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có vị trí, vai
trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta. Là cầu nối để tổ chức thực
hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân và
đảm bảo đi vào cuộc sống của nhân dân. Hoạt động của UBND xã ảnh hưởng lớn đến
tính hiệu quả của chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, có ý
nghĩa vô cùng to lớn với việc cũng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo dân
chủ và nâng cao đời sống của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi rõ: Cấp xã là
cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều
xong xuôi.
Tuy nhiên, cùng với việc phân ra ba cấp ở địa phương như hiện nay (tỉnh,
huyện, xã) thì có thể thấy cấp xã là cấp chịu nhiều thiệt thòi và đang tồn tại nhiều yếu
kém nhất. Thứ nhất, cấp xã là cấp thấp nhất thực hiện quản lý tương đối toàn diện
nhưng lại có bộ máy đơn giản nhất. Thứ hai, là cấp có cán bộ lãnh đạo không chuyên
môn và ít được đào tạo nhất. Thứ ba, là cấp có trình độ văn hoá, trình độ lý luận và
chuyên môn thấp nhất,… Những yếu kém nêu trên đang gây khó khăn và làm hạn
chế không nhỏ đến hiệu quả quản lý của nhà nước ta hiện nay.
Từ đó cho thấy, hoạt động của UBND cấp xã có ảnh hưởng rất lớn đến công
tác quản lý hành chính nhà nước mà đặc biệt phải kể đến vai trò của người lãnh đạo.
Nói đến tổ chức phải nói đến người lãnh đạo. Như V.I.Lê-nin đã từng nhấn mạnh
rằng “Không có bộ máy nhà nước, chúng ta sẽ tiêu vong và không làm cho bộ máy
nhà nước hoạt động ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn thì chúng ta cũng sẽ tiêu vong
những sai lầm, yếu kém đang tồn tại. Qua đó, đưa ra các ý kiến đề xuất giải pháp để
khắc phục những bất cập đang tồn tại nhằm phát huy hơn vai trò của Chủ tịch UBND
cấp xã. Là một người học luật, người viết mong muốn hoàn thiện thật tốt đề tài này
để tìm hiểu nhiều hơn về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp
xã. Trên cơ sở đó, kiến nghị, hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành và
chấp hành thật tốt.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Vị trí, vai trò của Chủ tịch UBND được thể hiện ở rất nhiều mặt nhưng do thời
gian có hạn và vốn hiểu còn hạn chế nên trong giới hạn của tiểu luận tốt nghiệp này,
người viết chỉ tập chung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề về Chủ tịch UBND cấp
xã như: khía niệm, vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như các tiêu chuẩn, trình tự thủ
tục bầu và những hoạt động chính của Chủ tịch UBND cấp xã. Qua đó nêu lên thực
trạng một số đề xuất nhằm nâng cao vai trò của Chủ tịch UBND cấp xã trong giai
đoạn hiện nay.
4.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là vận dụng các quy định của pháp luật hiện
hành, từ đó so sánh đối chiếu với các quy định có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã mà e thu nhập được để từ đó có
những đánh giá, phân tích làm rõ nội dung đề tài. Đồng thới đứng trên quan điểm của
2
Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu
xã, thị trấn hay phường sẽ đồng thời là một Phó Bí thư của xã, thị trấn hay phường
đó.
Như vậy: Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách: Cơ quan chấp hành của Hội
đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Uỷ ban nhân
dân cấp xã chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã. Là cơ quan hành chính
nhà nước địa phương: Uỷ cấp xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực
của đời sống xã hội vào dân cư trên địa bàn. UBND cấp xã chính là đầu mối giải
quyết các công việc thường ngày của nhân dân, là cầu nối truyền tải mọi chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống.Vì vậy ma hiệu quả hoạt
động của UBND cấp xã càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây
dựng và đổi mới đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
1.1.1.2 Đặc điểm của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Thứ nhất, là cơ quan chấp hành của Hội đồng Nhân dân cùng cấp. Ngay từ khi
thành lập nước Xét về mặt tổ chức, thì chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban hân dân quản lý địa phương theo Hiến pháp, luật và các văn
bản cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền
4
hạn theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của
Trung ương, đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phương.
Thứ hai, là cơ quan hành chính cấp xã Đây là cơ quan hành chính của các địa
phương cấp xã. Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần
dân nhất ở Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp xã có từ 4 đến 5 thành viên, gồm Chủ tịch,
2 Phó Chủ tịch, 1 ủy viên quân sự và 1 ủy viên công an.
Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Trên danh
nghĩa là cấp ít quan trọng nhất. Không có cơ sở nền tảng thì không bao giờ hình thành
nên toàn xã hội. Nền móng có vững thì toà nhà mới mạnh. Cấp xã là tầng sâu nhất trên
phương diện hiện thực hoá, thực tiễn hoá, những đường lối, quan điểm, tư tưởng chiến
lược phát triển được vạch ra từ cấp vĩ mô, đầu não. Đường lối, nghị quyết, chính sách,
pháp luật muốn đi vào cuộc sống phải thông qua cơ sở, phải thực hiện ở cơ sở thành
phong trào hành động của dân chúng, bằng sáng kiến, nổ lực và tính chủ động mọi
người dân. Như vậy, cấp xã có thể nói là đại chỉ cần phải tới và là mục đích cần phải
đạt được của mọi hoạt động chỉ đạo chiến lược từ Trung ương đến địa phương.
1.1.2 Vị trí, tính chất pháp lý và vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp xã
1.1.2.1 Vị trí và tính chất pháp lý
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội
đòng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp
hành hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội
đồng nhân dân.
Uỷ ban nhân dân có hai tư cách: là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan
hành chính cấp cơ sở.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND cấp xã có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời
sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật. Tổ chức và chỉ đạo việc thi
hành pháp luật, Nghị quyết của HĐND cùng cấp.Còn với tư cách là cơ quan hành
chính địa phương, UBND có vai trò trong việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời
sống kinh tế - xã hội ở địa phương mình.
Trong lĩnh vực kinh tế: Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê
duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa
bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và ngân sách phân bổ dự toán ngân sách
cấp mình; dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán
ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban
sản xuất và lưu hành hàng giả ở địa phương.
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và thể dục thể thao: Thực hiện kế
hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương. Tổ chức xây đựng và quản lý, kiểm
tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường mầm non ở địa phương. Tổ chức quản
lý trạm y tế, tổ chức thực hiện các chương trình y tế cớ sở, dân số, kế hoạch hoá gia
đình được giao. Tổ chức thực hiện chính sách, chế độ đối với thương, bệnh binh, gia
đình liệt sĩ, gia đình có công với nước, thực hiện công tác cứu tế xã hội, hoạt động từ
thiện địa phương. Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, quy hoạch quản lý nghĩa
địa ở địa phương. Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn thể; vận động
nhân dân xây đựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá…
Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội: Tổ chức huấn luyện
quân sự phổ thông: tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân. Thực hiện
công tác nghĩa vụ quân sự tuyển quân theo kế hoạch; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại
chỗ; thực hiện chính sách đối với các lực lượng vũ trang ở địa phương. Thực hiện các
biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Quản lý hộ khẩu, việc đăng kí tạm
trú, tạm vắng.
Trong lĩnh vực thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo: Uỷ ban
nhân dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẩn và bảo đảm các chinh sách dân
7
tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương
theo quy định của pháp luật.
Trong lĩnh vực thi hành pháp luật: Tổ chức thực hiện, kiểm tra các văn bản do
chính UBND cấp xã, cơ quan nhà nước cấp trên và HĐND cùng cấp ban hành. Tổ
chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm páp luật và tranh chấp
nhỏ trong nhân dân. Tổ chức và hướng dẫn hoạt động của các tổ hoà giải, thanh tra
nhân dân. Tổ chức việc đăng kí hộ tịch, thực hiện công chứng, chứng thực theo quy
định pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân. Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo thầm quyền. Thực hiện các biện pháp bảo
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của xã;
Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải :
- Quản lý, kiểm tra việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân
cư nông thôn theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông và các
công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương;
- Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường xá, cầu, cống trên
địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo phân
cấp;
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ:
- Quản lý, sắp xếp chợ và các điểm buôn bán dịch vụ ở địa phương;
- Quản lý các hoạt động dịch vụ, buôn bán nhỏ ở địa phương theo quy định của pháp
luật;
- Phối hợp với các cơ quan hữu quan chống buôn lậu, trốn thuế, sản xuất và lưu hành
hàng giả ở địa phương;
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và thể dục thể thao :
- Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương;
- Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường
mầm non ở địa phương;
- Tổ chức và quản lý trạm y tế xã, tổ chức, thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số,
kế hoạch hoá gia đình được giao;
- Tổ chức thực hiện chính sách, chế độ đối với thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia
đình có công với nước; thực hiện công tác cứu tế xã hội, hoạt động từ thiện ở địa
phương;
- Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, quy hoạch quản lý nghĩa địa ở địa phương;
- Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn thể; vận động nhân dân xây dựng
nếp sống văn minh, gia đình văn hoá…
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội:
Trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính:
- Tổ chức và thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo
quy định của pháp luật;
- Lập hồ sơ về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính; quản lý hồ sơ, mốc và bản đồ
địa giới hành chính của địa phương.
1.2 Khái quát về chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
1.2.1.1 Khái niệm:
Chủ tịch UBND cấp xã là người lãnh đạo UBND cấp xã, là người chịu trách
nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ của mình và cùng với UBND chịu trách
nhiệm về hoạt động của tập thể UBND trước HĐND cùng cấp và UBND huyện. Và
thay mặt UBND xã trong tất cả các hoạt động hành chính cũng như các hoạt động nội
bộ xã. Chúng ta có thể hiểu: Chủ tịch xã là người lãnh đạo đứng đầu cơ quan hành
chính Nhà nước cấp cơ sở (cấp xã) do dân bầu ra có nhiệm vụ quản lý hành chính tại
địa bàn xã, làm cho chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa bàn xã
được hiện thực hoá trong đời sống của nhân dân.
1.2.1.2 Đặc điểm:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân xã và có các
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân
dân xã;
10
2. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến
pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự,
an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật
khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài
11
tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền.
1.2.2.2 Vai trò của chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
Theo Điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, chủ tịch UBND
xã là người đứng đầu UBND xã về Lãnh đạo và điều hành công việc.
1.3 Mối quan hệ của Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã và tập thể uỷ ban nhân
dân cấp xã
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ chỉ đạo phân công công tác thuộc lĩnh
vực của Uỷ ban nhân dân bao gồm:
Một là, tổ chức lãnh đạo, nghiên cứu kiểm tra, đối với công tác chuyên môn thuộc Uỷ
ban nhân dân trong việc thực hiện chính sách pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên,
nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quyết định của Uỷ ban nhân dân.
Hai là, quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch uỷ ban nhân
dân cấp xã, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể Uỷ ban nhân
dân cấp xã.
Ba là, áp dụng các biện pháp lề lối làm việc quản lí và đều hành bộ máy hành chính
hoạt động có hiệu quả. Ngăn ngừa đấu tranh, chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ
công chức Nhà nước và trong bộ máy chính quyền ở xã; tiếp dân xem xét và giải quyết
kiến nghị, khiếu nại tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.
Bốn là, giải quyết và trả lời các kiến nghị của đoàn thể nhân dân ở xã, trực tiếp quản
lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Năm là, báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp xã và Uỷ ban nhân dân huyện;
triệu tập, chủ toạ phiên họp của Uỷ ban nhân dân; thực hiện việc bố trí, sử dung, khen
thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức theo sự phân cấp quản lý và có quyền đình chỉ hoặc
bãi bỏ quy định trái pháp luật của trường lớp trong xã.
