VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THANH SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THANH SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
2.3. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tại quận Ngũ
Hành Sơn ...................................................................................................................42
2.4. Đánh giá chung tình hình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tại quận
Ngũ Hành Sơn ...........................................................................................................54
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN ........................59
3.1. Các căn cứ để xây dựng giải pháp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp......59
3.2. Một số giải pháp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp .................................63
3.3. Kiến nghị ............................................................................................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
DVTM
Dịch vụ thương mại
DN
Doanh nghiệp
DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trách nhiệm hữu hạn
TTHC
Thủ tục hành chính
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Dân số quận Ngũ Hành Sơn từ năm 2013 – 2017 ....................................25
Bảng 2.2. Nguồn lao động quận Ngũ Hành Sơn từ năm 2013 – 2017......................26
Bảng 2.3. Cơ cấu ngành kinh tế quận Ngũ Hành Sơn từ năm 2013 -2017 ...............28
Bảng 2.4. Số DN của quận Ngũ Hành Sơn thực tế đang hoạt động, giai đoạn
2013 - 2017 ...............................................................................................................30
Bảng 2.5. Số lượng và tốc độ phát triển bình quân của các DN quận Ngũ Hành
Sơn đang hoạt động sản xuất kinh doanh theo khu vực kinh tế và loại hình doanh
nghiệp, giai đoạn 2013 -2017 ....................................................................................31
Bảng 2.6. Số lượng DN quận Ngũ Hành Sơn chia theo ngành kinh tế, giai đoạn
2013 – 2017 ...............................................................................................................32
Bảng 2.7. Số lao động và số lao bình quân một DNVVN quận Ngũ Hành Sơn
giai đoạn 2013-2017 ..................................................................................................33
Bảng 2.8. DNVVN quận Ngũ Hành Sơn phân theo quy mô lao động, giai đoạn
2013-2017..................................................................................................................34
Bảng 2.9. Lao động của các DNVVN quận Ngũ Hành Sơn chia theo khu vực,
loại hình và ngành kinh tế, giai đoạn 2013-2017 ......................................................34
Bảng 2.10. DN quận Ngũ Hành Sơn phân theo quy mô nguồn vốn thời điểm
định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành
mạnh hóa các vấn đề xã hội.
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là vấn đề có nội dung rộng, liên quan
đến nhiều chủ đề. Ở nước ta hiện nay, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh là vấn đề có tính cấp thiết, đặc
biệt là ở các quận, thành phố lớn. Luật Doanh nghiệp 2014 đã đơn giản hóa thủ tục,
giảm nhiều rào cản gia nhập thị trường, Luật Đầu tư 2014 đã xóa bỏ các phân biệt
đối xử giữa những nhà đầu tư, bảo đảm hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên theo nhận định của
nhiều nhà kinh tế, các doanh nghiệp hiện nay chưa phát huy được hết tiềm năng của
mình, còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân một phần do bản thân các doanh nghiệp
chưa có nhiều kinh nghiệm nhất định trong nền kinh tế thị trường, chưa đủ năng
động sáng tạo trong kinh doanh. Quan trọng hơn là hiện tại chưa có một khuôn khổ
chính sách rõ ràng của Nhà nước trong việc đưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình.
