Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã từ thực tiễn huyện phú ninh, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN PHÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN PHÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ VĂN ĐÍNH

HÀ NỘI, năm 2019


....................................................................................................................1

ĐẦU

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ .................................................................10
1.1. Chính sách công và thực hiện chính sách công .................................................10
1.2. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã .............................14
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã
...................................................................................................................................31
1.4. Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ sở tại một số huyện và bài học
kinh nghiệm rút ra cho huyện Phú Ninh ...................................................................34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG
NAM .........................................................................................................................38
2.1. Khái quát chung về huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam và các nhân tố ảnh
hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã huyện
Phú
Ninh,
tỉnh
Quảng
......................................................................................38

Nam.

2.2. Khái quát về đội ngũ công chức cấp xã huyện Phú Ninh .................................40
2.3. Tình hình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở huyện
Phú Ninh trong thời gian qua ....................................................................................42
2.4. Những bất cập, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở
huyện

CCHC

: Cải cách

BD

: Bồi dưỡng

ĐTTH

: Đối tượng thu hút

ĐH

: Đại học

ĐT

: Đào tạo

NNL

: Nguồc nhân lực

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

HĐND


Trình độ chuyên môn đội ngũ công chức các xã tại huyện Phú
Ninh (Phân tích năm 2018)
Cơ cấu trình độ chuyên môn đội ngũ công chức các xã tại huyện
Phú Ninh
Số lượng, tỷ lệ và tốc độ tăng số người được đào tạo qua các
năm 2014 - 2018
Tình hình đào tạo đội ngũ công chức xã theo từng đối tượng qua
các năm 2014 - 2018

Trang
41
42
45
45

Kết quả công chức được đào tạo đúng với yêu cầu của các xã so
2.5.

với tổng số người đã tham gia đào tạo theo từng chức danh năm

47

2018
2.6.
2.7.
2.8.
2.9.
2.10.
2.11.
2.12.

cũng là những người gần dân, sát dân, là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, thường
xuyên lắng nghe, giải quyết và đề đạt ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân
với Đảng và Nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Cấp xã là nơi gần gũi dân nhất, là nền tảng ,
cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Cán bộ, công chức cấp xã có vai
trò hết sức quan trọng, là cấp chính quyền sát dân nhất, là cấp trực tiếp vận động
nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trong xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội. Hội nghị lần thứ 7, Ban
chấp hành Trung ương khóa 12 đã ban hành Nghị quyết số 26, ngày 19 tháng 5 năm
2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm
chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ [9,tr.1]. Nghị quyết nêu rõ: “đội ngũ
cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng
được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công
tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm
sự chuyển tiếp giữa các thế hệ”. Đồng thời nêu rõ: “đội ngũ cán bộ có lập trường tư
tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý
thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên,
phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích
ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán
1


bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở
các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín.” [9,tr.1,2]
Tuy nhiên, trong thực tiễn đội ngũ công chức nói chung, công chức cấp xã nói
riêng vẫn còn bộc lộ những yếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ trước
những yêu cầu mới. Một số công chức chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách có
hệ thống, vì vậy, gặp nhiều khó khăn, lúng túng, thậm chí va vấp, vi phạm trong

