Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu công nghệ cao thành phố hồ chí minh - Pdf 55

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH OANH

QUảN Lý NHà nớci đối vớ hoạt
động i
I
ĐầU TƯ TRựC T ếP nớc ngoà ở khu công
í i
nghệ cao
ThàNH phố hồ ch
m nh

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH QUN Lí KINH T

I-


HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH OANH

QUảN Lý NHà nớci đối vớ hoạt
động i
I
ĐầU TƯ TRựC T ếP nớc ngoà ở khu công
í i
nghệ cao
ThàNH phố hồ ch
m nh

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
QUẢN

KHU
CÔNG
NGHỆ
CAOnghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với
1.1. Tổng
quan
tình hình

hoạtđộng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao
1.2. Đánh giá khái quát kết quả của công trình đã công bố và vấn đề đặt ra cần
tiếp tục nghiên cứu trong luận án
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG
NGHỆ
CAO
2.1. Tổng
quan về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và Khu công nghệ cao

2.2. Khái quát về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoàiKhu
vàocông nghệ cao
2.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong nước trong
việc quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu

THÀNH
PHỐ HỒ
MINH
4.1. XuNGHỆ
hướng CAO
vận động
của dòng
vốn CHÍ
đầu tư
trực tiếp nước ngoài và nhu cầu

131

trực tiếp nước ngoài vào Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
131
đầu tư
4.2. Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
136
4.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đến năm
2025 tầm nhìn 2030
141
KẾT LUẬN
162
KIẾN NGHỊ
164
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct
Investment) FTA
:
Hiệp định Thương mại Tự do (Free trade
agreement)
JICA
:
Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (The Japan International
Cooperation Agency)
IMF
:
Quỹ Tiền tệ thế giới (International Monetary
Fund) KCN
:
Khu công nghiệp
KCNC
:
Khu công nghệ cao
KCX
:
Khu chế xuất
KH-CN :
Khoa học, công nghệ
KKT
:
Khu kinh tế
KT-XH
:
Kinh tế - xã hội

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng: Quy trình điều tra nghiên cứu bằng bảng hỏi
8
Bảng 3.1: Tình hình và kết quả thu hút FDI vào Khu công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh

81

Bảng 3.2: Tổng hợp số liệu thu hút vốn đầu tư FDI của Thành phố
81
Bảng 3.3: So sánh xuất nhập khẩu của khu vực FDI
82
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá về môi trường đầu tư vào Khu công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh

84

Bảng 3.5: Đánh giá của các doanh nghiệp FDI về cơ sở hạ tầng ở Khu công
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh

90

Bảng 3.6: Cơ cấu lao động trong các công ty liên doanh hoạt động ở
Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
96
Bảng 3.7: Dự án thu hút FDI chia theo lĩnh vực
100
Bảng 3.8: Các hoạt động xúc tiến đầu tư qua các năm ở Khu công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh

Biểu đồ 3.6: Nguyên nhân dẫn đến chênh lệch trong thu hút FDI theo ngành
nghề, lĩnh vực
128


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn một thế kỷ qua, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế đang có sự gia
tăng mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển khoa học công nghệ, quan hệ giữa các
quốc gia ngày càng sâu sắc và phát triển hơn ở nhiều lĩnh vực. Hoạt động đầu tư
quốc tế đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn thế giới với mức độ ngày càng gay
gắt, quyết liệt.
Trước tình hình đó, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Việt Nam cần phải có một lượng vốn
đầu tư vượt ra ngoài khả năng tự cung cấp. Trong khi các nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức và tài trợ của các tổ chức quốc tế đều có hạn thì hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) là rất cần thiết.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:
"Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, được khuyến khích
phát triển lâu dài. Thu hút FDI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các
nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh
tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH phát triển đất nước, xây dựng một
nền sản xuất hiện đại, vững mạnh phục vụ cho cả nhu cầu trong nước và xuất
khẩu, có khả năng hỗ trợ và kích thích phát triển năng lực cho các ngành khác,
tiến tới đổi mới toàn diện xã hội" [41].
Trong đó, giải pháp chủ yếu để thực hiện CNH, HĐH là phát triển các
ngành có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, trong đó Khu công nghệ cao

Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu đáng kể, cải thiện được
môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý thuận lợi, tạo sân chơi bình
đẳng thu hút ngày càng nhiều đối tác đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cũng cần
phải thừa nhận rằng, công tác quản lý nhà nước còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn
chế, bất cập và cần có những giải pháp để khắc phục, đặc biệt là trong thời kỳ hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thời giới.
Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm ra giải pháp tối ưu nhằm hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh trở thành yêu
cầu cấp thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc, cụ thể:
Về mặt lý luận:
FDI không phải là một vấn đề mới hiện nay, vì vậy, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vai trò, thực trạng và các giải pháp thu hút và sử dụng FDI ở nước
ta nói chung và các địa phương nói riêng. Các công trình này đã đề cập đến
khung lý thuyết của FDI, từ đó đưa ra các giải pháp. Mặt khác, nội dung nghiên
cứu về


3

FDI chủ yếu đi vào các lĩnh vực, các ngành lớn, chưa có nhiều công trình đi sâu
vào lĩnh vực thu hút và sử dụng FDI ở các ngành CNC và quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI vào các KCNC. Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh
đến sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu và chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay.
Về mặt thực tiễn:
Một là, xuất phát từ những vướng mắc trong quản lý nhà nước đối với hoạt
động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh. Trên thực tế, trong những năm qua,
lượng FDI thu hút vào KCNC chưa đạt được như kỳ vọng và hoạt động của các
DN FDI trong KCNC vẫn tồn tại nhiều hạn chế như công nghệ thấp, hoạt động
R&D yếu... Một trong những nguyên nhân đó là do quản lý nhà nước chưa thật

cách mạng công nghiệp 4.0. Việc Việt Nam tham gia ngày càng nhiều sân
chơi quốc tế, buộc chúng ta phải tuân thủ những cam kết, “cách chơi”, “luật
chơi” mới đòi hỏi nhà nước cần phải tăng cường công tác quản lý hoạt động đầu
tư nói chung và đầu tư vào các KCNC nói riêng.
Với những hiểu biết nhất định về FDI, tình hình phát triển KCNC
Thành phố Hồ Chí Minh và mong muốn nghiên cứu vị trí, vai trò và tìm ra giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành
phố Hồ Chí Minh nên học viên lựa chọn chủ đề: “Quản lý nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực
tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở các KCNC; phân tích, đánh giá
thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí
Minh; đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với
hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tổng quan gọn, rõ, phân tích tình hình nghiên cứu về FDI và
quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC ở Việt Nam và quốc tế, chỉ ra
khoảng trống nghiên cứu và xác định những vấn đề mới cần làm rõ.
Thứ hai, nghiên cứu hệ thống hóa, kế thừa có chọn lọc, bổ sung, phát triển
những vấn đề lý luận về cơ sở pháp lý, mục tiêu, yêu cầu, điều kiện quản lý nhà
nước đối với hoạt động FDI vào các KCNC.
Thứ ba, phân tích và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước
của một số nước trên thế giới và một số địa phương trong cả nước. Từ đó rút ra
những bài học cho Thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động quản lý nhà nước đối
với FDI trong KCNC.



Phương pháp luận:
- Về phương pháp luận, các luận điểm, giả thiết và luận giải phân tích trong


6

luận án được trình bày trên cơ sở luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin và quan điểm của Đảng và
chính sách của nhà nước về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC.
- Cơ sở thực tiễn để thực hiện đề tài luận án là xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi
hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí
Minh trong thời gian qua.
Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp các dữ liệu khoa học đã có để hình
thành cơ sở lý thuyết của quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC,
trong đó coi trọng việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý của nhà
nước đối với hoạt động này.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này dùng để phân tích kinh nghiệm
của một số quốc gia và một số địa phương ở Việt Nam và rút ra bài học cho
Thành phố Hồ Chí Minh được sử dụng trong Chương 2 của luận án.
- Phương pháp thu thập, phân tích số liệu thống kê: Đây là các phương pháp
cơ bản được sử dụng hiệu quả trong việc nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận
về vai trò, ảnh hưởng của FDI đến sự phát triển các KCNC. Cụ thể, phương pháp
thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp sẵn có được sử dụng để thu thập, khai thác,
tổng hợp thông tin từ các nguồn có sẵn có liên quan, bao gồm các văn kiện, tài
liệu của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các công trình nghiên
cứu từ các nhà khoa học, các báo cáo, thống kê, kết quả điều tra… của chính
quyền, ban ngành địa phương có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề
nghiên cứu.
- Ngoài các phương pháp sử dụng trong phần nghiên cứu lý luận, phần thực

