Anh chị hãy trình bày những kết quả đã đạt được trong thực tiễn công việc qua đợt bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp của mình - Pdf 55

BÀI THU HOẠCH CUỐI KHÓA
LỚP BỒI DƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN THCS HẠNG II
Nội dung: Anh, chị hãy trình bày những kết quả đã đạt được trong thực tiễn
công việc qua đợt bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp của mình?
Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian vừa qua Bộ GD&ĐT đã chuyển quản lý viên chức từ mã ngạch
sang hạng chức danh nghề nghiệp nhằm giúp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ và đạo đức nghề nghiệp của viên chức ngành giáo dục. Ngoài những yêu cầu bắt
buộc về trình độ chuyên môn và các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp cần có của viên
chức thì mỗi viên chức khi được xếp hạng hoặc thăng hạng phải được bồi dưỡng và
cấp chứng chỉ chuẩn chức danh nghề nghiệp mình đang giữ hoặc muốn thăng hạng.
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 22/2015/1TLT-BGDĐT-BNV ngày 16/9/
2015 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở
công lập, giáo viên THCS hạng II cần phải có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên trung
học cơ sở hạng II, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tổ chức mở các lớp bồi dưỡng thăng hạng
giáo viên THCS hạng II nhằm tạo điều kiện để giáo viên theo học nâng cao trình độ
và đảm bảo về các loại chứng chỉ cần có khi giữ hạng viên chức.
Với 10 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận
và thực tiễn mới trong công tác dạy và học. Qua một thời gian học tập bản thân đã
tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích, qua đó mạnh dạn đưa ra một số bài học nhằm
phục vụ cho quá trình công tác sau này. Tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn, việc
nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn, do đó dù đã cố gắng rất
nhiều nhưng bài viết này chắc chắn còn những hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý
kiến của Quý thầy cô và các đồng nghiệp để bài viết được hoàn chỉnh hơn.


Phần II. NỘI DUNG
Chuyên đề 1. Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng
với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với

quan đơn vị phải thực hiện theo các nguyên tắc cụ thể để đảm bảo sự thống nhất
trong các hoạt động và tạo sự hiệu quả cao trong công việc, cụ thể:
Một là nâng cao vai trò của Đảng trong đơn vị công tác qua một số nội dung:
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, công
tác chuyên môn của đơn vị theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, hoàn thành nghĩa vụ của đơn vị đối với Nhà nước, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và quần chúng.


Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của đơn
vị theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề cao
tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động sáng tạo, không ngừng cải tiến lề lối,
phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được
giao.
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở đơn vị, phát huy
quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên và quần chúng, đấu tranh chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí, trù dập, ức hiếp quần chúng và các hiện tượng tiêu cực khác, nhất là
những tiêu cực trong tuyển sinh, cấp văn bằng, chứng chỉ....
Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội trong đơn vị. Đoàn kết nội bộ, giữ gìn bí mật quốc gia, bảo
vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của đơn vị.
Hai là nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện: các kế hoạch, định hướng phát
triển cơ quan do hiệu trưởng xây dựng trên cơ sở thông qua lấy ý kiến thống nhất của
cán bộ giáo viên nhân viên trong đơn vị, hiệu trưởng là người đưa ra những quyết
sách thực hiện các công việc trong đơn vị.Trong các hoạt động của nhà trường luôn
công khai minh bạch, giáo viên và các tổ chức trong nhà trường có quyền giám sát
kiểm tra thông qua hoạt động của ban thanh tra nhân dân trong đơn vị, Giáo viên
nhân viên có quyền đưa ra ý kiến đóng góp các công việc chung trong khuôn khổ
đúng vai trò trách nhiệm của mình.
Ba là xây dựng quy chế hoạt động của đơn vị đảm bảo: trong mỗi năm học nhà

