VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN
CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN
CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN NAY
Ngành:Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN
Hà Nội - 2019
Nam…………………………………………………………………….
30
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam……………………………………………………………
41
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN
CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM............................................................................................... 577
3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi ở Việt Nam............................................................ Error! Bookmark not defined.7
3.2. Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam.................................................................................................................... 65
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 69
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAHiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á
N
EU Liên minh Châu
Âu
Bảng 2.5.Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nướcđược
phép lưu hành tại Việt Nam, đăng kýnăm 2017, 2018 ...................
Bảng 2.6. Số liệu các hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi qua Cổng hải quan
một cửa quốc gia (năm 2017, 2018) ...............................................
Bảng 2.7: Danh mục bổ sung hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất,
kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi………………
46
Bảng 2.8: Danh mục hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn
gia súc , gia cầm với mục đích kích thích sinh trưởng tại Việt Nam ... 47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn năm nay, cuộc sống của người nông dân Việt Nam gắn liền với
trồng lúa và chăn nuôi, hình thành nên nền văn minh lúa nước. Theo thống kê
năm 2018, Việt Nam có gần 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm gần
2/3) tổng dân số và có tới 23,5triệu người làm việc trong khu vực nông nghiệp
(chiếm hơn 40%) tổng số người trong độ tuổi lao động cả nước. Các số liệu
thống kê này cho thấy,Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở nước ta có
vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa đảm bảo an
ninh lương thực, thực phẩm, vừa phấn đấu để hướng tới xuất khẩu.
Trong cơ cấu Ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi là lĩnh vực có
vai trò quan trọng. Hơn 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi liên tục phát triển
cả về quy mô và chất lượng đàn vật nuôi, thông qua đổi mới phương thức, kỹ
thuật và công nghệ áp dụng vào chăn nuôi. Điều này khiến cho năng suất và
Trong số các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, có thể nhận thấy
Nghị định số 39 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản là cơ
sở pháp lý trực tiếp và có vai trò quan trọng nhất liên quan đến vấn đề quản lý
thức ăn chăn nuôi, trong đó có vấn đề kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Theo các
văn bản này, việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi là một trong những ngành
nghề kinh doanh có điều kiện, theo đó tổ chức, cá nhân chỉ được kinh doanh
khi đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc,
nguyên liệu đầu vào và con người. Ngoài ra, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi
sản xuất trong nước, thức ăn chăn nuôi nhập khẩu phải được công nhận chất
lượng để xác định tính hiệu quả, đảm bảo chất lượng, an toàn đối với vật nuôi
và từ đó bảo đảm an toàn đối với người tiêu dùng. Thức ăn chăn nuôi trước
khi lưu hành trên thị trường phải làm hồ sơ đăng ký theo quy định và được
công nhận bởi Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và PTNT.
2
Thực tế cho thấy, mặc dù được kiểm soát khá chặt chẽ nhưng về phương
diện quản lý, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong những năm qua vẫn
còn bộc lộ nhữnghạn chếnhất định, cần được nghiên cứu để hoàn thiện chính
sách quản lý đối với việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Điều này thể hiện ở chỗ,
tình trạng thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước lưu hành trên thị trường kém
chất lượng, chưa được đăng ký hoặc thức ăn chăn nuôi nhập khẩu
vi
phạm chất lượng vẫn được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.Hiện
trạng này không chỉ ảnh hưởng đến người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng trực tiếp
đến các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu chân chính. Việc kiểm soát thức
mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
sau đây có đề cập đến vấn đề kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung và điều
kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng:
-
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Toàn với đề tài: “ Phát triển thị
trường thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Thành Lợi”.
-
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trương Thùy Vinh với đề tài: “Nghiên
cứu phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi của Công ty Cổ phần Chăn nuôi
Charoen Pokphand trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.
-
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vũ Ninh với đề tài: “Quản lý nhà
nước về sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên”.