CHƯƠNG II
Chủ tịch UBND được bầu tại kỳ họp thứ nhất của HĐND phải là đại biểu HĐND.
Chủ tịch UBND được bầu trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu HĐND.
- Khi bầu thành viên UBND tại kỳ họp HĐND, nếu có đại biểu HĐND ứng cử hoặc
giới thiệu thêm người ứng cử ngoài danh sác đã được người có thẩm quyền giới thiệu
thì Thường trực HĐND trình HĐND xem xét, quyết định, riêng tại kỳ họp thứ nhất
của mỗi khóa HĐND thì chủ tọa kỳ họp trình HĐND xem xét, quyết định.
- Ban kiểm phiếu bầu thành viên UBND gồm: Trưởng ban, Thư ký và các ủy viên do
HĐND bầu theo giới thiệu của Chủ tọa kỳ họp,
Đại biểu HĐND có quyền ứng cử, đề cử người tham gia Ban kiểm phiếu.
- Thành viên UBND trúng cử khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND bỏ phiếu tán
thành.
- Trong trường hợp bầu lần đầu nhưng không được quá nửa tổng số đại biểu HĐND bỏ
phiếu tán thành thì việc có bầu lại hay không bầu lại do Chủ tọa kỳ họp xin ý kiến
HĐND.
Bước 3: Gửi kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND để trình cấp có thẩm quyền
phê chuẩn.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND:
- Thường trực HĐND cấp tỉnh phải gửi hồ sơ kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND cùng cấp đến Bộ Nội vụ để thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ.
- Thường trực HĐND cấp huyện phải gửi hồ sơ kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND cùng cấp đến Sở Nội vụ thẩm định trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- Thường trực HĐND cấp xã phải gửi hồ sơ kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND
cùng cấp đến Phòng Nội vụ thẩm định trình Chủ tịch UBND cấp huyện.
Bước 4: Thẩm định hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định:
- Bộ Nội vụ thẩm định hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ để xem xét phê chuẩn.
- Sở Nội vụ thẩm định hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND cấp huyện trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh để xem xét phê chuẩn.
xã.
2. Trình tự, thủ tục bầu thành viên Ủy ban nhân dân
a) Chủ tịch Hội đồng nhân dân giới thiệu để Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu Chủ tịch
Ủy ban nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được bầu tại kỳ họp thứ nhất của Hội
đồng nhân dân phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được
bầu trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân giới thiệu để Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu Phó Chủ tịch,
Ủy viên Ủy ban nhân dân. Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân không nhất thiết là
đại biểu Hội đồng nhân dân.
b) Khi bầu thành viên Ủy ban nhân dân tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu có đại biểu
Hội đồng nhân dân ứng cử hoặc giới thiệu thêm người ứng cử ngoài danh sách đã
được người có thẩm quyền quy định tại điểm a khoản này giới thiệu thì Thường trực
Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.
c) Ban kiểm phiếu bầu thành viên Ủy ban nhân dân gồm: Trưởng ban, Thư ký và các
Ủy viên. Hội đồng nhân dân bầu Ban kiểm phiếu bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc
15
biểu quyết công khai theo giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội
đồng nhân dân có quyền ứng cử, đề cử người tham gia Ban kiểm phiếu.
d) Thành viên Ủy ban nhân dân trúng cử khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng
nhân dân bỏ phiếu tán thành.
đ) Trong trường hợp bầu lần đầu nhưng không được quá nửa tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân bỏ phiếu tán thành thì việc có bầu lại hay không bầu lại thành viên Ủy
ban nhân dân ngay trong kỳ họp do Chủ tịch Hội đồng nhân dân báo cáo Hội đồng
nhân dân xem xét, quyết định.
3. Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết về việc bầu thành viên Ủy ban nhân dân
cùng cấp.
