Quản lý nhà nước về công chức cấp xã từ thực tiễn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


g

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

CHỨC CẤP XÃ TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ............................................................................................................. 23
2.1. Đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố
Đà Nẵng........................................................................................................... 23
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về công chức cấp xã trên địa bàn quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng................................................................ 27
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG............................................ 42
3.1. Nhu cầu tăng cường quản lý nhà nước về công chức cấp xã ................... 42
3.2. Các quan điểm về tăng cường quản lý nhà nước về công chức cấp xã ... 46
3.3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về công chức phường ............ 49
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

1

CB,CC

Cán bộ, công chức

2


QPPL

Quy phạm pháp luật

8

TP

Thành phố

9

UBND

Ủy ban nhân dân

10

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Số lượng và chất lượng của 7 chức danh công chức phường......... 26


MỞ ĐẦU

Trong hệ thống cơ quan hành chính 4 cấp của Nhà nước ta, cấp xã là
đơn vị hành chính cấp cơ sở, là cấp thấp nhất trong hệ thống. Tuy nhiên, đội
ngũ công chức ở đây có vai trò hết sức quan trọng trong việc làm cầu nối giữa
Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước. Do tính chất đặc thù công
việc, đội ngũ này một mặt vừa giải quyết những công việc hàng ngày, quán
triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, mặt khác vừa phải tổng kết kinh
nghiệm, tham mưu giúp Đảng uỷ, chính quyền đề ra kế hoạch, chủ trương và
các biện pháp đúng đắn, phù hợp với thực tiễn của địa phương. Trong công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng
đội ngũ công chức ngang tầm đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ, trong đó có đội
ngũ công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã. Tại hội nghị lần thứ V,
BCH TW khóa IX đã ban hành Nghị quyết về: “Đổi mới nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ,
công chức và đề ra một loạt chủ trương, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng” [14].
Nhìn chung đội ngũ công chức nhà nước, trong đó có đội ngũ công
chức cấp xã xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu đã có sự chuyển biến nhiều
mặt, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý nhà nước về công chức cấp xã vẫn còn
nhiều vấn đề cần phải làm, đáng được quan tâm. Chính vì một bộ phận công
chức cấp xã do được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nên cơ cấu chưa
đồng bộ, trình độ năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, tính
chuyên nghiệp còn thấp, hoạt động đôi khi chưa thực sự dựa vào pháp luật,
còn giải quyết theo ý muốn chủ quan của mình. Bên cạnh đó, hiện tượng chây
ì, thiếu tinh thần trách nhiệm, đùn đẩy công việc, chấp hành kỷ cương, kỷ luật
hành chính chưa nghiêm,... vẫn chưa được khắc phục có hiệu quả.

2




phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Học viện Khoa học xã hội năm 2015;
Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về công chức cấp xã từ thực tiễn
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, Học viện Khoa học xã hội năm 2015;
Luận văn “Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước ta”, Học viện
Chính trị quốc gia năm 2016.
Các công trình nghiên cứu nói trên là tư liệu quý giá dùng để tham
khảo, góp phần giúp cho học viên hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Là đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã tại
quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, chỉ ra những kết quả đạt được,
những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế đó, từ
đó đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động quản lý nhà nước đối với công
chức cấp xã, đáp ứng các yêu cầu đặt ra của thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác lập các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, như khái niệm, đặc
điểm,vai trò của quản lý nhà nước về công chức cấp xã; quản lý nhà nước
bằng pháp luật về công chức cấp xã; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà
nước về công chức cấp xã.
Xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với công
chức cấp xã tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng; làm rõ những kết
quả đạt được; những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của nó trong quá
trình hoạt động quản lý.
Đề xuất các quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động quản lý nhà
nước về công chức cấp xã nói chung và trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn,
thành phố Đà Nẵng nói riêng.

4




- Về mặt lý luận: Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
trong quá trình học tập và nghiên cứu của các độc giả, các nhà hoạch định
chính sách, nhà quản lý vàhọc viên.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với công chức
cấp xã nói chung và công chức cấp xã trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về công chức
cấp xã.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về công chức cấp xã tại quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về
công chức cấp xã tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về công
chức cấp xã
1.1.1. Công chức cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của công chức cấp xã
Theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 thì “công chức”
và “công chức cấp xã” được hiểu như sau:

- Là người đại diện cho quần chúng nhân dân ở cơ sở, luôn lắng nghe ý
kiến của người dân, từ đó có cách thức tiến hành công việc phù hợp, đảm bảo
được những lợi ích chính đáng của người dân.
- Là người trực tiếp giải quyết các yêu cầu, quyền lợi của dân và là cầu
nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
- Là người xuất phát từ cơ sở, trực tiếp tham gia vào các hoạt động của
người dân, đại diện cho nhân dân, vừa thực hiện chức năng quản lý, giải quyết
các công việc của nhà nước liên quan đến người dân, do đó công chức cấp xã
có thể bị chi phối, ảnh hưởng nhiều bởi những phong tục, tập quán,văn hóa
đặc thù của địa phương và dòng họ, dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc
chưa cao.
- Công chức cấp xã theo pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ có ở UBND
cấp xã, không có ở các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị như cấp
hành chính cao hơn, cơ quan cấp trên.
1.1.1.2. Vai trò của công chức cấp xã
Công chức cấp xã là người làm việc tại UBND cấp xã. Đây là lực
lượng công chức giúp cho UBND tiến hành việc quản lý hành chính nhà nước

8


ở cấp cơ sở (cấp xã, phường, thị trấn).
Công chức cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là người đại
diện cho người dân, gần gũi, sát dân cho nên họ là người trực tiếp nắm tâm tư,
nguyện vọng của người dân để phản ánh lên các cấp chính quyền, để các cấp
chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế thấy rằng, ở đâu công chức cấp
xã gần dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của dân thì ở đó cấp chính
quyền sẽ đề ra chính sách đúng đắn, ngược lại ở đâu mà công chức cấp xã
hách dịch, quan liêu, xa rời dân thì ở đó những chính sách đề ra sẽ không phù
hợp.

pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; hành pháp (chấp hành và điều hành) do
hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; và tư pháp do cơ quan tư pháp
thực hiện. Còn theo nghĩa hẹp, là hoạt động hành chính nhà nước của cơ quan
hành pháp để quản lý và điều hành các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội theo một trật tự quy định của pháp luật. Theo đó, Quản lý nhà nước bao
gồm có 02 chức năng cơ bản: 1) Lập quy được thực hiện bằng việc ban hành
các văn bản QPPL để hướng dẫn thực hiện pháp luật; 2) Tổ chức, điều hành,
phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội.
Quản lý nhà nước về công chức, trong đó có công chức cấp xã là sự tác
động có tổ chức bằng chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đối với
đội ngũ công chức nhằm xây dựng đội ngũ công chức có đủ trình độ năng lực,
phẩm chất đạo đức chính trị, đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước.
Đối tượng chịu sự tác động của quản lý nhà nước chính là hành vi của
công chức và các mối quan hệ của đội ngũ này trong quá trình thực thi công
vụ.
Chủ thể của quản lý nhà nước về công chức trước hết là Chính phủ.
Chính phủ thống nhất trong quản lý đội ngũ công chức, Bộ Nội vụ được
Chính phủ giao trực tiếp quản lý; ở cấp Bộ thì có Vụ, Ban tổ chức cán bộ; ở

10


cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương là Sở Nội vụ, Ban tổ chức Tỉnh
ủy; ở cấp Huyện là phòng Nội Vụ, Ban tổ chức Huyện ủy,...
Quản lý đội ngũ công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng có chất
lượng cần phải trải qua nhiều khâu và nhiều công đoạn khác nhau, từ việc xác
định chủ trương, đường lối đến việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá, quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng; luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính
sách đối với công chức. Quá trình này được coi là quản lý đội ngũ công chức.

1.1.2.2. Vai trò của quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã
Thứ nhất, Quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã nhằm góp phần
xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân.
Thứ hai, Quản lý nhà nước về công chức cấp xã nhằm đảm bảo tính
hiệu quả hoạt động và tính hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.
Thứ ba, Quản lý nhà nước về công chức cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ
công chức cấp xã vững mạnh, có uy tín, có năng lực trình độ và có bản lĩnh
vững vàng, luôn gắn bó với mật thiết với nhân dân và luôn vì nhân dân phục
vụ.
1.2. Cơ sở pháp lý, nội dung, mục tiêu, nguyên tắc và chủ thể của
quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã
1.2.1. Cơ sở pháp lý
- Luật cán bộ, công chức năm 2008;
- Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức
danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức và những
người hoạt động không chuyên trách ở cấp phường.
- Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ về việc
tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước.
- Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08/04/2013 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009