chặt chẽ với định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
Thứ ba xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu tích cực hóa hoạt
động học tập và phát triển năng lực người học đã tạo ra sự chuyển biến thực sự trong
cách dạy và cách học.
Thứ tư xu thế đổi mới phương pháp và hình thức đánh giá kết quả học tập phù
hợp yêu cầu phát triển năng lực người học, cho phép xác định/giám sát được việc đạt
được năng lực dựa vào hệ thống tiêu chí của chuẩn đánh giá.
Thứ năm Quan niệm đa dạng hóa theo hướng mở về nguồn tài liệu dạy học
cung cấp thông tin cho việc dạy của giáo viên và học của học sinh.
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu,
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực
để phát triển kinh tế - xã hội.
Trong Văn kiện Nghị quyết 29NQ/TƯ ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban
chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với các điểm cụ thể sau:
Một là giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước
trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương
pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo
và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất
cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển
những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết
chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống,
tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải
đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.

quốc gia.
Hoạt động quản lý giáo dục và đào tạo được thực hiện thông qua việc Quốc hội
ban hành Luật Giáo dục, Chính phủ ban hành các nghị định, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
các bộ ngành ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện, tạo cơ chế cho các tổ chức, cá
nhân tham gia hoạt động và tiến hành hoạt động giáo dục và đào tạo của mình.
Quản trị cơ sở giáo dục và đào tạo là hoạt động của người đứng đầu cơ sở giáo
dục và đào tạo nhằm tác động có đích hướng đến các hoạt động giáo dục và đào tạo;
sử dụng hiệu quả các nguồn lực (con người, tài chính, vật chất…) của cơ sở giáo dục
và đào tạo để đạt mục tiêu của cơ sở giáo dục và đào tạo và yêu cầu QLNN đặt ra.
Căn cứ quy định về công tác quản lý của nhà nước về giáo dục và đào tạo, hiệu
trưởng nhà trường (nhà quản trị) phải quản trị hiệu quả các nguồn lực con người (đội
ngũ giảng viên, nhân viên…), cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, thời gian, thời
lượng đào tạo, sử dụng nguồn tài chính,… để hoạt động giáo dục, đào tạo của trường
đạt kết quả thông qua chất lượng đào tạo, chi phí bỏ ra và kết quả thu được. Quản trị
cơ sở giáo dục và đào tạo là quản trị nhà trường vì mục tiêu của nhà trường.


Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp
thiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục (nội dung,
phương pháp, thi, kiểm tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện bảo
đảm chất lượng giáo dục; đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo.
Giáo dục và đào tạo bao giờ cũng bao gồm các hoạt động cơ bản học; day học
và giáo dục; huy động nguồn lực đảm bảo, xây dựng môi trường GD, QLGD và bao
trùm xuyên suốt là tư duy nhận thức về giáo dục và đào tạo. Bởi vậy, đổi mới căn bản
và toàn diện chính là :
- Đổi mới về tư duy, nhận thức về hoạt động giáo dục
- Đổi mới về mục tiêu nội dung và phư¬ơng pháp giáo dục (chương trình, giáo
trình, sách giáo khoa ...).
- Đổi mới về công tác đào tạo, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ nhà giáo.
- Đổi mới về huy động nguồn lực để phát triển giáo dục.