Hiện nay, việc quản lý doanh nghiệp khi đăng ký thành lập và sau thành lập
được thực hiện theo quy định của luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định
quản lý doanh nghiệp của cơ quan cấp trên. Trên thực tế, ở thành phố Đà Nẵng hiện
nay, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng như việc quản lý doanh
nghiệp sau thành lập được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, do đó việc quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp khó được thống nhất, đặc biệt là ở các cấp quận, huyện
còn chưa rõ chức năng, nhiệm vụ, dẫn đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh
1
nghiệp chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ những bất cập trên, em xin chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển kinh tế luôn là hướng đi hàng đầu để xây dựng một quốc gia phồn
thịnh. Trong đó trọng tâm của vấn đề phát triển kinh tế đó chính là thúc đẩy sự phát
doanh nghiệp sau đăng ký thành lập” [1]. Đề án đã cung cấp những dữ liệu quan trọng
về những đổi mới của nước ta trong công tác quản lý doanh nghiệp, về mối quan hệ
giữa Nhà nước và doanh nghiệp, về khung khổ pháp lý của công tác Nhà nước đối với
doanh nghiệp. Đặc biệt, những giải pháp trong đề án mang tính khả thi, hiện nay đã áp
dụng tại các tỉnh thành phố tạo chuyển biến tích cực trong việc quản lý doanh nghiệp
sau đăng ký kinh doanh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng và nêu ra được những hạn chế, nguyên nhân cản trở việc
thành lập và phát triển các doanh nghiệp, rút ra những đánh giá tổng quát về tình hình
quản lý doanh nghiệp, cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp trên địa bàn quận
Ngũ Hành Sơn thời gian qua.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn
quận Ngũ Hành Sơn trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu sự quản lý của nhà nước ở cấp Quận đối với các
doanh nghiệp.
- Về mặt không gian: Các doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2013 – 2017. Bởi vì giai
đoạn này sát với thời điểm hiện nay, các số liệu báo cáo theo năm đã được hoàn chỉnh.
Giải pháp đến năm 2020
3
4
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp trên địa bàn
quận Ngũ Hành Sơn.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối
với các doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Theo đó,
doanh nghiệp như một phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh. Muốn kinh
doanh, thương nhân phải chọn cho mình một trong số những loại hình doanh nghiệp
mà pháp luật quy định.
Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là
một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán.
Theo Luật Công ty Việt Nam ban hành năm 1999, doanh nghiệp là các đơn vị kinh
doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó
là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra
khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh
vậy kỹ thuật lao động được thực hiện rất nghiêm ngặt. Chính điều này đã góp phần
vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong công nghiệp. Đồng
thời thông qua quá trình này, doanh nghiệp cũng được xem là nơi đào tạo, rèn luyện
các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển các
doanh nghiệp lớn.
- DN góp phần quan trọng thu hút vốn và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa
phương. Việc thành lập các Doanh nghiệp không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là với
các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham
gia đầu tư. Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các loại hình Doanh nghiệp có thể dễ
dàng huy động vốn vay dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè…Chính vì vậy, việc đẩy
mạnh Doanh nghiệp được coi là phương tiện hiệu quả trong việc huy động vốn, sử
dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư
riêng. Các Doanh nghiệp được phân tán ở hầu hết các địa phương nên chúng có khả
năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm sản xuất các
ngành nghề truyền thống của địa phương.
7
- DN đã đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Thống kê cho thấy hiện
nay đóng góp vào ngân sách nhà nước của Doanh nghiệp ngày càng tăng lên. So với
đóng góp vào ngân sách trung ương thì đóng góp của DN vào nguồn thu ngân sách địa
phương còn lớn hơn nhiều. Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các DN còn có sự
đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể
thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác.
1.1.3. Phân loại doanh nghiệp
* Theo ngành nghề kinh doanh
Việc nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng
đến rủi ro kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp kinh doanh khác nhau nên ảnh
hưởng đến chi phí sử dụng vốn. Trong nền kinh tế, có thể phân thành 6 loại hình
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Ở Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn có hai dạng: Công ty trách nhiệm
hữu hạn có hai thành viên trở lên và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong
đó:
+ Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
+ Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo qui định của pháp
luật.
+ Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá
năm mươi.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức
hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của Công ty.
Doanh nghiệp Nhà nước
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,
thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập,
tổng công ty nhà nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp
sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát
9
triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn;
ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội
đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
+ Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau
kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành
viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
+ Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về các nghĩa vụ của công ty;
+ Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
1.2. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Nói một cách khái quát, quản lý nhà nước là sự tác động của Nhà nước vào toàn
bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, doanh nghiệp nói riêng bằng hệ
thống luật pháp, chính sách tổ chức, các chế tài về kinh tế - tài chính và các công cụ
quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, nhằm thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước. Quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền
của Nhà nước và thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh
tế lên hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.2.2. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế nói chung, nhu cầu bản thân các doanh nghiệp đòi hỏi phải có
sự quản lý của Nhà nước. Quá trình sản xuất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ
giữa các doanh nghiệp với nhau. Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và họ
luôn tìm mọi cách để tối đa hoá lợi ích đó. Để đạt được mục đích của mình các doanh
nghiệp có thể vi phạm đến lợi ích của người khác. Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng:
lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác
xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân. Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng
11
này là các hoạt động kinh tế chồng chéo cản trở nhau, sự phân bổ nguồn lực không hợp
luôn tối đa hóa lợi nhuận làm cạn kiệt tài nguyên môi trường, do đó, cũng cần phải có
sự quản lý của nhà nước.
1.2.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Một là, phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của Doanh nghiệp. Quản lý nhà
nước phải tôn trọng và tạo điều kiện để vận hành các quy luật khách quan của cơ chế
thị trường đối với doanh nghiệp, như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật
giá trị... Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm đảm bảo quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp, hạn chế sử dụng biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với DN phải được phân định rõ ràng
gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước. DN hoạt động
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực, chuyên ngành chịu sự quản lý của cơ quan Nhà
nước nào thì cơ quan đó chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đó.
Đối với DN hoạt động kinh doanh đa ngành, nghề, thuộc nhiều lĩnh vực chịu sự quản
lý của nhiều cơ quan Nhà nước, thì khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực
nào sẽ do cơ quan quản lý lĩnh vực, chuyên ngành đó chịu trách nhiệm xử lý. Chấm
dứt tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước đổi với doanh nghiệp của các cơ
quan Nhà nước, đảm bảo khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì luôn có một cơ quan
Nhà nước có trách nhiệm xử lý. Mỗi sở, ban ngành thành phố có chức năng, nhiệm vụ
hướng dẫn DN thực hiện các quy định pháp luật trong các lĩnh vực đó; xây dựng quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước của mình để doanh nghiệp vừa thuận
lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo trật tự an toàn xã hội và không
xâm phạm lợi ích của bên thứ ba; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật của
doanh nghiệp thuộc lĩnh vực mình quản lý.
Ba là, quản lý nhà nước đối với DN không tách rời với các hoạt động giám sát
doanh nghiệp của các chủ thể khác, Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế
trong xã hội, chủ sở hữu doanh nghiệp cùng tham gia quản lý, giám sát hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước chỉ quản lý bằng pháp luật, chỉ làm
những việc thuộc chức năng quản lý hành chính nhà nước.
những kênh giao tiếp quản lý, từ đó Nhà nước có thể kiểm soát được các hoạt động
của doanh nghiệp một cách có hiệu lực.
- Định hướng chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quản trị kinh doanh, doanh nhân và bộ máy giúp việc bao giờ cũng phải
14
tìm câu trả lời cho câu hỏi: sản xuất hoặc làm dịch vụ gì? Việc trả lời câu hỏi này có ý
nghĩa lớn lao đối với cả Nhà nước và doanh nhân. Trên thực tế, không phải doanh
nhân nào cũng có khả năng tìm được lời giải tối ưu. Vì vậy, Nhà nước phải can thiệp
để một mặt ngăn ngừa việc sản xuất những sản phẩm, hoặc tạo ra các dịch vụ bất lợi
cho xã hội, mặt khác hỗ trợ doanh nhân tìm được phương hướng sản xuất kinh doanh
lâu bền, có doanh lợi cao và tránh được rủi ro.