12


của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên
trách ở cấp xã.
- Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về
công chức xã, phường, thị trấn.

xã bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp. Bộ Nội vụ có trách nhiệm tham
mưu cho Chính phủ, Sở Nội vụ và phòng Nội vụ có trách nhiệm tham mưu
cho UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công chức cấp xã. Mỗi cơ
quan có nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và được pháp luật quy định cụ
thể [8]:
- Bộ Nội vụ:
Chủ trì trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các quy định về công
chức cấp xã;
Hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ về công chức cấp xã về tuyển dụng, sử dụng, nội dung,
chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, chế độ tiền lương và các
chế độ đãi ngộ, khen thưởng, xử lý vi phạm đối với công chức cấp xã;
Chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định cụ thể
tiêu chuẩn đối với từng chức danh công chức cấp xã;
Thanh tra, kiểm tra đối với Ủy ban nhân dân các cấp và đối với công
chức cấp xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức cấp
xã;
Thống kê, tổng hợp số lượng, chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên
phạm vi toàn quốc.
- Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh:
Quyết định số lượng cụ thể công chức cấp xã theo quy định của Chính
phủ và hướng dẫn Bộ Nội vụ; hướng dẫn việc kiêm nhiệm một số chức danh

14


để bảo đảm các lĩnh vực công tác ở địa phương đều có công chức đảm nhiệm;
Ban hành Quy chế tổ chức tuyển dụng công chức cấp xã; hướng dẫn,
kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện đánh giá công chức cấp xã
hàng năm;

cấp quản lý công chức của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quy định về công chức
cấp xã;
Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức cấp xã theo quy định của
pháp luật;
Tổng hợp thống kê, báo cáo số lượng, chất lượng đội ngũ công chức
cấp xã trên địa bàn cấp huyện;
Hướng dẫn, kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc nhận xét, đánh
giá công chức cấp xã hàng năm; kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách
đối với công chức cấp xã;
Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã lập và quản lý hồ sơ công chức cấp
xã.
- Ủy ban nhân dân cấp Xã:
Trực tiếp quản lý và sử dụng công chức cấp xã; nhận xét, đánh giá
hàng năm đối với công chức cấp xã;
Thực hiện chế độ, chính sách, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; quy hoạch,
tạo nguồn đối với công chức cấp xã;
Đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở cấp huyện khen thưởng công
chức cấp xã theo phân cấp quản lý công chức ở địa phương;
Đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp huyện về xử lý vi phạm
đối với công chức cấp xã;
Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức cấp xã theo quy định của
pháp luật;
Thống kê, báo cáo số lượng, chất lượng đội ngũ công chức cấp xã;
Lập và quản lý hồ sơ công chức cấp xã.

16


Nội dung công tác quản lý công chức cấp xã thể hiện mối quan hệ bảo

Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành và
quản lý thống nhất của Nhà nước.
Kết hợp giữa các tiêu chuẩn về chức danh chuyên môn, vị trí việc làm
và chỉ tiêu trong biên chế.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tinh thần trách nhiệm cá nhân
và chế độ phân công, phân cấp rõ ràng.
Việc sử dụng, đánh giá và phân loại công chức phải dựa trên phẩm chất
chính trị, đạo đức lối sống và thực tế năng lực thực thi công vụ.
1.2.5. Chủ thể
Một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về công chức cấp xã là
xác định chủ thể quản lý nhà nước đối với đối tượng công chức này. Điều đó
liên quan đến việc xác định chức năng, nhiệm vụ và phân cấp quản lý, cũng
như mối quan hệ giữa các cơ quan, các cấp, người có thẩm quyền quản lý về
công chức cấp xã. Cơ quan quản lý nước ta đối với công chức cấp xã gồm:
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Theo quy định, trên cơ sở tổng biên chế công chức do Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ có thẩm quyền quyết định giao biên chế và thực hiện quản lý biên
chế công chức đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc; còn đối với
HĐND cấp tỉnh quyết định giao biên chế, Chủ tịch UBND cùng cấp thực hiện
và quản lý biên chế được giao trong phạm vi địa phương quản lý [7].
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về
công chức cấp xã
1.3.1. Mức độ hoàn thiện pháp luật
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng đến chất lượng quản lý
công chức vì các quy định pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng

18





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status