16
phân cấp quản lý.
+ Đình chỉ hoặc bãi bỏ quy định trái pháp luật củatrường thôn và tổ dân phố.
Ủy viên ủy ban nhân dân :
Ủy viên ủy ban nhân được chủ tịch phân công phụ trách quản lí những ngành,
lĩnh vực chuyên môn nhất định như: công an, quân sự, tổ chức, thanh tra, kế hoạch, tài
chính,... và theo quy định tại Điều 126 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân 2003 thì các ủy viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình
trước hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cùng cấp và cùng với các thành viên khác
chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của ủy ban nhân dân trước hội đồng nhân dân
cấp mình và trước cơ quan nhà nước cấp trên.
Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân Xã:
17
Có thể nói rằng, các cơ quan chuyên môn là một chủ thể cấu thành rất quan trọng
của ủy ban nhân dân. Bởi lẽ, hoạt động của những cơ quan này là những hoạt động
mang tính chuyên môn rất cao, do đó, chúng là những cơ quan chính của ủy ban nhân
dân trong việc thực thi những chủ trương, chính sách của ủy ban nhân dân, cũng như
của Đảng và Nhà nước, tại địa phương. Chính vì thế, thủ trưởng các cơ quan chuyên
môn thuộc ủy ban nhân là một chức danh vô cùng quan trọng. Thủ trưởng được giao
phụ trách quản lí ngành, lĩnh vực chuyên môn phải chịu trách nhiệm lãnh đạo hoạt
động của các sở, phòng, ban, định kì mỗi tháng một lần phải báo cáo hoạt động của
ngành mình, lĩnh vực mình phụ trách trước ủy ban nhân dân và cơ quan quản lí chuyên
môn cấp trên, trong trường hợp cần thiết thì báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân
cùng cấp. Việc báo cáo thường xuyên như vậy sẽ giúp cho các cơ quan cấp trên nắm
bắt được tình hình thực tế một cách chính xác, toàn diện nhất, từ đó giúp cho việc
hoạch định các đường lối, chủ trương kịp thời và phù hợp hơn với thực tiễn, nhờ đó
tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Số lượng các sở, phòng, ban (các cơ quan chuyên môn) thuộc ủy ban nhân dân
phụ thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ công tác trong mỗi giai. Về vấn đề này, các Nghị định
chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa
phương .Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người
nước ngoài ở địa phương. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi
phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;
Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo thẩm
quyền. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành
án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm
hành chính theo quy định của pháp luật.
2.2.2 Trong các phiên họp của Uỷ ban nhân dân
Phiên họp của ủy ban nhân dân là hình thức hoạt động quan trọng nhất của ủy
ban nhân dân. Bởi thông qua các phiên họp, ủy ban nhân dân đã thực hiện được phần
lớn những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền do luật định.
Theo quy định của các Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các
năm 1989, 1994 và 2003, ủy ban nhân dân mỗi tháng họp ít nhất một lần do chủ tịch
ủy ban nhân dân triệu tập và chủ tọa. Khi chủ tịch vắng mặt, phó chủ tịch có thể thay
chủ tịch chủ tọa phiên họp. Trong trường hợp nếu xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu
của ít nhất một phần ba tổng số thành viên ủy ban nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân
triệu tập phiên họp bất thường.
Về thành phần dự phiên họp ủy ban nhân dân, thành viên ủy ban nhân dân có
trách nhiệm phải tham dự đầy đủ các phiên họp ủy ban nhân dân, nếu vắng mặt phải
được chủ tịch ủy ban nhân dân đồng ý. Ngoài ra, theo các quyết định số 53/2006/QĐTTg và 75/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì phiên họp ủy ban nhân dân
cấp tỉnh (hoặc huyện) chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên
ủy ban nhân dân tỉnh (hoặc huyện) tham dự. Ngoài các thành viên của ủy ban nhân dân
phải tham dự kỳ họp, từ những năm 1980 trở lại đây, Quốc hội còn quy định trách
nhiệm của ủy ban nhân dân trong việc mời chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc và những
người phụ trách các đoàn thể nhân dân cùng cấp; trưởng ban, phó trưởng ban các ban
của hội đồng nhân dân; thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân
19
2.3 Hoạt động của chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
Hoạt động của chủ tịch ủy ban nhân dân được xác định là hình thức hoạt động
thường xuyên và có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của ủy ban nhân dân.