Xuất phát từ những lý do nêu trên học viên chọn đề tài: “Thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng
Nam” để nghiên cứu làm luận văn cao học chuyên ngành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
ĐTBD công chức là một trong những lĩnh vực không mới, được nhiều nhà
khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu. Liên quan đến vấn đề này đã có một số
công trình và bài viết, sách chuyên khảo của các nhà khoa học công bố. Nhiều công
trình đã nghiên cứu về công tác cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng công tác cán bộ có liên
quan dến luận văn như:
-Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, của
Ngô Thành Can, 2013, Bộ Nội vụ, Nxb Viện khoa học tổ chức nhà nước. Tác giả đã
làm rõ mục tiêu đào tạo, xác định mục tiêu đào tạo và nhu cầu học tập. Mục tiêu đào
tạo, bồi dưỡng là trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức có tầm nhìn, có năng lực
thực tế đáp ứng yêu cầu vị trí công tác, bảo đảm tính chuyên nghiệp.
-Một số vấn đề lý luận về định chế pháp luật công vụ, công chức, Lương
Thanh Cường (2011), Nxb. Chính trị - , Hà Nội. Tác giả đã nêu lên những vấn đề lý
luận và thực tiễn về định chế công vụ, công chức, đưa ra một số giải pháp tiếp tục
hoàn thiện chế định pháp luật công vụ, công chức một cách thống nhất, đồng bộ, góp
phần xây dựng nền công vụ công khai, minh bạch và hiệu quả.
- PGS, TS Nguyễn Thanh Tuấn, - Th.S Phạm Ngọc Hà (Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh), Kiện toàn, chuẩn hóa các chức danh cán bộ chủ chốt cấp
xã đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới, Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2015: Bài viết phân
tích vai trò của đội ngũ chủ chốt cấp xã và phương hướng đổi mới, hoàn thiện các
chức danh cán bộ chủ chốt ở xã: Thứ nhất, đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ và tổ chức chính trị - xã hội ở xã trong điều
kiện có sự tác động của nhiều mối quan hệ làng (xã) để thúc đẩy đổi mới, hoàn
thiện các chức danh chủ chốt ở xã. Thứ hai, thể chế hóa vị trí, vai trò, chức năng,
3



4


và một số giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức.
- Ths. Đào Thị Tùng - Học viện Chính trị - khu vực III, Kinh nghiệm trong
đào tạo, bồi dưỡng công chức ở một số nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước Online,
7/5/2014. Tác giả đã trình bày khái quát kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
công chức ở Trung Quốc, Singapore, Pháp. Từ thực tiễn xây dựng đội ngũ công
chức của những quốc gia trên, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm cho công tác đào
tạo, bồi dưỡng công chức ở nước ta.
- Luận văn thạc sĩ của Trần Ngọc Nhiều (2014), Nâng cao chất lượng đào tạo
đội ngũ cán bộ trẻ tỉnh Quảng Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh [47]. Trên
cơ sở khái quát nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác
đào tạo cán bộ, luận văn tập trung đi sâu đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo đội
ngũ cán bộ trẻ tỉnh Quảng Nam hiện nay; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu xây
dựng tỉnh Quảng Nam thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020.
- Nguyễn Phước Sơn (2015), Đào tạo, bồi dưỡng công chức xã người dân tộc
thiểu số trên địa bàn các huyện miền núi, tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản
lý công, Học viện. Luận văn này đã tập trung vào nội dung: Khái quát lý luận chung
về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; đánh giá thực trạng công tác đào
tạo, bồi dưỡng và đề xuất những giải pháp cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng công chức xã người dân tộc thiểu số các huyện miền núi, tỉnh
Quảng Nam.
-Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã ở Tây Ninh,
Nguyễn Thị Tươi (2013), Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện . Từ thực tiễn
năng lực công chức cấp xã ở Tây Ninh, tác giả đánh giá thực trạng và đề ra các giải
pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ công chức này, góp phần thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Ninh.

CBCC đến hiện nay, chưa có công trình nào đề cập, nghiên cứu đến vấn đề đào tạo,
bồi dưỡng CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Vì vậy,
luận văn nghiên của tác giả không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học
của các tác giả khác đã được công bố. Nhưng các tài liệu, công trình nghiên cứu
khoa học ở trên là những tư liệu quan trọng, có giá trị về mặc thực tiễn giúp cho
việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Học viên nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam từ đó xác định được các nội
dung, căn cứ để đề xuất các giải pháp mang tính thiết thực, hiệu quả.
6


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ tập trung thực hiện
một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Luận văn thể hiện được cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã hiện nay như: Các khái niệm, vị trí, vai trò của công chức
cấp xã; mục tiêu, nguyên tắc, yêu cầu, qui trình, sự cần thiết đối với công tác đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã để nghiên cứu. Tập trung đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng cũng như thực trạng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp
xã trên địa bàn huyện Phú Ninh; Nêu lên những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, bất cập,
nguyên nhân của các hạn chế đó. Từ đó, đề xuất một số biện pháp mang tính chất
khả thi, đồng bộ hơn, đồng thời kiến nghị đối với các cấp ủy, chính quyền va các cơ
quan có liên quan nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng, đào tạo, bồi dưỡng đối với
công chức cấp xã tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, nhằm phá huy tốt nhất đội
ngũ công chức của Phú Ninh nói chung và đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói
riêng trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công nói chung và thực
hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức xã, thị trấn nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ những số liệu thực tế, các giải pháp đề ra trong luận văn có thể giúp các cơ
quan hoạch định chính sách có thể tham khảo và có những chính sách thiết thực,
hiệu quả trong công tác bồi dưỡng, đào tạo công chức cấp xã đáp ứng với yêu cầu
thực tiễn hiện nay. Luận văn nghiên cứu thành công sẽ là nguồn tư liệu tham khảo
quan trọng giúp các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, thiết kế, xây dựng nên chương trình,
khung đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức cấp xã phù hợp, sát đúng với
thực tiễn trong tình hình hiện nay. Luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo để
các cơ quan, nghiên cứu sinh, các tác giả sau này tiếp tục nghiên cứu, phát triển
trong tương lai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, danh mục các bảng và danh mục tài liệu
8


tham khảo, đề tài chia làm 3 chương: chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã; Chương 2: Thực trạng thực hiện chính
sách đào tạo bồi dưỡng, công chức xã ở huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam; Chương
3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức xã ở
huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

9


CHƯƠNG 1


Mặc dù các quan niệm trên còn có nhiều điểm khác nhau, nhưng tất cả các ý
kiến đều xem xét Chính sách công với tư cách là sản phẩm có mục đích của nhà
nước, chính quyền nhằm tác động đến đời sống của nhân dân.Từ những phân tích
trên, thuật ngữ chính sách công có thể hiểu như sau: Chính sách công là tổng thể
chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng
đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt
được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định [25].
-Tuy nhiên, do đặc điểm của hệ thống chính trị và hệ tư tưởng cho nên vấn đề
nghiên cứu về chính sách công mới chỉ được đề cập trong khoảng gần 20 năm trở
lại đây - đặc biệt từ khi chúng ta chấp nhận cơ chế thị trường với định hướng xã hội
chủ nghĩa và chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Hiện nay, ở nước ta cũng có nhiều cách tiếp cận
mới về chính sách công: Giữa quyết sách chính trị (của Đảng cầm quyền) và chính
sách công (của Nhà nước) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Chính sách công là
một dạng biểu hiện cụ thể của quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền (cương
lĩnh, đường lối…); nó thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc tổ chức, quản lý, điều
hành một lĩnh vực hoạt động nào đó của đời sống xã hội.Quyết sách chính trị của
Đảng cầm quyền và Chính sách công có điểm chung - đó là sự thể hiện ý chí giai
cấp cầm quyền, giai cấp thống trị xã hội. Trong đó; Quyết sách chính trị của Đảng
cầm quyền là cơ sở đường lối của các Chính sách công và Chính sách công là hình
thức thực tế, hình thức pháp lý, là công cụ để thể hiện Quyết sách chính trị. Bất cứ
một chủ thể lãnh đạo quản lý chính trị nào (cụ thể là Đảng cầm quyền ) sau khi đề
ra một Quyết sách chính trị nào đó đều lưu tâm đến việc Quyết sách chính trị đó
phải được các cơ quan trong bộ máy nhà nước, chính quyền thể chế hoá chính sách
công như thế nào; và ngược lại để nhà nước có được những Chính sách công đúng
đắn thì không thể không dựa trên sự định hướng của các Quyết sách chính trị của
Đảng cầm quyền. Tất nhiên; sự phân biệt giữa Quyết sách chính trị và Chính sách
công chỉ có tính tương đối. Bởi vì có những Chính sách công nhiều khi do khả
năng, quy mô, phạm vi điều chỉnh và tác động của nó trong đời sống xã hội quá lớn

1.1.2. Thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là quá trình biến các chính sách thành những kết
quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm
hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra; là toàn bộ quá trình hoạt
12


động của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính
sách công một cách có hiệu quả [ 25,tr.19].
Như vậy, thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ
thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu
định hướng.
Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách có tầm quan trọng là để nhằm
hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra; nếu không có việc thực hiện
chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương, chế độ chỉ là
những khẩu hiệu. Việc thực hiện chính sách bao gồm các bước cơ bản sau đây:
Bước
1: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, bao gồm: Kế hoạch về tổ
chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực
hiện; kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị; kế hoạch thời
gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách; dự kiến
về quy chế, nội quy về tổ chức và điều hành thực hiện chính sách. Bước2: Phổ biến
tuyên truyền chính sách: Công đoạn này giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền
hiểu được nội dung, ý nghĩa của chính sách và giúp cho chính sách được triển khai
thuận lợi và có hiệu quả. Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách: Một
chính sách thường được thực hiện bởi nhiều chủ thể, bao gồm cơ quan, đơn vị chủ
trì, các tổ chức phối hợp; do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Bước 4: Duy trì chính sách: Để chính sách được phát huy tốt thì
việc duy trì chính sách hiệu quả là bước quan rọng nhằm phát huy tốt chính sách đó
trong thực tiễn. Bước 5: Điều chỉnh chính sách, việc làm này là cần thiết, diễn ra

chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[37, tr.1-2].
Khái niệm công chức cấp xã
Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008 quy định cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi
chung là cấp xã) là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), bí thư,
phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Khái niệm công chức xã: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được
tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã,
trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước (khoản 3, điều 4 Luật
CBCC năm 2008).
Theo quy định tại nghị định 92/2009/NĐ-CP của chính phủ, tại khoản 2 , điều
3, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng
Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối
15


với xã, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với
xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội.
1.2.1.2. Đặc điểm đội ngũ công chức cấp xã
Từ vị trí, vai trò của công chức xã đã cho thấy những đặc điểm chung của
công chức xã hiện nay, thì bên cạnh đó thực tế còn có đặc điểm riêng biệt đó là:
Công chức xã hầu hết là người địa phương, cư trú sinh sống tại địa phương,
có quan hệ với người dân về mặt kinh tế, văn hóa, tình cảm và đời sống sinh hoạt
hằng ngày. Trong bản thân con người của công chức xã đều chứa đựng các yếu tố:
là người dân, người cùng thôn xóm, người đại diện Nhà nước, các yếu tố này vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn, xung đột nhau, chi phối các hoạt động của họ, nhất là
việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân cộng đồng - nhà nước.

đáp ứng theo các tiêu chuẩn nhất định.
Đào tạo là một quá trình làm cho chủ thể trở thành người có năng lực thực sự,
theo tiêu chuẩn nhất định, bồi dưỡng là quá trình làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm
chất của người đó. Về thời gian thì đào tạo có thời gian dài hơn, thời gian từ 12
tháng trở lên, xong dào tạo được cấp bằng hoặc chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng chỉ
được cấp chứng nhận đã hoàn thành khóa, chương trình bồi dưỡng theo đợt. Việc so
sánh hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng sẽ giúp hiểu sâu hơn về nội hàm của hai
vấn đề, giúp cho việc đánh giá đúng thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công
chức. Ở đây chúng ta cần đưa ra một định nghĩa chung cho đào tạo bồi dưỡng cán
bộ công chức.
Như vậy, thực tiễn có rất nhiều cách tiếp cận về đào tạo, bồi dưỡng. Trong
luận văn được thuật ngữ đào tạo được hiểu là hoạt động truyền thụ kiến thức, kỹ
năng theo quy định của từng cấp học, bậc học nhằm hình thành và phát triển một
cách có hệ thống các tri thức, trình độ, năng lực của con người. Bồi dưỡng là quá
trình cập nhật, trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức làm việc.
Đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập,
nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm
gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là cán bộ công
chức làm việc trong tổ chức. Việc đào tạo, bồi dưỡng tác động trực tiếp đến nhu cầu
của con người, giúp họ làm việc tốt hơn, phát huy được năng lực, tiềm năng của
mình vào công việc có hiệu quả. Với các mục tiêu và quan điểm như vậy đào tạo,
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status