Tài liệu về quan hệ kinh tế quốc tế - Pdf 55

PHẦN I: QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ:
CÂU I: TRÌNH BÀY NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ 2 HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM
SMITH VÀ DAVID RICARDO. NÊU Ý NGHĨA CỦA VIỆC NẮM VỮNG CÁC HỌC THUYẾT
NÀY ĐỐI VỚI CÁC NHÀ KINH DOANH QUỐC TẾ:
1. Học thuyết của Adam Smith: tư tưởng chính của Adam Smith về thương mại quốc tế
là:
– Thương mại, đặc biệt là ngoại thương có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế nước Anh
ghê ghớm. Nhưng theo ông nguồn gốc giàu có của nước Anh không phải là ngoại thương
mà là công nghiệp.
– Mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối,
có nghĩa sử dụng những lợi thế tuyệt đối đó cho phép họ sản xuất với chi phí thấp hơn các
nước khác, thì tổng sản lượng của cải vật chất của từng nước, cũng như của thế giới sẽ
tăng lên, kết quả làm cho mức sống tăng lên và nhờ đó nhu cầu ở các quốc gia thỏa mãn
tốt hơn. Quốc gia sẽ chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu
những hàng hóa mà họ không có lợi thế tuyệt đối. Thương mại không là quy luật trò chơi
bằng không mà là trò chơi tích cực, theo đó các quốc gia đều có lợi trong thương mại quốc
tế.
– Tất cả các nước đều có lợi nếu tự do buôn bán với nhau và không đồng ý sự can thiệp của
nhà nước. Trong tự do thương mại, nguồn lực của thế giới sẽ được phân phối có hiệu quả,
có lợi cho từng nước. Bất cứ sự can thiệp nào vào tiến trình tự nhiên của thương mại đều
cản trở sự phân phối có hiệu quả các nguồn lực của thế giới.
– Cơ sở của lý thuyết này dựa trên thuyết lao động giá trị, nó cho rằng lao động là yếu tố duy
nhất của sản xuất vật chất, chất lượng lao động là như nhau, thời gian cần thiết để lao động
chuyển hóa thành vật chất như nhau.
– Trong thực tế chúng ta thấy rằng:
• Lao động không phải là yếu tố duy nhất của sản xuất.
• Chất lượng lao động không thể đồng nhất.
• Chi phí để sản xuất ra một hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào số lượng lao động
đã sử dụng để tạo ra nó mà còn phụ thuộc khoản thời gian cần thiết để lao động
chuyển hóa thành vật chất.
• Do vậy, nếu chỉ có lợi thế tuyệt đối mới có thương mại quốc tế thì bao nhiêu nước có thể

– E1: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của quốc gia trong 01 năm.
– EC: Tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia trong 01 năm
– E2: Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của thế giới trong 01 năm
– EW: Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong 01 năm.
Nếu RCA<= 1 : sản phẩm không có lợi thế so sánh
Nếu RCA<2.5 : Sản phẩm có lợi thế so sánh
Nếu RCA>= 2.5 : Sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao
– Tóm lại quy luật lợi thế so sánh của D. Ricardo là một trong những quy luật quan trọng
nhất của kinh tế quốc tế, đặt cơ sở, nền móng cho mậu dịch quốc tế. Cho đến nay bản chất
của quy luật lợi thế so sánh của ông vẫn không thay đổi, nó đúng với bất kỳ một quốc gia
nào. Tuy nhiên, học thuyết này còn có những hạn chế cơ bản sau đây:
• Trong chi phí sản xuất mới chỉ tính đến có một yếu tố duy nhất là lao động. Còn
các yếu tố khác như vốn, kỹ thuật, đất đai và trình độ của người lao động thì
không được đề cập đến. Do đó không thể tìm ra nguyên nhân tại sao năng suất
lao động của nước này lại cao (thấp) hơn so với năng suất lao động của nước
khác. Thêm vào đó là không đề cập đến chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa và
hàng rào bảo hộ mậu dịch mà các nước dựng lên. Các yếu tố này ảnh hưởng
quyết định đến hiệu quả của thương mại quốc tế.
• Mặc dù học thuyết này có chứng minh được lợi ích của thương mại quốc tế,
nhưng vẫn không xác định được tỷ lệ giao hoán quốc tế, tức là giá cả quốc tế –
Căn bản vẫn là hàng đổi hàng.
Trang 2
• Các phân tích của ông không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước,
cho nên dựa vào lý thuyết của ông người ta không thể xác định giá tương đối mà
các nước dùng để trao đổi sản phẩm.
• Lý thuyết này không giải thích được nguồn gốc phát sinh của thuận lợi của một
nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích triệt để nguyên
nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế.
CÂU II: CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ NHÀ NƯỚC. HÌNH THỨC
NÀO ĐƯỢC ÁP DỤNG PHỔ BIẾN? TẠI SAO?