-
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trần Quốc Hóa với đề tài: “Chính sách
Marketing cho sản phẩm thức ăn gia súc của Công ty TNHH Thái Việt Agri
Group tại thị trường miền Trung”.
-
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Phạm Quang Mẫn với đề tài: “Tổ chức kế
-
của tác giả Phương Bình đăng trên báo Tuổi trẻ Online, ngày 18/01/2019.
Từ kết quả thống kê tình hình nghiên cứu như trên đây, có thể thấy rằng các
công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận từ góc độ kinh tế hay góc độ quản
lý thức ăn chăn nuôi và hầu như có rất ít nghiên cứu về điều kiện kinh doanh thức
ăn chăn nuôi từ góc độ pháp lý. Chính vì thế, luận văn với đề tài: “Điều kiện
kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là một
đề tài nghiên cứu có tính mới và được tiếp cận từ góc độ pháp lý, đáp ứng
được các yêu cầu của Quy chế hiện hành về luận văn thạc sỹ.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài làlàm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp
lývề điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề
xuất các giải pháp hoàn thiện khungpháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn
chăn nuôiở Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm đạt được mục đích nói trên là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện kinh doanh thức
ăn chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
-
Nghiên cứu, đánh giá khung pháp lý hiện hành về điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bằng cách chỉ ra các hạn chế, bất cập của các
quy định này từ thực tiễn thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua.
pháp nghiên cứu cụ thể và có tính chất thông dụng trong khoa học xã hội và
nhân văn như: phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, khái quát
hóa, thống kê, khảo sát, tiếp cận hệ thống, phân tích thực chứng, so sánh đối
chiếu… để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về kinh doanh thức ăn chăn
nuôi như khái niệm thức ăn chăn nuôi, các điều kiện kinh doanh và nội dung sản
xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Đồng thời, luận văn cũng phân tích các quy
định, đánh giá ưu điểm, hạn chế của Nghị định số 39 và các văn bản quy phạm
pháp luật khác về hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Trên cơ sở đó, luận
văn đưa ra đề xuất xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn về điều kiện kinh
doanh thức ăn chăn nuôi kể từ khi Luật Chăn nuôi có hiệu lực.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn bao gồm làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn
6
chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Chương
2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.
7
Trong pháp luật thực định, nhà làm luật đã đưa ra một định nghĩa về thức
ăn chăn nuôi trong Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ
về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, có hiệu lực từ ngày 20/5/2017 (sau đây
gọi tắt là Nghị định số 39), như sau:“Thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà
vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm
thức ăn dinh dưỡng và thức ăn chức năng ở các dạng: Nguyên liệu, thức ăn đơn;
thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh; thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn
nhằm tạo ra thức ăn tự nhiên, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn”.[12, tr.2]
Bên cạnh đó, Nghị định số 39 cũng đưa ra khái niệm chi tiết về một số
loại thức ăn chăn nuôi như:Thức ăn chăn nuôi thương mại là các sản phẩm thức
ăn chăn nuôi được sản xuất nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị
trường.Thức ăn chăn nuôi sản xuất để tiêu thụ nội bộ là các sản phẩm thức ăn
chăn nuôi do các cơ sở hoặc cá nhân tự phối trộn dùng cho nhu cầu chăn nuôi
của nội bộ cơ sở, không trao đổi và mua bán trên thị trường.Thức ăn chăn nuôi
theo tập quán là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã
được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: Thóc, gạo, cám, ngô, khoai,
sắn, bã rượu, bã bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua, cá và các
loại khác.Thức ăn chăn nuôi mới là thức ăn lần đầu tiên được nhập khẩu, sản
xuất tại Việt Nam có chứa hoạt chất mới chưa qua khảo nghiệm ở Việt
Nam.Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn
được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy
trì sự sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng
hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi, thủy sản có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và
dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho
thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật
9
các hoạt động sản xuất, chế biến, san chia, đóng gói, bảo quản, vận chuyển
thức ăn chăn nuôi.