- Can thiệp vào việc thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ, cụ thể là:
+ Trong việc sử dụng tài nguyên và công sản vào các quá trình kinh tế, Nhà
nước cần phải ngăn chặn các hành vi trộm cắp tài nguyên; các hành vi khai thác một
cách lãng phí các nguồn tài nguyên, các hành vi sử dụng tài nguyên vào các hoạt động
sản xuất kinh doanh không đem lại hiệu quả cao; các hành vi lạm dụng, phá hoại, trốn
phí khi sử dụng các công sản, nhằm bảo toàn chúng.
+Trong việc gây ô nhiễm môi trường, Nhà nước phải quan tâm đến các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến việc làm ô nhiễm môi
trường. Chẳng hạn, việc lựa chọn nguyên liệu đưa vào sản xuất sao cho ít gây nhiễm;
việc áp dụng các phương pháp tiêu huỷ chất thải; việc bố trí địa thế doanh nghiệp sao
cho ít ảnh hưởng đến dân cư và các loại sản xuất xung quanh…
+ Trong phân bố địa điểm sản xuất chung của doanh nghiệp cũng như phân bố
các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp. Trên thực tế, một số địa điểm được các doanh
nghiệp lựa chọn đem lại lợi thế cho doanh nghiệp, nhưng lại gây ra bất lợi chung cho
xã hội. Trên giác độ từng doanh nghiệp, việc bố trí nơi làm việc có thể gây ra ảnh
hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động.
- Nhà nước quản lý vấn đề thống nhất hoá sản phẩm, tiêu chuẩn hoá sản phẩm
doanh bảo hiểm, Luật Các tổ chức tín dụng…
Thứ hai, đó là các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến những nội
dung quản lý nhà nước được áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Đây là hệ
thống văn bản pháp lý có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rất rộng, có tác dụng tạo ra
một môi trường kinh doanh chung cho mọi hình thức doanh nghiệp, bao gồm:
- Các quy định về chế độ tài chính, kế toán đối với doanh nghiệp như: Luật
Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Kế toán và Thống kê…
- Các quy định về phá sản, cạnh tranh, đấu thầu, bảo hộ nhãn hiệu, các thị
trường đầu vào như: Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí
tuệ, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai…
16
- Các quy định về điều kiện kinh doanh (điều kiện có giấy phép hoặc không cần
giấy phép): đây là hệ thống các quy định liên tục được ban hành mới, hoặc sửa đổi, bổ
sung và nằm trong hầu hết các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh
doanh. Đến nay, chỉ tính riêng hệ thống quy định về ngành, nghề kinh doanh phải có
giấy phép bao gồm khoảng hơn 40 Luật, Pháp lệnh và khoảng nhiều Nghị định hướng
dẫn thi hành.
- Các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính đối với
doanh nghiệp như: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thanh tra và các Nghị
định hướng dẫn thi hành theo từng lĩnh vực cụ thể…
Luật Doanh nghiệp và các luật khác liên quan cùng với các văn bản hướng dẫn
thi hành đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một khung pháp lý mới trong
quản lý nhà nước đối với doanh nghiêp tư nhân. Có thể thấy rằng, hệ thống văn bản
pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn
chỉnh và đồng bộ, nhất là giai đoạn từ năm 2006 đến nay. Việc nhà nước có trách
nhiệm không ngừng hoàn thiện các quy phạm pháp luật kinh doanh sao cho cởi mở,
minh bạch và có thể dự báo sẽ vừa có tác dụng định hướng và quản lý thống nhất
doanh nghiệp, vừa tạo lòng tin và thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh
Doanh nghiệp sau đăng ký thành lập trên địa bàn theo thẩm quyền phân cấp hành
chính và từng lĩnh vực cụ thể có liên quan. Như vậy, trong lĩnh vực quản lý hành
chính, UBND các cấp là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước có quan hệ
trực tiếp hàng ngày đối với mọi loại hình doanh nghiệp.
18