Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 55

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quận 6 là một trong 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, cửa
ngõ phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh; phía Bắc giáp với quận Tân Phú
và Quận 11 có ranh giới dọc theo rạch Lò Gốm, đại lộ Hồng Bàng; phía Đông
giáp với Quận 5, có ranh giới dọc theo đường Nguyễn Thị Nhỏ, qua bến xe
Chợ Lớn, đường Ngô Nhân Tịnh; phía Nam giáp Quận 8, có ranh giới kênh
Bến Nghé (bến Trần Văn Kiểu cũ); phía Tây giáp với quận Bình Tân, có ranh
giới đường An Dương Vương. Quận 6 có tổng diện tích tự nhiên là 7,14km2,
chiếm 0,34 diện tích tự nhiên của toàn thành phố Hồ Chí Minh. Dân số hiện
nay của Quận 6 tính đến năm 2016 là 260.742 người. Về thành phần dân tộc,
đa số là người Kinh (chiếm 73,40%), kế đến là người Hoa chiếm 26, 01%,
ngoài ra còn một số dân tộc khác như người Chăm (chiếm 0,21%), Khmer
(chiếm 0,28%), Tày, Thái …
Trong những năm qua, Quận 6 phát huy lợi thế của mình đã và đang
phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định
hướng “Thương mại - Dịch vụ - Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp”, các
ngành dịch vụ chất lượng cao, các tuyến đường khu vực kinh doanh chuyên
ngành, đa ngành từng bước hình thành và phát triển. Quản lý đô thị có chuyển
biến tích cực, nhiều công trình, dự án trọng điểm được triển khai xây dựng,
nhất là các công trình hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường sống, góp phần
thay đổi rõ nét diện mạo đô thị quận theo hướng văn minh, hiện đại. Lĩnh vực
văn hoá – xã hội đạt nhiều kết quả tích cực; môi trường văn hoá có bước phát
triển; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh được tập
trung; chính sách an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết việc
làm được thực hiện ngày càng tốt hơn; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm
trật tự an toàn xã hội, không ngừng củng cố nhiệm vụ quốc phòng và an ninh.

1




tiến sĩ có liên quan đến tội trộm cắp tài sản có thể kể đến như: Luận văn thạc
sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh
Bình Phước” của tác giả Lê Thị Bình, Học viện Khoa học xã hội, 2018; luận
văn thạc sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
từ huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Tuấn Anh, Học viện
Khoa học xã hội; luận văn thạc sĩ “ Áp dụng hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 9, Thành phố
Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Kim Quy, Học viện Khoa học xã hội,
2017…..
Các công trình, đề tài trên đã làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận chung
của tội trộm cắp tài sản, các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản…. Tuy
nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì vậy, thông qua luận văn này tác giả muốn đi sâu nghiên cứu thực tiễn tội
trộm cắp tài sản, những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật
hình sự đối với tội trộm cắp tài sản. Bên cạnh đó, kế thừa các công trình của
các tác giả trước để đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện và áp
dụng đúng các quy định pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn làm rõ những
vấn đề chung về áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên
địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp đảm bảo việc
áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội
trộm cắp tài sản nói riêng tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ

3




Nhà nước ta về Nhà nước pháp luật, về chính sách hình sự, về cải cách tư
pháp, về đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp hệ thống;
phương pháp lịch sử, logic; Phương pháp phân tích, so sánh; Phương pháp
thống kê, tổng hợp. Trong đó, tác giả chú trọng cách tiếp cận kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn.
6. Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn.
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội trôm cắp tài sản và thực tiễn áp dụng tội trộm cắp tài sản trên
địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đề xuất một số yêu cầu
và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài
sản
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
danh mục các bảng, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với
tội trộm cắp tài sản.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 – 2018.
Chương 3: Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình sự đối
với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