Danh sách DN FDI mới thành lập trong năm 2017, đã hoặc chưa đi vào hoạt
động sản xuất kinh doanh;
Danh sách DN FDI thuộc đối tượng và phạm vi điều tra có được từ
các nguồn thông tin khác.
Tổng hợp từ các danh sách trên, chúng tôi sẽ xây dựng danh sách các DN
FDI đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCNC Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ hai, chọn mẫu: Luận án sẽ chọn mẫu phi xác suất theo cách chọn chỉ
tiêu. Vì số lượng của các công ty FDI trong các KCNC Thành phố Hồ Chí Minh
trong thời điểm khảo sát chỉ dừng lại ở con số 60 công ty. Do đó, chúng tôi
chọn
50 công ty để khảo sát và 10 công ty là mẫu dự trữ. Luận án dựa vào hai đặc
điểm chính: Một là, các công ty đang hoạt động trong KCNC tại Thành phố Hồ
Chí Minh có vốn đầu tư nước ngoài; hai là, quy mô vốn đầu tư. Mỗi công ty
chọn 8 mẫu.


8

Tổng cộng số mẫu đề tài khảo sát là: 50 công ty x 8 mẫu/1công ty = 400
mẫu, mẫu dự trữ: 10. Với độ tin cậy là 95%, 400 mẫu khảo sát đảm bảo tính đại
diện cho tổng thể.
Số phiếu phát ra: 410; Số phiếu thu về: 400
Trong trường hợp lý tưởng, thực hiện cách chọn mẫu xác sất sẽ đáp ứng
được tính đại diện của thông tin. Tuy nhiên với tình hình thực tế số lượng mẫu
công ty quá ít nên phải chọn mẫu theo cách chọn phi xác suất để thông tin xử lý
có ý nghĩa về mặt thống kê.
Các đặc điểm mẫu được sử dụng để xử lý tương quan khi phân tích số liệu
để chính là các loại hình DN FDI và ngành nghề đăng ký kinh doanh của các DN
FDI. Đầu tiên căn cứ vào các loại hình DN FDI chúng tôi sẽ chọn ra các DN:
DN 100% vốn FDI; DN liên doanh; Hợp đồng BOT, BT, BTO; Công ty cổ phần;

chuỗiở
chỉnh bộ (điều tra thử) câu hỏi cho bảng hỏi, giữ
Số phiếu: 10 lại các biến cần thiết cho
phiếu
điều tra.
Chính
Định
Phiếu điều tra Kết quả điều tra nhận
thức
lượng chính thức.
được
Số phiếu: 400 sẽ được xử lý, làm sạch
phiếu
bằng phần mềm SPSS 20
nhằm cung cấp thông tin
cho những phân tích, đánh
giá về QLNN đối với hoạt
động FDI ở KCNC Thành
phốtựHồ
Chí
Minh.
Nguồn: Tác giả
xây
dựng.

Thời gian
20/3/2018

15/4/2018
20/5/2018

Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là sự quản lý toàn bộ nền kinh tế
quốc dân bằng quyền lực nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ,
môi trường, lực lượng vật chất và tài chính trên tất cả các lĩnh vực (bao gồm
các thành phần kinh tế) nhằm đảm bảo nền kinh tế quốc dân tăng trưởng và
phát triển bền vững.


10

Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội, vì vậy, quản lý của
nhà nước về kinh tế ở hầu hết các quốc gia đều được thực hiện thông qua cả ba
cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Luận án sử dụng cách tiếp cận này để phân tích thực trạng quản lý của nhà
nước đối với nguồn vốn FDI: Thứ nhất, xem xét về các chính sách quản lý về
môi trường đầu tư (như chính sách về đất đai, mặt bằng kinh doanh; thứ hai,
chính sách về tài chính, tín dụng; thứ ba, chính sách về cải cách hành chính;..);
thứ tư, chính sách về quy hoạch, thu hút đầu tư.
Cách tiếp cận tâm lý
Cách tiếp cận tâm lý được sử dụng nhằm chỉ ra các hiện tượng tâm lý có
ảnh hưởng đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các DN có vốn đầu tư nước
ngoài - chủ thể quan trọng trong nguồn vốn FDI. Cụ thể hơn dưới góc độ tâm lý,
luận án chỉ ra được các đặc điểm, cơ chế và các quy luật tâm lý đang ảnh hưởng
đến hoạt động quản lý của các chủ thể có tham gia vào quản lý các DN. Bởi ở
đâu có quyền lực là ở đó có nguy cơ lạm quyền, lộng quyền và tha hóa quyền
lực. Không thể nói quyền lực khi trao cho ai đó và bảo đảm thực hiện thông qua
“lòng tốt” của họ mà phải có cơ chế kiểm soát. Muốn kiểm soát được thì phải
tiếp cận đối tượng được trao quyền từ nhiều phương diện nhưng trước hết đề tài
cần quan tâm đến những phẩm chất tâm lý đảm bảo cho người lãnh đạo, quản lý
đáp ứng được các kỳ vọng của xã hội, của DN thực hiện đúng chức trách của họ.
Đây là những cơ sở quan trọng để đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản

bảo đảm cho pháp luật đầu tư nước ngoài được thực hiện nghiêm, bảo đảm lợi
ích hợp pháp của các bên tham gia thông qua các cơ quan chức năng như Tòa án
kinh tế; Viện kiểm sát, Thanh tra kinh tế…
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Qua tổng quan các kết quả nghiên cứu đã đạt được về quản lý nhà nước
đối với hoạt động FDI vào các KCNC, tác giả chỉ ra những khoảng trống về mặt
lý thuyết, những vấn đề con chưa được đồng thuận cần đi sâu nghiên cứu để
hoàn thiện hơn nữa quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI vào các KCNC.
- Trên cơ sở hệ thống hóa các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu
về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI vào các KCNC, tác giả đưa ra khái
niệm về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI vào các KCNC.
- Làm rõ cơ sở lý luận, xây dựng khung phân tích về quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI vào các KCNC; khái quát, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn về
quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI vào các KCNC có giá trị tham khảo đối
với KCNC Thành phố Hồ Chí Minh.


12

- Luận án xác định nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI
vào KCNC và các nhân tố ảnh hưởng, bao gồm nhân tố bên trong và nhân tố
bên ngoài.
- Đánh giá đầy đủ, khách quan thực trạng, chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân của quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn 2002 - 2017.
- Dự báo xu hướng vận động của dòng vốn FDI vào KCNC Thành phố Hồ
Chí Minh và đề xuất định hướng, hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và

vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài, trong một doanh nghiệp
hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục
đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản lý
doanh nghiệp và mở rộng thị trường” [108]. Khái niệm này đề cập đến hai yếu tố
là tính lâu dài của hoạt động đầu tư và động cơ đầu tư.


14

Trên cơ sở tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của FDI, các nhà khoa học trên
thế giới đã tích cực nghiên cứu vai trò, tác động của FDI đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của các quốc gia.
Nghiên cứu "How Does Foreign Direct Investment Affect Economic
Growth?" của Borensztein et al (1995 - 1998) sử dụng số liệu của 69 nước đang
phát triển giai đoạn 1970 - 1989 để hồi quy [94]. Kết quả cho thấy FDI ròng chỉ
có ảnh hưởng nhẹ đến tăng trưởng, nhưng khi sử dụng số nhân của FDI với trình
độ của lực lượng lao động làm biến độc lập thì biến này có hệ số dương và ý
nghĩa thống kê. Tác giả kết luận “FDI chỉ có tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế khi nước nhận đầu tư có lực lượng lao động đạt đến trình độ nhất định.
Dưới mức đó, FDI hầu như không có tác động đến tăng trưởng kinh tế”. Điều này
cũng hoàn toàn đồng nhất với nghiên cứu của Carkovic, M&R.Levine trong
“Does Foreign Direct Investment Accelerate Economic Growth? in Does
Foreign Direct Investment Promote Development?”. Carkovic và Levine đã
chỉ ra rằng không một tác động cụ thể nào của FDI được thể hiện rõ trong thời
gian dài, ví dụ như khảo sát trong giai đoạn 1960 - 1995 và chỉ có một số tác
động nổi bật nhưng mang tính nhất thời trong khoảng thời gian 5 năm liên tiếp
[95]. Không có một tài liệu cụ thể nào chỉ ra được những biến số phù hợp hàm
chứa tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, Klein và các cộng sự
lập luận rằng, trong ngắn hạn, nguồn vốn FDI là chìa khóa quan trọng đối với
tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển [116]. Các nhà nghiên cứu

ràng buộc về lao động, thương mại và công nghệ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng
chỉ ra vai trò của chính sách cấp quốc gia và cấp EU trong việc định hình FDI và
chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp ô tô ở Trung Âu và Đông Âu [123].
Nghiên cứu của tác giả FU Lifen cũng đã phân tích các tác động của FDI đến sự
phát triển cơ cấu ngành công nghiệp của Trung Quốc, cũng như phân tích sự thay
đổi cơ cấu ngành công nghiệp giai đoạn 1985 - 2008 ở Trung Quốc [105]. Kết
quả cho thấy: FDI có thể thúc đẩy công nghiệp Trung Quốc phát triển và tối ưu
hóa trực tiếp sự phát triển đó thông qua một gói các hiệu ứng, chẳng hạn như sự
thay đổi của cấu trúc cầu, tích lũy vốn, tiến bộ công nghệ, thay đổi thể chế và
phát triển thương mại xuất khẩu.
Trong một nghiên cứu của Aizenmen và Noy về mối quan hệ hai chiều giữa
FDI và thương mại của hai nhóm nước: Các nước phát triển và các nước đang
phát triển đã chỉ ra rằng mối quan hệ hai chiều giữa thương mại và FDI mạnh
hơn


16

ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển. Trong bối cảnh nghiên cứu
lúc bấy giờ, FDI thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn [91]. Fukao et al đã phân tích các
thay đổi gần đây trong hoạt động thương mại của các nước Đông Á và phân tích
vai trò của FDI trong những thay đổi đó trong giai đoạn 1988 - 2000
[106]. Nghiên cứu của họ cho thấy trao đổi thương mại giữa các DN cùng ngành
của các nước Đông Á đã tăng lên nhanh chóng trong khoảng thời gian nghiên
cứu. Đặc biệt là trong trường hợp ngành công nghiệp điện tử nói chung và ngành
cơ khí chính xác nói riêng. Họ cũng thấy rằng vốn FDI có tác động tích cực
trong trao đổi thương mại trong ngành công nghiệp thiết bị điện. Cuối cùng, họ
kết luận rằng ở Đông Á, FDI đóng vai trò quan trọng đối với sự gia tăng thương
mại giữa các DN ở các quốc gia.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về quản lý nhà nước

các nền kinh tế đang chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới). Tác giả
khuyến nghị, để phát huy vai trò tích cực của FDI, nước nhận đầu tư không
những cần có chính sách tăng cường thu hút FDI, mà còn phải có chính sách chủ
động định hướng FDI theo hướng hiệu quả [111].
Báo cáo “Vietnam Economic report on Industrilization and Industry
Policy” vào tháng 10 năm 2005 do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công
bố đã có những phân tích sâu sắc cùng với những số liệu được thu thập chính
xác về hoạt động công nghiệp hóa cũng như các chính sách công nghiệp đối với
các DN nói chung và các DN FDI nói riêng hoạt động tại Việt Nam. Trong đó,
báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách hành chính cần thiết để
hỗ trợ cho sự phát triển của khu vực DN FDI, bao gồm: khung quy phạm pháp
luật, quy định về xuất nhập cảnh, đất đai cho thuê, lao động, tín dụng, thuế
và các chính sách thượng mại quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo cũng đề cập đến một
vấn đề là nguy cơ không thống nhất của các chính sách và chính điều đó là rào
cản gây khó dễ cho các hoạt động của các DN. Theo đó, báo cáo đưa ra nhưng
hạn chế và gợi ý thay đổi cần thiết, những đánh giá mang tính phù hợp với thực
trạng quản lý các DN FDI tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng để nhằm
giúp cho các chính sách hành chính có tác dụng thực tế hơn đối với bộ phận DN
này [128].
Trong nghiên cứu về cải cách chính sách và FDI ở châu Phi của Elizabeth
Asiedu, tác giả đưa ra nhận định: “Tiến độ tuyệt đối nhưng suy giảm tương đối”,
mặc dù đã có những cải thiện trong môi trường chính sách của châu Phi về
FDI.


18

Họ lập luận rằng, mặc dù Chính phủ đã cải cách thể chế, cải thiện cơ sở hạ tầng
và đơn giản hóa khung pháp lý về FDI, tuy nhiên hiệu quả đã không có những
bước đột biến so với những cải cách được thực hiện. Vì vậy, so với những vùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status