giáo viên chủ nhiệm đối với học sinh khó khăn về tâm lý, nhằm giúp các em tự nhận
thức và đối mặt với những vấn đề của mình, có thể vượt qua những khó khăn đó.
Tham vấn có nhiều loại như: tham vấn tâm lý, tham vấn hướng nghiệp, tham vấn học
tập.
Tư vấn học đường tạo ra những tác động mang tính định hướng giáo dục tới
học sinh, nhằm giúp học sinh biết cách định hướng và giải quyết vấn đề của bản thân,
tạo ra sự phát triển phù hợp với yêu cầu, mong muốn của xã hội. Như vậy, tư vấn học
đường tác động vào nhận thức, giúp các em tự nhận thức, tự giải quyết vấn đề qua đó
hình thành tính tự lập, biết tự chịu trách nhiệm.
Tư vấn học đường trợ giúp và là bạn đồng hành của các em trong quá trình học
tập, rèn luyện và phát triển.
Tư vấn học đường có vai trò tham vấn giúp các em lựa chọn cách xử lý đúng,
góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp học sinh thực hiện được nguyện
vọng của mình.
Tư vấn học đường tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát
triển nhân cách của trẻ đúng theo định hướng, mục tiêu mà xã hội muốn
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa Ban giám hiệu, giữa các tổ chức trong
trường, giữa các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Nói một cách
khác, giáo viên chủ nhiệm là người đại diện hai phía, một mặt đại diện cho các lực
lượng giáo dục của nhà trường, mặt khác đại diện cho tập thể học sinh. Với tư cách là
sư phạm (đại diện cho tập thể các nhà sư phạm), giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm
truyền đạt tới học sinh của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà
trường tới tập thể và từng học sinh của lớp chủ nhiệm không phải bằng mệnh lệnh
mà bằng sự thuyết phục, cảm hoá, bằng sự gương mẫu của người giáo viên chủ
nhiệm, để mục tiêu giáo dục được học sinh chấp nhận một cách tự giác, tự nguyện.
Với kinh nghiệm sư phạm và uy tín của mình, giáo viên chủ nhiệm có khả năng biến
những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chương trình hành động
của tập thể lớp và của mỗi học sinh.
Vận dụng các nội dung tư vấn học đường trong công tác chủ nhiệm đã giúp
cho giáo viên chủ nhiệm xây dựng được tập thể lớp đoàn kết, tương thân, tương ái.

bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động học của học sinh.
Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó, quan hệ giữa hoạt
động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan hệ điều khiển. Với
tác động sư phạm của mình, thầy tổ chức, điều khiển hoạt động của trò. Từ đó, chúng
ta có thể thấy công việc của người quản lý nhà trường là: hành động quản lý (điều
khiển hoạt động dạy học) của hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của
thầy và trực tiếp đối với thầy; thông qua hoạt động dạy của thầy mà quản lý hoạt
động học của trò.
Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của
nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào
tiêu điểm này. Vì vậy quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình sư phạm của
thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.
Như vậy, quản lý hoạt động dạy - học thực chất là những tác động của chủ thể
quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với
sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học phổ thông,
cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam về tự nhiên xã hội- nhân văn, đồng
thời rèn luyện cho các em hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.


Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành phát triển năng lực và những phẩm
chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo
Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những
phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung.
Trong trường học THCS thì hiệu trưởng là người có quyền lực cao nhất, quán
xuyến chỉ đạo mọi công việc như:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục trong trường
THCS;
- Xây dựng và quản lý hồ sơ dạy học, giáo dục trong tr¬ường THCS;



Việc xây dựng và quản lý kế hoạch giáo dục nhà trường cần đảm bảo yêu cầu
chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (thể hiện ở
“mức độ cần đạt” về kiến thức, kĩ năng); tăng cường năng lực thực hành, vận dụng
kiến thức; chú trọng giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống, hiểu
biết xã hội, thực hành pháp luật…
Đảm bảo tính lôgic của mạch kiến thức và tính thống nhất giữa các môn học và
các hoạt động giáo dục; phù hợp, khả thi với đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể
của từng trường.
Tổng thời lượng của các môn học và các hoạt động giáo dục; số bài thực hành,
số điểm kiểm tra (gồm cả kiểm tra nội dung thực hành) không ít hơn thời lượng quy
định trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (ít nhất 35 tuần và tổ chức thực
hiện kế hoạch giáo dục theo khung thời gian 37 tuần thực học đối với cấp THCS, cấp
THPT; 32 tuần đối với giáo dục thường xuyên);
Có thể kết hợp thời lượng của môn học với thời lượng dạy học tự chọn của
môn học đó để xây dựng kế hoạch dạy học môn học (thời lượng dạy học tự chọn ổn
định trong từng học kỳ).
Các trường THCS, THCS&THPT thực hiện mô hình trường học mới xây dựng
kế hoạch giáo dục theo văn bản hướng dẫn triển khai mô hình trường học mới.
Chuyên đề 6. Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
Đây là nội dung tôi nhận tôi tâm đắc nhất khi tham gia học lớp này, chuyên đề
đã giúp tôi định hướng đúng hơn nữa việc học tập và nghiên cứu phục vụ cho công
tác chuyên môn thời gian tới, nội dung chính của chuyên đề là:
Xuất phát từ đặc trưng của nhà trường hiện đại, các chuyên gia giáo dục cho
rằng, việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tiếp
cận chuẩn trong khu vực và quốc tế là hướng đi phù hợp xu thế, hướng tới đáp ứng
yêu cầu của đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Người giáo viên hiện nay không chỉ là người dạy học trên lớp, và làm nhiệm
vụ cung cấp thông tin và truyền thụ kiến thức, mà người giáo viên phải trở thành

cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có thể tự học tập ở mọi nơi, mọi lúc. Hình
thức bồi dưỡng, đa dạng hóa học tập bồi dưỡng. Bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng theo
cụm, bồi dưỡng tại trường, bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng từ xa… Linh hoạt trong
cách tổ chức, tùy vào điều kiện cụ thể”
Mặt khác cần bồi dưỡng phương pháp giảng dạy cho giáo viên bằng những
việc làm thiết thực, cụ thể. Theo đó, bồi dưỡng thực hành các phương pháp mới phát
huy được năng lực học sinh. Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tích hợp, phân hóa,
phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập với nhiều hình thức đa dạng, hạn chế
việc cung cấp lý thuyết, coi trọng thực hành. Bồi dưỡng phương pháp tiếp cận thông
tin, khai thác thông tin, xử lý thông tin, ứng dụng thông tin vào thực tế giảng dạy.
Đột phá trong phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên
Làm thế nào để tạo đột phá trong phát triển năng lực nghề nghiệp đội ngũ giáo
viên hiện nay, đó là trăn trở của nhiều nhà chuyên gia giáo dục. Với giáo dục truyền
thống, giáo viên được đào tạo một lần có thể yên tâm làm việc đến tuổi nghỉ hưu, tuổi
tác cùng với kinh nghiệm của họ luôn được đề cao và thông thường, giáo viên trẻ
được truyền lại kinh nghiệm từ những người đi trước để trưởng thành nghề nghiệp.
Điều đó dẫn đến các phản ứng của giáo viên mỗi khi có sự thay đổi mà kinh
nghiệm không giúp ích nhiều cho họ khi thực hiện nhiệm vụ mới, với các cách thức
khác biệt mà trước đây họ chưa từng trải nghiệm.
“Chẳng hạn với chương trình giáo dục phổ thông mới, việc thiết kế bài giảng
phù hợp với năng lực học tập của học sinh, dạy học tích hợp các lĩnh vực trong một
môn học hoặc phát triển chương trình giáo dục nhà trường, tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo, thiết kế chuyên đề học tập phù hợp với nhà trường, địa phương…


có thể là một cú sốc với nhiều giáo viên đã thuộc lòng các bài giảng từ vài chục năm
trước
Từ năm 1987, Hội thảo Camegie: Thầy giáo cho thế kỷ 21, coi nghề thầy giáo
như là một nghề cho sự giải thoát và phát triển quốc gia. Hội đồng quốc gia về các
tiêu chuẩn giảng dạy chuyên nghiệp, Hoa Kỳ đã phát hành một bản yêu cầu mang

7. Mức độ phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn nghề;
Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể / phải đạt được những gì?
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến
thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu
quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện


sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ
năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại
công việc nào đó.
Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng, thái
độ... và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ
học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc sống.
2. Dạy học theo tiếp cận trang bị kiến thức và dạy học theo định hướng phát
triển năng lực.
Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của
việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú
trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho
con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương
trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận
thức. Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng
phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản
phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ
việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của người
học.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc
của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần
năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự
kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp,
năng lực xã hội, năng lực cá thể.

Phá vỡ hình thức dạy học trực diện, giáo dục với giáo viên là chủ đạo, cả lớp
chỉ học một cách, cùng một bài học cho tất cả học sinh.
Tổ chức học tập, hoạt động, làm việc sao cho mỗi học sinh đều có tình huống
học tập tối ưu.
Dạy học tích hợp: Tập trung trên việc học của học sinh; Quan tâm đến sự khác
biệt của các học sinh; Tích hợp kiểm tra, đánh giá việc dạy và học; Điều chỉnh nội
dung, quá trình và sản phẩm học tập theo định hướng tăng hiệu quả học tập cho học
sinh và phát huy được ưu điểm và phong cách học tập của từng cá nhân; Xây dựng
không khí học tập mà ở đó học sinh làm việc cởi mở và tôn trọng mọi người. Hợp tác
với học sinh để tối đa hóa hiệu suất học tập. Hướng đến tối ưu hóa sự tiến bộ và
thành công của cá nhân học sinh trong học tập; Luôn mềm dẻo, động viên tích cực
với học sinh.
Phương pháp bàn tay nặn bột: Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu
Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi - nghiên cứu: Học
sinh cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học; Tự làm thí
nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học; Tìm tòi nghiên cứu khoa học
đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng. Một trong các kĩ năng cơ bản đó là thực hiện một
quan sát có chủ đích; Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ
thí nghiệm mà học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với các học sinh khác, biết
viết cho mình và cho người khác hiểu; Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình
tìm tòi - nghiên cứu; Khoa học là một công việc cần sự hợp tác.
Dạy học theo trạm: là cách thức tổ chức dạy học đặt dấu nhấn vào việc tổ chức
nội dung dạy học thành từng nhiệm vụ nhận thức độc lập của các nhóm HS khác
nhau. HS có thể thực hiện nhiệm vụ theo cặp, theo nhóm hoặc hoạt động cá nhân theo
một thứ tự linh hoạt
Bước 1: Lựa chọn nội dung hệ thống trạm học tập
Bước 2: Xây dựng nội dung các trạm
Bước 3. Tổ chức dạy học theo trạm
Dạy học theo dự án: là một hình thức dạy học, trong đó HS dưới sự điều khiển
và giúp đỡ của GV tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không

cực còn chưa mang lại hiệu quả cao. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức
nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành
viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm
chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình
đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.Việc đổi
mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt để, vẫn còn
nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều. Để thực hiện phương pháp
dạy học này người giáo viên cần mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị cho một tiết học
nên việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh cũng gặp khó khăn.
+ Về phía học sinh: Học sinh chủ yếu là học sinh vùng nông thôn nên việc tiếp
cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một số học
sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên
cứu bài học. Do đặc thù học sinh ở trường đa phần là học sinh người dân tộc Mông,


Thái, Khơ Mú nên việc giao tiếp và khả năng nhận thức còn hạn chế, giao tiếp các em
còn e dè, chưa tự tin, khả năng sử dụng vốn từ còn ít nên khi thảo luận nhóm các em
còn chưa mạnh dạn… Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho việc học
còn ít. Một số phụ huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái. Họ
còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”.
Nhiều nơi trong huyện chưa có mạng, máy tính nên việc học sinh khai thác
nguồn thông tin trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu
đổi mới phương pháp dạy học.
Chuyên đề 8. Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng
trường THCS
Trong công tác thanh tra kiểm tra hoạt động chuyên môn ở trường THCS được
quy định cụ thể tại Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực
giáo dục. Nội dung thanh tra kiểm tra được thể hiện rõ đối với từng đối tượng, bao

thực, công khai, dân chủ, kịp thời.
Hai là: Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra
giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình
thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân là đối tượng thanh tra.
Ba là: Tiến hành thường xuyên, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ về chuyên
môn, nghiệp vụ, trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.
Bốn là: Kết hợp giữa hoạt động thanh tra nhà nước, thanh tra nội bộ,
kiểm tra, kiểm định chất lượng giáo dục, đánh giá nhà giáo và hoạt động thanh tra
nhân dân theo quy định của pháp luật.
Nội dung thanh tra chuyên ngành bao gồm:
- Thanh tra chuyên ngành đối với sở giáo dục và đào tạo
- Thanh tra chuyên ngành đối với phòng giáo dục và đào tạo
- Thanh tra chuyên ngành đối với cơ sở giáo dục đại học và trường trung cấp
chuyên nghiệp
- Thanh tra chuyên ngành đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông
và giáo dục thường xuyên
- Thanh tra chuyên ngành đối với hoạt động hợp tác đầu tư có yếu tố nước
ngoài trong lĩnh vực giáo dục
- Thanh tra chuyên ngành đối với các tổ chức, cá nhân khác tham gia hoạt động
giáo dục
Kiểm tra nội bộ trường học:
KT là một chức năng đích thực của quản lý trường học.
- KT là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học.
- Với đối tượng kiểm tra thì kiểm tra có tác động tới ý thức, hành vi và hoạt
động của con người
- Kiểm tra, đánh giá tốt sẽ dẫn tới tự kiểm tra, đánh giá tốt của đối tượng.
Tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc, cung cấp thông tin đã được xử lý
chính xác để hiệu trưởng hoạt động quản lý có hiệu quả.
Kiểm soát, phát hiện và phòng ngừa.
Chức năng, động viên, phê phán, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ.

- Chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là con người LĐ có thể hiểu là kết
quả “đầu ra” của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị
nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương
ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành trong hệ thống đào tạo”.
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong
nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp và quá trình thích ứng với thị trường
lao động.
Chất lượng đào tạo còn cần được xem xét theo một số tiêu chí sau của người
học:
+ Phẩm chất xã hội – nghề nghiệp;
+ Chỉ số về sức khoẻ, tâm lý, sinh học;
+ Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn;


+ Năng lực hành nghề;
+ Khả năng thích ứng với thị trường lao động;
+ Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp.
Như vậy, quan điểm về chất lượng đào tạo thì có nhiều, nhưng tựu chung lại,
chất lượng đào tạo đều hướng tới mục tiêu đào tạo phấn đấu đạt được của các cơ sở
đào tạo.
Căn cứ vào mức độ phát triển quản lý chất lượng, quản lý chất lượng được chia
làm ba cấp độ từ thấp đến cao là:
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control),
- Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)
- Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management, viết tắt là TQM).
* Kiểm soát chất lượng:
Là hình thức quản lý chất lượng đã được sử dụng lâu đời nhất, được thực hiện
ở khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất/đào tạo nhằm phát hiện và loại bỏ toàn bộ
hay từng phần sản phẩm cuối cùng không đạt các chuẩn mực chất lượng
Đảm bảo chất lượng

GV đề đạt nguyện vọng, nhu cầu & khó khăn cần đc trợ giúp.
+ Tạo lập môi trường tự học, tự bồi dưỡng - yếu tố quan trọng nhất quyết định
việc nâng cao trình độ GV.
Các bước tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn bao gồm:
1 - Lựa chọn chủ đề sinh hoạt TCM
2- Xđ mục tiêu và XD chương trình sinh hoạt TCM
3 - Điều hành buổi sinh hoạt chuyên môn khoa học
Vai trò, vị trí của tổ chuyên môn ở trường THCS:
- Giúp Hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan
đến dạy và học;
- Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định.
Tổ chuyên môn là đầu mối để Hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ yếu
vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong trường.
Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều
hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn
học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồi
dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ; đánh giá, xếp loại và đề xuất khen thưởng,
kỉ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý.
Do đó, tổ trưởng chuyên môn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng
lực, trình độ, kinh nghiệm chuyên môn; có uy tín đối với đồng nghiệp, học sinh. Tổ
trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng
nghe, tạo sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao
tiếp, ứng xử.
2. Tổ chuyên môn với hoạt động chuyên môn và bồi dưỡng giáo viên
Sinh hoạt tổ chuyên môn là một nhóm giáo viên tham gia hội thảo và thảo luận
để đưa ra biện pháp thực hiện tốt các công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm trong
trường THCS.
Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động hết sức quan trọng và là việc làm thường
xuyên của mỗi nhà trường phổ thông, là một trong những hình thức bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn

sống, bảo bệ quyền lợi cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Nếu tổ
chức công đoàn thực hiện tốt các nhiệm vụ trên thì sẽ giúp cán bộ, giáo viên, nhân
viên trong nhà trường thêm có niềm tin vào sự nghiệp giáo dục, thêm tâm huyết với
nghề. Trong hoạt động của Đội giữ vai trò vô cùng quan trọng đến hình thành và phát
triển của các em học sinh thông qua hoạt động và giao lưu trong Đội, các em học sinh
sẽ cảm thấy trưởng thành hơn và biết quý trọng cuộc sống. Bên cạnh đó nhà trường
còn tăng cường hoạt động của tổ chuyên môn nhằm hướng tới xây dựng một cộng
đồng học tập trong nhà trường bằng cách: tăng tính tự chủ của tổ chuyên môn trong
việc xây dựng kế hoạch, triển khai trương trình giáo dục và công khai công tác kiểm
tra đánh giá trong tổ chuyên môn; tăng cường sinh hoạt chuyên môn theo “nghiên
cứu bài học” nhằm bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên thông qua giờ học nghiên
cứu và rút ra kết luận thống nhất cùng thực hiện sau buổi sinh hoạt chuyên môn;
Ngoài ra nhà trường cũng phối hợp tốt và tăng tính hiệu quả với Ban đại diện cha mẹ
học sinh để góp phần nâng cao chất lượng dạy học.


Đối với mối quan hệ ngoài nhà trường gồm: Đảng bộ và chính quyền địa
phương có vai trò quyết định đến công tác xã hội hóa của nhà trường và các tổ chức
quần chúng, văn hóa, xã hội là môi trường sinh hoạt về chính trị, văn hóa, thể thao
cho thế hệ trẻ. Do vậy nhà trường cần phải xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo
dục gồm nhà trường, gia đình, xã hội, tạo điều kiện để toàn xã hội chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, người lớn nêu gương tốt cho trẻ em và tham gia vào các
hoạt động giáo dục của nhà trường; đồng thời các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân
trong xã hội có trách nhiệm tăng cường các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập
của các ảnh hưởng tiêu cực ngoại lai vào nhà trường, phối hợp chặt chẽ giữa các môi
trường giáo dục để tạo sự thống nhất tác động giáo dục.
Thực tế trong nhà trường tôi đang công tác cũng đang thực hiện tốt các mối
quan hệ trong và ngoài nhà trường để nhằm nâng cao chất lượng giáo dục theo yêu
cầu đổi mới căn bản, toàn diện của Bộ Giáo dục và đào tạo. Với đặc điểm lực lượng
cán bộ, giáo viên trong đơn vị đa số đều trẻ, nhiệt tình và có trình độ chuyên môn nên

Qua đây tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái, phòng
GD&ĐT Trạm Tấu đã tạo điều kiện mở lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề
nghiệp giáo viên THCS hạng II tại huyện nhà để bản thân tôi và nhiều cán bộ, giáo
viên THCS trong huyện đã được tham dự. Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các
thầy cô giáo của trường ĐHSP Hà Nội đã dành hết tâm huyết để truyền giảng lại nội
dung kiến thức và trao đổi những kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi được học hỏi,
mở mang thêm kiến thức về chuyên môn và nghiệp vụ để áp dụng vào thực tế giảng
dạy tại đơn vị.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trạm Tấu, ngày .... tháng
NGƯỜI VIẾT

năm 2019


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/9/ 2015 quy
định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở công lập.
2.
Thông tư số: 23/2015/TTLT-BGDĐT-BNV thông tư liên tịch quy định
mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông công lập.
3.
Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục.
4.
Thông tư số: 20/2017/TT-BGDĐT ngày 18/8/2017 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về quy định tiêu chuẩn, điều kiện, nội dung, hình thức thi thăng
hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập.
5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status