5




trộm cắp tài sản, nếu Y bị phát hiện trước khi lấy tài sản thì mới không phạm
tội).
* Mặt chủ quan của tội phạm
Tội trộm cắp tài sản được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý. Mục
đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, cũng có
những trường hợp, người đồng phạm với người trộm cắp tài sản nhưng không
có mục đích chiếm đoạt tài sản mà không cấu thành tội khác thì vẫn bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản (Ví dụ: A ghét B nên xúi giục
C trộm tài sản của B. Trường hợp này mặc dù A không có mục đích chiếm
đoạt tài sản của B nhưng A vẫn bị truy cứu về tội trộm cắp tài sản với vai trò
đồng phạm.
* Khách thể của tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu, cụ thể là
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ tài sản đối với tài sản
bị trộm cắp.
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản. Tài sản theo quy
định của Bộ luật dân sự gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền về tài sản. Vật
là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải thoả mãn 3 điều kiện: Thứ
nhất, phải là sản phẩm lao động của con người; thứ hai, không có tính chất và
công dụng đặc biệt; thứ ba, chưa bị chủ tài sản huỷ bỏ. Tiền luôn là đối tượng
tác động của tội trộm cắp tài sản. Giấy tờ có giá chỉ là đối tượng của các tội
xâm phạm sở hữu khi nó vô danh. Quyền về tài sản không phải là đối tượng
tác động của tội trộm cắp tài sản.
* Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người có đủ năng lực TNHS và đủ
tuổi chịu TNHS. Theo quy định tại Điều 12, Điều 173 Bộ luật Hình sự hiện
hành thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình

7

8


của B, thì thông qua quá trình điều tra, truy tố xét xử các cơ quan ADPL căn
cứ vào Bộ luật hình sự để áp dụng định tội danh tội trộm cắp tài sản và mức
hình phạt tương xứng đối với A.
Thứ ba, là khi có phát sinh quan hệ pháp luật hình sự.
Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi đảm bảo hai chủ thể với những
địa vị pháp lý khác nhau là Nhà nước và người phạm tội.
Căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự là hành vi phạm tội đã
diễn ra trong thực tế và thời điểm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự là khi
người phạm tội chấp hành xong hình phạt hoặc bất kỳ biện pháp nào của mà
Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội; hoặc người phạm tội chết. Cụ thể,
đối với tội trộm cắp tài sản thì quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi hành vi
trộm tài cắp tài sản diễn ra trong thực tế và thời điểm chấm dứt quan hệ pháp
luật hình sự là người phạm tội trộm cắp tài sản chấp hành xong hình phạt hoặc
các biệp pháp khác của Nhà nước áp dụng với người phạm tội trộm cắp tài
sản.
Thứ tư, thủ tục tiến hành chặt chẽ theo quy định của bộ luật TTHS
Điều này có nghĩa là việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm
cắp tài sàn không thể tiến hành một cách tùy tiện mà phải diễn ra trên cơ sở,
trong những điều kiện và theo những thủ tục nhất định do pháp luật quy định,
đó là thủ tục TTHS.
Cuối cùng, chủ thể áp dụng là các cơ quan tiến hành TTHS
Pháp luật quy định mỗi loại cơ quan nhà nước nhất định được tiến hành
hoạt động ADPL nhất định. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án nhân
dân là cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp
tài sản và những cơ quan này còn được biết đến là các cơ quan tiến hành
TTHS đối với loại tội này nếu như xem xét hoạt động áp dụng pháp luật hình



10


1.2.1.2. Các trường hợp định tội danh tội trộm cắp tài sản:
Tương ứng với các căn cứ phân loại khác nhau, việc định tội danh tội
trộm cắp tài sản được phân chia thành các trường hợp khác nhau:
Đầu tiên, căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm căn bản (tức là căn
cứ vào khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
định tội danh tội trộm cắp tài sản được chia thành định tội danh tội trộm cắp
tài sản theo, mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể.
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo mặt khách quan của tội phạm là
định tội danh theo các dấu hiệu hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả được quy định tại Điều 173 BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo mặt chủ quan của tội phạm là
định tội danh theo dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp của tội trộm cắp tài sản hoặc
trong các trường hợp sai lầm.
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo khách thể của tội phạm là định
tội danh theo quan hệ sở hữu mà hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản xâm hại.
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo chủ thể của tội phạm là định tội danh
theo dấu hiệu chủ thể thường của tội trộm cắp tài sản.
Thứ hai, căn cứ vào cách phân loại cấu thành tội phạm theo mức độ
nguy hiểm cho xã hội của cấu thành tội trộm cắp tài sản, định tội danh tội
trộm cắp tài sản được chia thành định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu
thành tội phạm cơ bản (khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017) và định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu thành tội phạm
tăng nặng (theo các khoản 2,3,4 Điều 173 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017).
Cuối cùng, căn cứ vào tính chất đặc biệt của tội phạm, định tội danh tội