-
Gia công thức ăn chăn nuôi là quá trình thực hiện một phần hoặc toàn
bộ các công đoạn sản xuất thức ăn chăn nuôi để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu
của bên đặt hàng.
-
Xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi là việc chủ thể kinh doanh đưa
thức ăn chăn nuôi đủ tiêu chuẩn vào hoặc ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và làm các
11
thủ tục xuất, nhập khẩu với cơ quan hải quan để thực hiện mục tiêu tìm kiếm
lợi nhuận.
-
Các dịch vụ liên quan đến thức ăn chăn nuôi là những công việc do tổ
chức, cá nhân có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ theo quy định của pháp luật
thực hiện theo yêu cầu của khách hàng thông qua hợp đồng dịch vụ để được
nhận tiền thù lao dịch vụ.
Vậy, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôicó những đặc điểm gì để
phân biệt với các hoạt động kinh doanh khác trong nền kinh tế?
Câu trả lời cho câu hỏi này không hề đơn giản, bởi lẽ suy cho cùng thì,
kinh doanh thức ăn chăn nuôicũng chỉ là một trong số hàng nghìn hình thức
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi Để
làm rõ khái niệm và đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi, trước hết cần làm rõ khái niệm “điều kiện kinh doanh” là gì?.
Theo Từ điển Tiếng Việt, điều kiện là “cái cần phải có để cho một cái
khác có thể có hoặc có thể xảy ra”. Do đó, có thể hiểu điều kiện chính là
những yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đối với sự xuất hiện của một sự
vật, sự việc, hiện tượng nào đó.
Từ định nghĩa nói trên về thuật ngữ “điều kiện”, có thể thấy rằng khái
niệm “điều kiện kinh doanh” thực chất là những điều kiện do nhà nước chủ
động đặt ra để các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được khi tiến hành các
hoạt động kinh doanh trên thị trường, với mục đích nhằm đảm bảo an toàn
cho nền kinh tế cũng như cho khách hàng khi tiêu thụ, sử dụng các hàng hóa,
dịch vụ được cung cấp bởi các chủ thể kinh doanh.
Thực tế cho thấy, trong pháp luật thực định Việt Nam, khái niệm “điều
kiện kinh doanh” đã từng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp
2005, theo đó “điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc
phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép
kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề,
chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc
13
yêu cầu khác”.[29, tr.5]
Đến Luật Đầu tư 2014, nhà làm luật không đưa ra định nghĩa hay khái
niệm về điều kiện kinh doanh mà thay vào đó, nhà làm luật đã đưa ra khái
niệm về ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại khoản 1 Điều 7 trong Luật
Đầu tư 2014, theo đó: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành,
nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó
nuôi luôn gắn với mục tiêu bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi, từ đó hướng
đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người vì một xã hội an toàn, phồn vinh và
hạnh phúc. Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước phải thiết lập một hành lang
pháp lý chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có
việc quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Bằng cách đó, Nhà
nước buộc các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng các điều kiện
kinh doanh thì mới được hành nghề kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý rằng các điều kiện kinh doanh thức ăn
chăn nuôi do Nhà nước quy định là những điều kiện tối thiểu mà các chủ thể
kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng theo quy định của pháp luật. Điều
đó cũng có nghĩa là các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi có thể tự xây
dựng và áp dụng các điều kiện cao hơn đối với mình nhằm đảm bảo chất
lượng sản phẩm hàng hóa bán ra thị trường, đồng thời nhờ đó nâng cao khả
năng cạnh tranh trên thị trường thức ăn chăn nuôi,vốn dĩ rất phức tạp.
Như vậy, có thể thấy việc quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn
chăn nuôi không nhằm mục đích kìm hãm, siết chặt quyền tự do kinh doanh
của các nhà đầu tư mà thực chất chúng tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho
các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Mục đích của các điều kiện này là
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội, đồng thời
cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch cho các doanh
nghiệp, loại bỏ những doanh nghiệp kém chất lượng, gian dối trong kinh
doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp kinh doanh đạt được hiệu quả.
15
Thứ hai, điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là khá đa dạng, bao gồm:
điều kiện về giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề thức ăn chăn nuôi;
điều kiện về cơ sở hạ tầng để thực hiện việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi (ví dụ:
Thật vậy, theo Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, thức
ăn chăn nuôi là loại mặt hàng nhóm 2 (là sản phẩm, hàng hoá trong điều kiện
vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, vẫn tiềm ẩn
khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường), do đó
các chủ thể kinh doanh bắt buộc phải đăng ký kinh doanh những sản phẩm
này trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Cơ sở khoa học để Nhà nước quy định thủ tục đăng ký kinh doanh thức
ăn chăn nuôi là ở chỗ: Thức ăn chăn nuôi tuy là sản phẩm dùng để cho vật
nuôi ăn nhưng lại có tác động đến đời sống của con người. Việc sử dụng thức
ăn chăn nuôi đúng quy định, chất lượng sẽ có tác dụng đối với quá trình chăn
nuôi, làm cho vật nuôi phát triển, tăng trọng lượng, mang đến chất lượng sản
phẩm từ vật nuôi như thịt, trứng, sữa, gia tăng hiệu quả kinh tế. Mặt khác,
mục tiêu của chăn nuôi phần lớn là tạo ra thực phẩm để phục vụ cho cuộc
sống của con người. Do đó, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi nhất là kháng sinh
sẽ có thể dẫn đến tồn dư hóa chất trong sản phẩm thực phẩm vượt ngưỡng cho
phép, người sử dụng loại thực phẩm này trong thời gian dài có thể gây nguy
hại cho sức khoẻ. Kháng sinh sử dụng trong thức ăn và những tồn dư hóa học
của nó trong thịt, trứng, sữa sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh của con người
khi sử dụng các sản phẩm này. Kết quả là khi con người bị nhiễm bệnh sẽ làm
khả năng chữa trị trở lên khó khăn, mất nhiều thời gian và phức tạp hơn.
Chính vì những lý do nêu trên, lượng kháng sinh tồn dư trong thực phẩm sẽ là
một trong các yếu tố chính để dùng làm căn cứ cho phép loại thức ăn chứa
kháng sinh đó có được lưu hành trên thị trường hay không, cũng như giới hạn,
định mức tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi, cũng như thời gian ngưng
sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh trước khi giết mổ.
17
1.1.3. Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo thông lệ quốc tế
18
Ở
Trung Quốc, một quốc gia láng giềng, có nền văn hóa tương đồng với
Việt Nam, tuy nhiên họ có điều kiện kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển hơn
nước ta. Điều kiện về kinh doanh thức ăn chăn nuôi khá chặt chẽ, chi tiết,quy
định từ Điều 4 đến Điều 23, Luật Chăn nuôi. Cụ thể, Trung Quốc quy định rất
chi tiết về điều kiện sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có quy
định cả về diện tích nhà xưởng tối thiểu với cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp
phải có tối thiểu là 1000 m2, với thức ăn bổ sung là 500 m2 và với 3 vị trí cán
bộ phụ trách: trưởng bộ phận kỹ thuật, trưởng bộ phận KCS, trưởng bộ phận
sản xuất trong các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi là phải có bằng đại học
hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp và không được phép kiêm nhiệm và phải
chịu sự kiểm tra sát hạch của cơ quan chuyên môn khi đăng ký thủ tục cấp
chứng nhận cở sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi; chế độ quản lý
chất lượng và kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng hết sức chặt chẽ.[36]
Ở
Thái Lan,một nước láng giềng khác, điều kiện kinh tế của nước này
cũng phát triển hơn Việt Nam,cơ quan chuyên môn là Bộ Nông nghiệp và
Hợp tác xã ban hành quy định về tiêu chuẩn chất lượng đối với từng loại
nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi. Đây cũng được coi là một trong những văn
bản quy phạm pháp luật, một loại điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi của
đất nước chùa vàng. [37]