dụng chung cho các nước thành viên.
– Cùng nhau xây dựng biểu thuế quan thống nhất áp dụng trong hoạt động thương mại với
các nước ngoài liên kết.
Trang 3
– Tiến tới xây dựng chính sách ngoại thương thống nhất mà mỗi nước thành viên phải tuân
thủ.
3. Thị trường chung (Common Market):
Đây là hình thức phát triển cao hơn của liên kết kinh tế giữa các nước. Các nước hội
viên thuộc thị trường chung thỏa thuận:
– Xóa bỏ những trở ngại đến quá trình buôn bán với nhau: như thuế quan, hạn ngạch giấy
phép...
– Xóa bỏ các trở ngại cho quá trình tự do di chuyển tư bản và sức lao động giữa các nước hội
viên.
– Xây dựng cơ chế chung điều tiết thị trường của các nước thành viên.
– Tiến tới xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại chung trong quan hệ với các nước ngoài
khối.
4. Liên minh kinh tế (Economic Union):
Là hình thức liên kết kinh tế có tính tổ chức thống nhất cao hơn so với thị trường
chung. Nó mang toàn bộ đặc điểm của liên kết thị trường chung, nhưng nó có thêm các đặc
điểm khác như:
– Các nước xây dựng chung nhau chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh
tế ngành, phát triển kinh tế vùng mà không bị chia cắt bởi biên giới lãnh thổ giữa các nước
thành viên.
– Thực hiện việc phân công lao động sâu sắc giữa các nước thành viên.
– Cùng nhau thiết lập một bộ máy tổ chức điều hành sự phối hợp kinh tế giữa các nước (thay
thế một phần chức năng quản lý kinh tế của chính phủ từng nước).
5. Liên minh về tiền tệ (Monetary Union):
Đây là hình thức liên kết kinh tế cao nhất, tiến tới thành lập một “quốc gia kinh tế
chung” của nhiều nước với những đặc điểm:
– Xây dựng chính sách kinh tế chung

3. Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trên các
lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học-kỹ thuật và hành chính.
4. Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu
trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hành chánh.
5. Cộng tác có hiệu quả hơn, để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp
của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề buôn bán hàng hóa giữa các
nước, cải thiện các phương tiện giao thông liên lạc và nâng cao mức sống nhân dân.
6. Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á.
7. Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có tôn chỉ và
mục đích tương tự và tìm kiếm cách thức nhằm đạt được sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các
tổ chức này.
Hội nghị cấp cao Asean lần thứ VIII tại Phnôm – pênh, Campuchia, ngày 04/05/2002,
ASEAN nhất trí cần tiếp tục duy trì hoà bình ổn định, tăng cường hợp tác chính trị, an ninh,
cải thiện hình ảnh và vị thế của ASEAN, giải quyết các bất đồng theo phương thức ASEAN;
nhấn mạnh cần triển khai nhanh các sáng kiến, chương trình đã có qua các biện pháp chính
sau:
- Tăng cường liên kết nội khối, giảm hàng rào phi quan thuế, cải thiện môi trường
đầu tư để tăng buôn bán, đầu tư nội khối trước bối cảnh các thị trường truyền thống của
ASEAN giảm mạnh bởi suy thoái kinh tế thế giới.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN.
- Tập trung triển khai các dự án ưu tiên, nhất là về thu hẹp khoảng cách, giúp các
thành viên mới, phát triển Tiểu vùng như Mê-công.
- Xác định lại mục tiêu phát triển của ASEAN và nghiên cứu chiến lược phát triển
của Hiệp hội để tiến tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN có tính đến những kinh
nghiệm của Liên minh Châu âu.
Nhân dịp này, Cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức và các nhà Lãnh
đạo ASEAN đã nhất trí họp Cấp cao ASEAN + Ấn Độ hàng năm. ASEAN và Trung Quốc đã
Trang 5
ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), coi đây là một bước quan trọng
tiến đến hình thành Bộ Quy tắc ửng xử ở Biển Đông (COC); và ký Hiệp định khung về Hợp

2. Tăng khả năng cạnh tranh của Asean trên trường quốc tế.
3. Tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn FDI.
4. Xây dựng các cơ chế và điều kiện chung thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước thành
viên.
Trong khuôn khổ hợp tác kinh tế Asean, chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực
chung (CEPT) là cơ chế chủ yếu để thiết lập mậu dịch tự do trong khu vực Asean. Thực chất
của chương trình Cept là các nước thành viên Asean đạt được sự thỏa thuận giảm thuế quan
chung xuống còn ở mức 0%-5% trong thương mại nội bộ các nước Asean trong vòng 10 năm,
bắt đầu từ ngày 01/01/1993 và hoàn thành vào ngày 01/01/2003. Các sản phẩm thực hiện
giảm thuế nhập khẩu do các nước thành viên tự đề nghị căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh kinh
tế mỗi nước. Chương trình Cept thực hiện theo 4 danh mục:
Trang 6
- Danh mục cắt giảm thuế nhập khẩu.
- Danh mục loại trừ tạm thời.
- Danh mục loại trù hoàn toàn.
- Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm
Điều kiện để được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo chương trình Cept:
1. Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm của cả nước xuất khẩu và nước nhập
khẩu và phải có mức thuế quan (nhập khẩu) bằng hoặc thấp hơn 20%;
2. Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được hội đồng AFTA thông qua;
3. Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối Asean, tức phải thỏa mãn yêu cầu hàm
lượng xuất xứ từ các nước thành viên Asean (hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%. (Chủ hàng
nhập khẩu phải xuất trình được giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu D do cơ quan có thẩm
quyền ở nước xuất khẩu cấp – C/O form D).
4. Hàng nhập khẩu phải được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu.
Thuận lợi đối với các DNVN khi VN thực hiện xong chương trình CEPT:
• Các DN VN sẽ được ưu tiên về thuế khi nhập khẩu MMTB, NPL phục vụ cho nhu cầu sản
xuất công nghiệp.
• Các DN VN sx mặt hàng nông sản thô và nông sản chế nếu có sự cắt giảm thuế sẽ trở
thành yếu tố kích thích sản xuất để xuất khẩu sang ASEAN

mới có điều kiện phát triển, có lợi về giá cả khi xuất khẩu hàng hóa sang thị trướng ASEAN.
Đv Nhà Nước:
Cần chú trọng đến xuất nhập khẩu những mặt hàng, những sản phẩm tạo điều kiện bổ
sung kinh tế giữa các quốc gia như xuất khẩu gạo, dầu mỏ, thiếc và nhập khẩu các thiết bị,
máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, sản
phẩm hóa chất. công nghệ sản xuất xe máy...
Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước thu hút công nghệ của các thành viên
AFTA dưới hình thức liên doanh, liên kết, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa,
dịch vụ
Khuyến khích sản xuất tư nhân như ưu đãi trong việc vay vốn, thuế, cam kết ổn định
chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ
Sắp xếp cơ cấu lại các doanh nghiệp Nhà nước, thành lập một số tổng công ty mạnh
trong một số lĩnh vực như dệt may, điện tử, giày dép... Các doanh nghiệp Nhà nước có quy
mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp sẽ được tập trung lại để hình thành nên một dạng Công ty mẹ có
tiềm lực và sức cạnh tranh lớn hơn, đủ sức chống chọi lại với các công ty lớn của ASEAN.
Với các công ty lớn, việc sản xuất - xuất khẩu một mặt hàng nào đó sẽ được cân nhắc kỹ hơn
và đầu tư với quy mô lớn hơn, có chiều sâu và phạm vi rộng hơn.
CÂU IV: APEC (DIỄN ĐÀN CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG): PHÂN TÍCH NHỮNG CƠ
HỘI VÀ THÁCH THỨC TỪ NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH HỘI NHẬP CỦA APEC. ĐỀ XUẤT
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM NẮM BẮT ĐƯỢC NHỮNG
CƠ HỘI VÀ HẠN CHẾ ĐƯỢC THÁCH THỨC TỪ VIỆC THỰC THI NHỮNG HIỆP ĐỊNH
CỦA APEC.
• Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng về việc
thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu á - Thái Bình Dương với mục
đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩy phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ
hệ thống thương mại đa phương. Nhật Bản, Ma-lai-xia, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin,
Xinh-ga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xia, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này.
Tháng 11 năm 1989, các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại
Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia quyết định chính thức thành lập APEC.
• Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (với tên gọi theo tiếng

tự do đi lại của các quan chức.
– Tương đồng về kinh tế: chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thị
trường.
– Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: tỏ rõ mối quan tâm mạnh mẽ tới
các lĩnh vực hoạt động của APEC bằng cách tham gia vào các Nhóm công tác hoặc
nghiên cứu độc lập và các hoạt động khác của APEC. Tuy nhiên, không có mối
liên quan đặc biệt nào giữa việc tham gia vào các Nhóm công tác của APEC và
việc trở thành thành viên. Nước muốn trở thành thành viên phải hoàn toàn chấp
nhận những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được đề ra trong các Tuyên bố và
Quyết định của APEC, kể cả các nguyên tắc đồng thuận và tự nguyện.
• Ngoài quy chế thành viên chính thức, APEC còn có quy chế quan sát viên dành cho ba tổ
chức khu vực là Ban Thư ký ASEAN, Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương
(PECC) và Diễn đàn Đảo Thái Bình Dương (PIF), không có quy chế quan sát viên cho một
nước hay vùng lãnh thổ riêng biệt. Quan sát viên có thể tham dự các cuộc họp từ cấp Bộ
trưởng trở xuống và tham gia vào các hoạt động của APEC. Các nước không phải thành
viên APEC có thể được tham gia các hoạt động với tư cách khách mời tại các Nhóm công
tác của APEC.
• Mục tiêu của APEC:
Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của các dân tộc trong khu
vực, và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới;
Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự tuỳ thuộc lẫn
nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn và
Trang 9
công nghệ;
Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi ích của các nước châu á
- Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác;
Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu tư giữa các thành
viên phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO ở những lĩnh vực thích hợp và không
làm tổn hại tới các nền kinh tế khác.
• Nguyên tắc hoạt động của APEC:

vực cụ thể nhằm hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển vươn lên rút ngắn khoảng cách giàu
nghèo. Vì thế, tại Hội nghị Bộ trưởng Ô-xa-ca năm 1995, các thành viên đã thông qua
Chương trình Hành động Ô-xa-ca, trong đó coi hợp tác kinh tế và kỹ thuật như là nội dung
thứ hai trong hoạt động của APEC, có tác động hỗ trợ để đạt tới mục tiêu tự do hóa thương
mại và đầu tư trong khu vực.
Nguyên tắc đồng thuận (consensus):Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất
của hợp tác trong APEC, như Tuyên bố Xê-un đã nêu rõ, là dựa trên "cam kết về sự đối thoại
cởi mở và xây dựng sự đồng thuận, bình đẳng, tôn trọng quan điểm của tất cả thành viên tham
Trang 10
gia".
Khác với hoạt động trong GATT/WTO, trong đó các nước phải qua một quá trình
thương thuyết, đàm phán lâu dài và thường là gay gắt để đạt được những thoả thuận và hiệp
định có tính pháp lý quốc tế cao, APEC đi tới các quyết định thông qua quá trình xây dựng sự
đồng thuận. Tất cả các Hội nghị, từ Hội nghị Cấp cao đến Hội nghị cấp Bộ trưởng hay cấp
chuyên viên đều mang tính chất tư vấn, theo nghĩa là các thành viên không tham gia vào
những cuộc thương lượng, mặc cả thực sự để đạt tới những quyết định có tính ràng buộc.
Toàn bộ quyết định của các nhà Lãnh đạo Cấp cao, các Bộ trưởng đều được đưa ra trong
Tuyên bố chung phản ánh ý chí của tất cả các thành viên.
Nguyên tắc đồng thuận thể hiện một mô hình hợp tác tương đối thành công trong khu
vực do ASEAN khởi xướng. Do tính chất đa dạng của các nền kinh tế trong khu vực, nguyên
tắc đồng thuận tỏ ra khá hiệu quả. Thông qua nguyên tắc này, APEC đã xây dựng được những
nền tảng có ý nghĩa quan trọng và thực tế để đẩy mạnh hợp tác, một chương trình làm việc
toàn diện và một thoả thuận lịch sử về tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực tới năm
2020.
Duy trì nguyên tắc nhất trí trong một tập hợp đa dạng như APEC là một điều khó
khăn, đặc biệt khi APEC đi vào những vấn đề hành động cụ thể. Tuy nhiên, các thành viên
APEC coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình hoạt động và ra quyết định
của APEC, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành viên trong Diễn đàn này.
Nguyên tắc tự nguyện: Xuất phát từ đặc điểm của các nền kinh tế thành viên và các
mối quan hệ kinh tế quốc tế trong khu vực châu á - Thái Bình Dương, sự hợp tác giữa các

vậy phù hợp với đặc điểm đa dạng về chế độ chính trị - xã hội của khu vực vì nó cho phép
trong khi khai thác được những lợi ích từ sự hợp tác kinh tế, các thành viên vẫn giữ được chủ
quyền kinh tế, bảo đảm không có sự can thiệp từ bên ngoài vào chế độ chính trị - xã hội của
các thành viên.
Mặc dù có cơ cấu tổ chức lỏng lẻo, thời gian qua APEC vẫn có những bước tiến đáng kể. Nếu
như EU cần tới hơn 40 năm để có được mức độ liên kết kinh tế như ngày nay, GATT/WTO
cũng cần tới một thời gian gần 50 năm để đạt tới những mức độ nhất định về tự do hóa
thương mại và đầu tư thì trong vòng gần mười năm, APEC đã đi từ nhận thức chung tới
những hành động cụ thể nhằm đạt mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư. Tại Hội nghị Bộ
trưởng lần thứ năm ở Bô-go, In-đô-nê-xi-a, các Bộ trưởng đã thông qua 10 nguyên tắc đầu tư
không ràng buộc nhằm thúc đẩy đầu tư và luồng tư bản trong khu vực. Phù hợp với nguyên
tắc tự nguyện, trong Tuyên bố chung về Chương trình Hành động Ô-xa-ca, các Bộ trưởng đã
nhấn mạnh cách tiếp cận duy nhất của APEC đối với tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại
và đầu tư là phải kết hợp giữa ba mặt hành động: Hành động đơn phương có phối hợp, hành
động tập thể và hành động đa phương. Hành động đơn phương có phối hợp là các việc làm tự
nguyện của mỗi thành viên trên lĩnh vực thuế quan, phi thuế quan, dịch vụ, sở hữu trí tuệ...
phù hợp với phương hướng, mục tiêu và Chương trình hành động của APEC.
Sau Hội nghị Cấp cao lần thứ ba ở Ô-xa-ca năm 1995, các nhà Lãnh đạo của các nền
kinh tế thành viên đã lần lượt công bố các cam kết ban đầu nhằm thực hiện Chương trình
Hành động của APEC. Trung Quốc đã công bố cam kết lớn nhất cắt giảm 30% thuế quan cho
2/3 các mặt hàng[8]. Tại Hội nghị Cấp cao lần thứ tư ở Ma-ni-la năm 1996, Phi-li-pin tuyên
bố tự nguyện giảm hàng rào thuế quan (trừ hàng nông phẩm) xuống mức 5% vào năm 2004,
Thái Lan cam kết giảm thuế quan trung bình xuống 17% vào năm 1997 và In-đô-nê-xia giảm
thuế quan xuống còn từ 0-10% vào năm 2003[9]. Các nhà lãnh đạo APEC cũng đã thông qua
Kế hoạch Hành động Ma-ni-la (MAPA) năm 1996 bao gồm các biện pháp hành động cho thời
gian trước mắt, trung hạn và dài hạn trong 15 lĩnh vực cụ thể để thực hiện Chương trình Hành
động Ô-xa-ca (1995).
APEC là diễn đàn mở, hoạt động phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO :
APEC là một diễn đàn "mở" theo nghĩa APEC ủng hộ chế độ thương mại đa phương, không
tạo ra sự phân biệt đối xử giữa APEC với các nước và nhóm nước khác trên thế giới, đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status