việc quyết định hình phạt công bằng đối với người phạm tội.

12


Định tội danh đúng còn là cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm
pháp luật TTHS về thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử: thời hạn điều tra, áp
dụng biện pháp ngăn chặn, thành phần Hội đồng xét xử, truy tố và xét xử.
- Đối với hoạt động định tội danh sai.
Định tội danh sai sẽ dẫn đến hàng loạt các hậu quả tiêu cực: bỏ lọt
người phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, không đảm bảo
tính công minh. Những vụ oan, sai chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá các
chứng cứ thiếu thận trọng, phiến diện, nôn nóng khởi tố, suy diễn chủ quan
theo định kiến buộc tội.
Định tội danh sai làm giảm uy tín cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế
XHCN, ảnh hưởng đến hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm.
1.2.2. Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản
1.2.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản
Quyết định hình phạt là khái niệm có thể được nghiên cứu từ hai góc độ
khác nhau, từ góc độ luật hình sự và từ góc độ luật tố tụng hình sự. Từ góc độ
luật hình sự có thể định nghĩa quyết định hình phạt như sau:
“Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức
hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức độ khác nhau) trong phạm vi
luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu TNHS”.
Quyết định hình phạt đối với chủ thể chịu TNHS là sự lựa chọn một
trong số các hình phạt chính và xác định mức hình phạt đối với loại hình phạt
có mức độ khác nhau trong khung hình phạt được quy định. Nếu chế tài được
quy định chỉ có một loại hình phạt chính và có các mức độ khác nhau thì
quyết định hình phạt trong trường hợp này là xác định mức hình phạt trong
phạm vi khung hình phạt được quy định.

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của BLHS gồm:
Các quy định trong Phần chung BLHS: quy định về cơ sở của TNHS
(khoản 1 Điều 2 BLHS); quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội

14


(khoản 1 Điều 3 BLHS); các quy định về hình phạt (từ Điều 30 đến Điều 45
BLHS); các quy định về biện pháp tư pháp (từ Điều 46 đến Điều 49 BLH);
các quy định về căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50 BLHS), về các tình tiết
giảm nhẹ TNHS (Điều 51 BLHS), các tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 52
BLHS), về tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 53 BLHS); các quy định về
quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể (từ Điều 54 đến Điều 59
BLHS).
Các quy định trong Phần các tội phạm BLHS: đó là các quy định về
khung hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung của tội trộm cắp tài sản
được quy định tại Điều 173 BLHS.
Thứ hai, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một thuộc tính của tội phạm
thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ
xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự. Các khung hình phạt được xây
dựng chủ yếu dựa trên tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm.
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản phụ
thuộc vào các yếu tố: tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, công cụ,
phương tiện, hình thức thực hiện; tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
trộm cắp tài sản đã thực hiện và mức độ của hậu quả do tội trộm cắp tài sản
gây ra; mức độ lỗi như tính chất của động cơ, quyết tâm phạm tộ, nguyên
nhân và điều kiện phạm tội; hoàn cảnh phạm tội như hoàn cảnh kinh tế, chính
trị, xã hội của địa điểm và thời gian xây ra hành vi phạm tội; những tình tiết

có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường
pháp luật. Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không
hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ tiêu cực, không tin tưởng pháp luật,
không tích cực lao động cải tạo để trở thành người có ích khi tái hòa nhập
cộng đồng. Hình phạt có đạt mục đích hay không và đến mức độ nào phụ

16


thuộc vào nhiều yếu tố như: xây dựng pháp luật hình sự, chấp hành hình phạt,
ý thức pháp luật…nhưng yếu tố quyết định hình phạt giữ vai trò quan trọng vì
chỉ trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn pháp luật cho từng trường hợp
phạm tội cụ thể thì Toà án mới có thể cho ra đời một bản án tuyên hình phạt
đúng đắn và có hiệu quả.
1.3. Các giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp
tài sản.
Áp dụng pháp luật hình sự trải qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn đầu tiên, phân tích, đánh giá các điều kiện hoàn cảnh, tình
tiết thực tế khách quan của vụ việc.
Khi áp dụng các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét toàn bộ các tình
tiết của sự việc, phân tích, chứng minh các sự kiện có liên quan. Khi điều tra
xem xét cần đảm bảo tính công bằng, khách quan và các đặc trưng pháp lý
của vụ việc. Tuân thủ tất các các qui định mang tính chất bắt buộc gắn với
mỗi loại vụ việc. Yêu cầu nghiên cứu khách quan, toàn diện và dầy đủ tất cả
các tình tiết liên quan của vụ việc để đưa ra quyết định đúng đắn nhất. Ví dụ
như điều tra vụ trộm cắp tài sản phải tìm hiểu rõ hiện trường, lời khai, người
làm chứng, tang vật, trị giá tài sản…. để xử lý đúng người, đúng tội.
Giai đoạn thứ hai, lựa chọn quy phạm pháp luật cần áp dụng.
Trên cơ sở của gia đoạn đầu tiên, cần tìm kiếm các quy phạm pháp luật
tương ứng để áp dụng. Phải xác định vụ việc do ngành nào điều chỉnh, sau đó

hiện văn bản ADPL. Ví dụ như trong đơn vị, các giai đoạn đầu tiên, thứ hai,
thứ ba do các chuyên viên, công chức thực hiện; giai đoạn thứ tư do thủ
trưởng có thẩm quyền quyết định; giai đoạn cuối cùng do cán bộ công chức
thực hiện. Vì vậy cần phải có kiểm tra, giám sát đảm bảo văn thực thi quyền
lực.
* Vai trò của các cơ quan áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm
cắp tài sản

18


Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì việc giải
quyết, xử lý các vụ án hình sự là một quá trình thống nhất, đồng bộ và kết quả
hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan mật thiết với nhau. Đó là
quá trình từ khởi tố, điều tra của CQĐT, đến việc truy tố của VKS và xét xử
của Toà án nhân dân.
Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì vai trò của các cơ quan áp dụng pháp
luật có vai trò khác nhau:
- Vai trò của cơ quan điều tra: Một mặt, điều tra vụ án hình sự là chức
năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự của cơ quan (người) tiến
hành có thẩm quyền đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm trực tiếp chứng minh
hành vi phạm tội và người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm thông qua các
chứng cứ đã thu thập được, đồng thời cũng là một trong những phương tiện
cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực
tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm; Mặt khác, điều
tra vụ án hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong hoạt động tư
pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố bị can một
cách không thận trọng, thiếu chính xác và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu
quả tiêu cực tiếp theo xảy ra trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở các
giai đoạn tố tụng hình sự; Cuối cùng, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn

quy định tại Điều 1 BLHS hiện hành. Kế đến, ADPL hình sự của Tòa án có
vai trò to lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định nói chung và
pháp luật hình sự nói riêng. Bên cạnh đó, ADPL hình sự của Tòa án có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao ý thức pháp luật đối với nhân dân. Ngoài ra,
ADPL của TAND có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách
của Nhà nước và đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
1.4. Phân biệt tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam với
một số tội xâm phạm sở hữu khi áp dụng pháp luật hình sự

20


1.4.1. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản.
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 BLHS
năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó, công nhiên chiếm đoạt
tài sản, được hiểu là hành vi lợi dụng hoàn cảnh, điều kiện không có khả năng
ngăn cản của chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài
sản một cách công khai. Những điểm khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài
sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:
Thứ nhất, điểm khác biệt nhất là hành vi khách quan của tội phạm:
hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài
sản của người khác, còn hành vi khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản ngay trước sự chứng
kiến của chủ tài sản.
Thứ hai, về nhận thức chủ quan của chủ tài sản: ở tội trộm cắp tài sản,
hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng khả năng không cho
phép chủ tài sản biết khi xảy ra hành vi phạm tội, trước khi xảy ra hành vi
phạm tội thì tài sản vẫn đang trong sự kiểm soát của chủ tài sản nhưng khi xảy
ra hành vi phạm tội chủ tài sản không hề biết tài sản của mình bị chiếm đoạt,

Cướp giật tài sản, được hiểu là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của
người khác một cách công khai, nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh
sự phản kháng của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Thứ nhất, điểm khác biệt về mặt khách quan của tội phạm: hành vi
khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của
người khác, còn tội cướp giật tài sản có hành vi chiếm đoạt tài sản một cách
công khai, người phạm tội không có ý định che giấu hành vi; lợi dụng sơ hở
của chủ tài sản nhanh chóng tiếp cận và chiếm đoạt tài sản. Dấu hiệu công
khai và nhanh chóng được hiểu là người phạm tội không cần che giấu hành vi
chiếm đoạt tài sản của người khác mà thực hiện trước mặt mọi người một

22


cách táo bạo và bất ngờ trong thời gian ngắn. Để thực hiện hành vi này người
phạm tội không dùng vũ lực, cũng không đe dọa sử dụng vũ lực hay uy hiếp
tinh thần của người bị hại mà chỉ dựa vào sự nhanh nhẹn của bản thân và sự
sơ hở của người bị hại, hay trường hợp người bị hại không đủ khả năng bảo
vệ tài sản (như trẻ em, người già, phụ nữ…) để giật lấy tài sản của họ và tẩu
thoát. Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt của tội phạm này là được thực hiện
một cách bất ngờ và nhanh chóng làm cho người bị hại không kịp ứng phó.
Đồng thời ngay sau khi đoạt được tài sản từ tay người bị hại, người phạm tội
cũng nhanh chóng tẩu thoát nhằm tránh khỏi việc truy đuổi của người bị hại.
Ngoài ra, trong cấu thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản thì thiệt hại về tài
sản được quy định là dấu hiệu bắt buộc và BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ
sung năm 2017 cũng quy định mức trị giá tối thiểu để làm cơ sở truy cứu
TNHS “người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng….”; còn ở tội cướp giật tài sản thì không quy định
mức giá trị tài sản tối thiểu mà quy định bởi tính chất nguy hiểm cao của tội
phạm, người phạm tội chỉ cần có hành vi cướp giật là phạm tội, không cần

TỪ NĂM 2014 - 2018
2.1. Tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 6 từ 2014 –
2018.
Với đặc điểm vị trí địa lý là cửa ngõ phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí
Minh thông thương với các tỉnh miền Tây Nam Bộ, tiếp giáp các khu công
nghiệp nên có một số lượng người dân nhập cư sinh sống và làm việc trên địa
bàn Quận. Bên cạnh đó, việc xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
“thương mại - dịch vụ - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp” đã được Đảng bộ
Quận 6 xác định từ nhiệm kỳ VII (1996-2000), đến nay đã tạo sự chuyển biến
rõ nét, tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của Quận nhà. Tuy nhiên bên
cạnh sự phát triển về kinh tế - xã hội cũng đã phát sinh nhiều vấn đề xã hội,
nhất là tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với phương thức, thủ đoạn ngày
càng tinh vi, liều lĩnh. Đặc biệt là tội xâm phạm sở hữu chiếm tỷ lệ cao, trong
đó tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm tội này.
Bảng 2.1. Diễn biến tình hình tội trộm cắp tài sản so với tình hình tội
xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014
đến 2018.
Năm

Tội xâm phạm sở hữu

Tội trộm cắp tài sản

Số vụ

Số bị cáo

Số vụ

Số bị cáo

(4)/(2)

55

45,63%

45,83%

46

27,16%

27,22%



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status