Trước đây, trong Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban
20
nhân dân năm 1989, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban nhân dân nói chung và chủ
tịch ủy ban nhân dân chưa được quy định một cách cụ thể. Kể từ Hiến pháp 1992 và
Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các năm 1994 và 2003, theo xu
hướng kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng trong quản lý nhà nước,
nhiệm vụ và quyền hạn của cá nhân chủ tịch ủy ban nhân dân ngày càng được quy
định rạch ròi và tách bạch riêng khỏi những nhiệm vụ, quyền hạn chung của tập thể ủy
ban nhân dân.
Từ trước đến nay, trong các luật về Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân, chủ tịch ủy ban nhân dân luôn được quy định là người lãnh đạo và điều hành công
việc của ủy ban nhân dân; có quyền triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của ủy ban nhân
dân (kể cả phiên họp thường lệ và bất thường). Về vấn đề này, Luật tổ chức hội đồng
nhân dân và ủy ban nhân dân các năm 1994 và 2003 đã quy định rất cụ thể, theo đó, sự
lãnh đạo và điều hành công việc của ủy ban nhân dân của chủ tịch được quy định trên
các phương diện sau:
- Đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân
cấp mình và ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của hội đồng nhân dân và quyết định,
chỉ thị của ủy ban nhân dân cùng cấp;
- Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân cấp
mình, trừ các vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn chung của ủy ban nhân dân.
- Áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; quản lý và điều hành bộ
máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh chống các biểu hiện
quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu
yếu kém trong bộ máy chính quyền, cũng như các cán bộ, công chức để từ đó có
những biện pháp ngăn ngừa, đấu tranh và khắc phục để tiến trình hoạt động thực hiện
công việc nhanh chóng, hiệu quả và hoàn thiện hơn. Ngoài ra, chủ tịch ủy ban nhân
dân còn phải thường xuyên gặp gỡ trao đổi với nhân dân để nắm bắt những tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân và khi nhận được khiếu nại tố cáo thì phải có trách nhiệm
giải quyết, theo dõi và đôn đốc việc giải quyết, báo cáo cho đương sự biết khi giải
quyết,… Điều này nếu giải quyết tốt sẽ giúp nhân dân tin yêu và gắn bó hơn với các cơ
quan nhà nước, với chính quyền, đúng với bản chất “nhà nước của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân” của Nhà nước ta.
Như vậy có thể thấy, những quy định trên về nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như hoạt
động của chủ tịch ủy ban nhân dân đều nhằm đề cao vị trí, vai trò của chủ tịch trong
hoạt động quản lí cũng như bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước.
2.4 Một số chế dộ chính sách áp dụng đối với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
Dựa theo từ Điều 5 đến Điều 10 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ :
Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,
phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.Căn cứ Luật
Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;Căn cứ Luật Cán bộ, công chức đã
được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 ngày 11 tháng 2008;
Điều 5. Xếp lương
1. Đối với cán bộ cấp xã:
a) Cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo bảng lương sau đây:
STT
Chức vụ
Hệ số lương
22
2,45
4
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng
sản
Hồ Chí Minh
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
- Chủ tịch Hội Nông dân
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh
1,75
2,25
b) Cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp
trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2
(Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà
nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004
của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng
vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 204/2004/NĐ-CP);
c) Cán bộ cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động,
ngoài lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hiện hưởng, hàng tháng được hưởng
90% mức lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều này và không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
2. Đối với công chức cấp xã:
a) Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên
môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy
định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công
chức trong các cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành,