VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU HUYỀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU HUYỀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN THỊ AN
HÀ NỘI, 2019
SƠN ................................................................................................................. 66
3.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn ................................................................................. 66
3.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn ................................................................................. 68
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng và phát triển đời sống
văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ................................................... 70
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Từ và cụm từ được viết tắt
ANTT
An ninh trật tự
BCĐ
Ban chỉ đạo
BCH
Ban chấp hành
CQĐVVH
UBND
Ủy ban nhân dân
VHTT
Văn hóa thông tin
VHTT&DL
Văn hóa, thể thao và Du lịch
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả xây dựng Gia đình văn hóa giai đoạn 2013 - 2018 ........... 43
Bảng 2.2: Kết quả xây dựng Làng văn hóa giai đoạn 2013 - 2018: ............... 44
Bảng 2.3: Kết quả xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa
giai đoạn 2013 - 2018 ...................................................................................... 45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, Đảng ta luôn quan tâm tới lĩnh vực văn hóa, sự nghiệp xây dựng và phát
triển văn hóa. Trong cách mạng dân tộc dân chủ Đảng ta đã có bản Đề cương
văn hóa 1943, trong đó Đảng xác định 3 nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học
hóa và đại chúng hóa với mục tiêu xây dựng một nền văn hóa cho toàn thể
nhân dân. Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, mục tiêu đó vẫn được giữ vững, phát huy và một trong những hoạt
bị ảnh hưởng lối sống thực dụng, đang làm băng hoại giá trị đạo đức con
người, nhiều giá trị tinh thần bị đảo lộn, xuống cấp. Tình hình đó đặt ra cho
các cấp các ngành quản lý văn hóa nói riêng và toàn xã hội nói chung nhiều
băn khoăn, trăn trở. Việc đặt công tác phát triển “văn hóa ngang bằng với
phát triển kinh tế” như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII chỉ rõ
đang là yêu cầu cần thiết, để người dân có điều kiện trở thành chủ thể sáng tạo
và hưởng thụ văn hóa đích thực, lành mạnh.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, trong những năm qua công
tác xây dựng văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt được nhiều kết
quả đáng khích lệ, cụ thể là: xây dựng con người với những đức tính tốt đẹp,
giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình và cộng đồng được phát huy, ý
thức của người dân tốt hơn, phong trào văn hóa được phát triển sâu rộng, lễ
hội truyền thống được duy trì, công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc được
quan tâm, quan hệ hợp tác hữu nghị quốc tế về văn hóa được tăng cường, các
thiết chế văn hóa được củng cố, công tác xã hội hóa văn hóa được đẩy mạnh.
Tuy nhiên bên cạnh đó Lạng Sơn cũng còn gặp không ít khó khăn do những
hạn chế chủ quan và những tác động khách quan, do vậy việc tiếp tục nghiên
2
cứu tìm ra những giải pháp trong chỉ đạo, làm rõ những vướng mắc về mặt
nhận thức lý luận và những bất cập trong hoạt động thực tiễn đang là vấn đề
cần giải quyết hiện nay.
Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa hiện nay của
tỉnh Lạng Sơn, với mong muốn vận dụng những kiến thức học tập vào thực
tiễn tại cơ sở, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ
sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu xây dựng phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn cả nước
không phải là một vấn đề mới. Trong những năm vừa qua Đảng ta đã rất quan
người, do vậy Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình
phát triển, là đối tượng, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
(Tạp chí văn hóa Nghệ thuật số 401 ra thứ năm ngày 09/11/2017). [23]
- Bài viết “ Tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở” của tác giả Hà Văn Tăng đã phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về xây dựng văn hóa cơ sở, nêu ra thực trạng thực hiện trong công
tác xây dựng văn hóa cơ sở nước ta. (Tạp chí Cộng sản ngày 26/02/2007).
[31]
- Trong bài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở”, của tác giả Nguyễn Văn Đại cũng đã bàn về các giải pháp
nâng cao chất lượng phong trào văn hóa cơ sở, trong đó, ông nhấn mạnh đến
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và việc đẩy mạnh
thực hiện mục tiêu chương trình nông thôn mới ở cơ sở. ( website Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa) [16].
- Bài viết “Nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của tác giả
Trần Minh Chính viết: “Công tác tổ chức, quản lý các hoạt động văn hoá cơ
4
sở và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã đáp ứng
được nguyện vọng của nhân dân. Các hoạt động văn hoá cơ sở đã thực sự
có chuyển biến tích cực làm cho văn hoá thấm sâu vào mỗi gia đình, cộng
đồng dân cư, tạo nên sự chuyển biến sâu sắc và trở thành thước đo giá trị
về chất lượng cuộc sống, về sự phát triển nhân cách con người, về nét đẹp
trong mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; góp phần xây dựng môi
trường văn hoá lành mạnh, ổn định, tạo đà cho sự gia tăng phát triển kinh tế
ở mỗi địa phương”. (website của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) [14].
- Bài viết “Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống và hiện đại”
của tác giả Lê Thị Bích Hồng đã nêu cách tiếp cận về văn hóa, ứng xử văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu thực trạng ban hành và thực thi chính
sách phát triển văn hóa cơ sở của tỉnh Lạng Sơn, vai trò của nó đối với sự
phát triển kinh tế xã hội địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để
đem lại hiệu quả cao nhất cho việc thực hiện xây dựng và phát triển đời sống
văn hóa cơ sở của tỉnh Lạng Sơn nói riêng, cả nước nói chung trong thời gian
tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách phát triển văn
hóa cơ sở.
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển văn hóa
cơ sở ở Lạng Sơn trong những năm gần đây.
- Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp, công cụ của chính sách phát
triển văn hóa cơ sở hiện nay từ thực tế tại tỉnh Lạng Sơn phù hợp với điều
kiện cụ thể trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
6
Chính sách phát triển văn hóa cơ sở, cụ thể là giải pháp và công cụ
chính sách.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Theo website của Bộ VHTTDL thì Cục Văn hóa Cơ sở có chức năng
sau: Cục Văn hóa cơ sở là tổ chức thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có
chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực
văn hóa cơ sở bao gồm:
- Thiết chế văn hóa cơ sở,
- Nếp sống văn hóa,
- Nghệ thuật quần chúng,
tiễn cao của đề tài nghiên cứu.
- Thu thập thông tin: Được sử dụng để thu thập và khai thác thông tin
từ các nguồn có sẵn liên quan đền đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện,
tài liệu, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, ban, ngành ở Trung
ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê
của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân liên quan trực
tiếp, gián tiếp tới vấn đề chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nước
ta nói chung và chính sách phát triển văn hóa cơ sở từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng các lý thuyết về chính sách công để nghiên cứu thực
tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách. Kết quả đánh giá
nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan đến chính
sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp chính sách
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành, cung cấp những
nghiên cứu, tư liệu thực tế tại Lạng Sơn qua đó góp phần làm phong phú thêm
8
hệ thống lý luận của khoa học chính sách công. Kết quả của Luận văn sẽ có
giá trị tham khảo cho các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thiết lập hệ
thống quản lý và thực thi chính sách công, chính sách phát triển văn hóa cơ
sở.
Ý nghĩa thực tiễn
Qua thực tiễn nghiên cứu việc ban hành và thực thi chính sách phát
triển văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, luận văn sẽ chỉ ra được những
bất cập trong việc tổ chức thực hiện chính sách ở một địa phương còn khó
khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội làm kinh nghiệm cho các nhà quản
lý văn hóa ở các địa phương khác tham khảo. Bên cạnh đó, Luận văn góp
sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [26]
Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con
người, dù đó là hoạt động sản xuất, tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng
xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên...
- Khái niệm “Đời sống văn hóa”
Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người, đó là sự tích lũy, sáng
tạo trong quá trình lao động sản xuất, trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi
con người, trong mỗi gia đình và cộng đồng, nhằm định hướng cho lối sống,
đạo đức trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với
môi trường tự nhiên, hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ và thúc
đẩy sự tiến bộ của xã hội.
12
- Khái niệm “Đơn vị cơ sở”
Đơn vị cơ sở là một kiểu tổ chức cơ bản của xã hội, là địa bàn mà
những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt về đời sống vật
chất và đời sống tinh thần của con người diễn ra trong đời sống hằng ngày.
Đơn vị cơ sở có hai đặc điểm nhận biết chính là: địa bàn sống ổn định và có
tổ chức hành chính ổn định. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
V, đơn vị cơ sở được nhắc đến là: làng, xã, phường ấp, nhà máy, công trường,
nông trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan trường
học, bệnh viện, cửa hàng và cộng đồng xã hội tương đương. Đơn vị cơ sở là
nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội là nơi thể hiện sự
lãnh đạo, chỉ đạo mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước
và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, đây cũng là nơi để nhân dân
xây dựng đời sống văn hóa và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sáng tạo ra
những văn hóa mới.
gia vào quá trình sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới.
- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được coi như bước đi ban đầu của
sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là phát huy quyền làm chủ của nhân
dân lao động trong hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới, xây dựng
một lối sống văn minh, lịch sự, những thuần phong, mỹ tục tốt đẹp vừa đậm
đà bản sắc dân tộc vừa phù hợp tinh hoa văn hoá tiến bộ của nhân loại. Đấu
tranh chống những hiện tượng và hành vi thô bạo, lai căng, phản văn hoá, phi
đạo đức.
14
1.2.2. Thiết chế văn hóa cơ sở
Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở
vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động
cho các thiết chế đó”. Chủ trương của Đảng ta khẳng định, văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội. Vì vậy, việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát
triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Thiết chế văn hóa đóng một vai trò quan trọng,
là nơi triển khai những thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân; là cầu nối trực tiếp giữa đảng
bộ, chính quyền các cấp đến với quần chúng nhân dân.
Trong những năm qua, hệ thống thiết chế văn hóa các cấp trên cả nước
được quan tâm đầu tư và đã có những chuyển biến tích cực, trở thành các
trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, bồi dưỡng nghiệp vụ, hạt nhân cho
phong trào văn hóa, thể thao ở cơ sở; là địa chỉ thu hút đông đảo nhân dân đến
vui chơi, giải trí, hưởng thụ, sáng tạo văn hóa, rèn luyện thể lực, tuyên truyền,
và đối với các thành viên gia đình (chăm sóc giáo dục con cái, nuôi dưỡng
cha mẹ, chăm sóc người cao tuổi), các mối quan hệ khác như bạn bè, hàng
xóm…
Nếp sống gia đình: Là cách thức tổ chức cuộc sống, là đặc điểm văn
hóa của gia đình, mỗi gia đình có một quan điểm về giá trị khác nhau, trên cơ
sở đó mà vận hành đời sống gia đình theo các cách thức khác nhau, qua đó
nếp sống gia đình được hình thành. Nếp sống gia đình có thể hiểu là bao gồm:
cách ứng xử, cách tổ chức cuộc sống, mối quan hệ giữa các thành viên trong
gia đình, trách nhiệm của gia đình với cộng đồng, xã hội…gia đình có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quan
tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội
16
tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là
gia đình...”. Xây dựng Gia đình có nếp sống văn hóa, phải khai thác những
yếu tố tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam, đề cao trách nhiệm của
từng thành viên trong gia đình, cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp.
Nếp sống xã hội: Là nếp sống cộng đồng (nếp sống ở làng, bản, thôn
xóm, trường học, cơ quan, bệnh viện, xí nghiệp, khu phố, tổ dân phố...).
Trong nếp sống xã hội, phải đặc biệt chú ý đến nếp sống nơi công cộng. Nếp
sống văn minh nơi công cộng chính là bộ mặt của xã hội, xây dựng nếp sống
xã hội là xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp; Xây dựng phong tục quán là
sưu tầm, khai thác các phong tục, tập quán tốt đẹp của từng địa phương, từng
dân tộc, đưa các phong tục tập quán truyền thống hòa nhập với cuộc sống
hiện đại đồng thời với việc cải tạo những tập quán lạc hậu, xây dựng tập quán
mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, văn minh, tiến bộ, thực hiện
nếp sống văn minh tập trung vào việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ mê tín dị
đoan và các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng là ý
thức giữ gìn đường làng, ngõ xóm, nhà văn hóa, chợ, di tích, danh lam thắng
số cùng sinh sống, mỗi dân tộc, mỗi vùng đều có nét đặc thù của truyền thống
văn hoá, mang sắc thái và vẻ đẹp riêng, do đó hoạt động nghệ thuật quần
chúng đối với từng cơ sở, cũng cần có những hình thức tổ chức khác nhau để
phù hợp với tâm lý, tình cảm, bản sắc của nhân dân. Trong các ngày lễ tết, lễ
hội, lễ kỷ niệm của địa phương, người làm công tác văn hóa ở cơ sở cần tổ
chức các chương trình nghệ thuật gọn nhẹ, có nội dung sâu sắc, sát thực phục
vụ cho nhiệm vụ chính trị của địa phương, cần nghiên cứu dàn dựng các loại
hình nghệ thuật tuyên truyền sân khấu mà địa phương có truyền thống như:
hát then, đàn tính, hát shi, lượn... phối hợp với các chương trình ca múa nhạc,
thu hút quần chúng tham gia.
18
1.2.5. Tuyên truyền cổ động
Tuyên truyền, cổ động là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhằm
truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những tri
thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối
tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra.
Cổ động là thông qua những hình thức, công cụ riêng chủ yếu là các
biện pháp trực quan, tác động trực tiếp vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của
quần chúng nhân dân, lôi cuốn họ vào những hoạt động theo mục tiêu đã định
như tuyên truyền bằng pa nô, áp phích, khẩu hiệu, cổ động bầu cử...
Tuyên truyền cổ động là phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề thời
sự lớn của đất nước, của quốc tế và của địa phương; qua đó nâng cao nhận
thức chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, động viên mọi
người thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ.
Tuyên truyền cổ động là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn