VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN VĂN PHỜ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN VĂN PHỜ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN MINH PHÚ
HÀ NỘI, năm 2018
cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của
3
Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy
sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác
đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” là
một trong những vấn đề cơ bản nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị cơ sở.
Điện Bàn là thị xã đồng bằng thuộc tỉnh Quảng Nam. Điện Bàn được Ủy ban
thường vụ Quốc hội ra nghị quyết công nhận là thị xã vào tháng 3 năm 2015. Là Thị
xã đang ra sức nỗ lực phát triển nhanh, bền vững để sớm trở thành một trong những
trung tâm kinh tế động lực phát triển ở phía Bắc của tỉnh Quảng Nam. Để thực hiện
thắng lợi mục tiêu này thì một trong những giải pháp mang tính nền tảng, tác động
trực tiếp đến hiệu quả công việc, đó là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công
chức của thị xã nói chung, trong đó có công chức xã, phường nói riêng. Tuy nhiên,
trong thời gian qua đánh giá lại đã cho thấy rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chưa gắn với yêu cầu, tiêu chuẩn và chức danh quy hoạch, sử dụng cán bộ, chất
lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác cán
bộ trong giai đoạn cách mạng mới. Đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay trên địa bàn
thị xã Điện Bàn nhất là cán bộ, công chức cấp xã vẫn còn những hạn chế, bất cập
nhất định; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy đảng, hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước không cao, trình độ năng lực, tinh thần trách nhiệm của một
bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, việc tổng kết, đánh
giá để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ, công chức
chậm được tiến hành, hiệu quả chưa đi vào chiều sâu, thiết thực.
Từ những lý do nêu trên học viên chọn đề tài: “Thực hiện chính sách đào tạo,
Bồi dưỡng công chức cấp xã từ thực tiễn tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để
nghiên cứu làm luận văn cao học chuyên ngành chính sách công.
Những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, đã đi sâu vào nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức; chủ yếu tiếp cận và phân tích về cơ sở
lý thuyết, cơ sở pháp lý và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trên thực tế.
Việc nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công
chức cấp xã hầu như chưa được đề cập đến.
Ngoài các công trình nêu trên, trong thời gian gần đây đã có rất nhiều công
trình khoa học, nhiều luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này, đơn cử một số
5
công trình tiêu biểu sau đây: Nguyễn Thị Tuyết Nga: Một số biện pháp hoàn thiện
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước ở tỉnh Phú Yên, Luận văn
Thạc sỹ quản lý công, Học viện hành chính quốc gia, năm 2002.
Dựa trên cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng CBCC; thực tiễn đào tạo, bồi
dưỡng CBCC trong các cơ quan nhà nước ở tỉnh Phú Yên, Luận văn đã đưa ra các
giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhà
nước của tỉnh, trong đó đặc biệt chú trọng đến giải pháp tăng cường cơ sở vật chất,
trang thiết bị và đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng CBCC
của tỉnh.
Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học tập trung
nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức như: Ngô Thành Can:
Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực
thực thi công vụ. Học viện hành chính quốc gia đăng trên Tạp chí Viện khoa học tổ
chức nhà nước, năm 2013. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ quan niệm về đào tạo,
bồi dưỡng CBCC, quy trình đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện cải cách trong đào tạo,
bồi dưỡng CBCC nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Các công trình nghiên cứu nói trên đều có những đóng góp nhất định về mặt lý
luận và thực tiễn cho công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung và đào tạo, bồi
dưỡng CBCC cấp xã nói riêng. Phạm vi nghiên cứu của các công trình trên được
tiêu, nguyên tắc, yêu cầu, quy trình, sự cần thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã. Nghiên cứu về các yếu tố có ảnh hưởng cũng như thực trạng
trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã; Nêu lên những ưu điểm
và những bất cập, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế này. Qua đó, đề
xuất một số giải pháp mang tính khả thi, đồng bộ hơn và đồng thời có những kiến
nghị đối với cấp ủy, chính quyền và các cơ quan có liên quan ở các cấp nhằm tiếp
tục nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với CC cấp xã tại thị
xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đối với công tác cán
bộ của thị xã nói chung và công chức xã, phường nói riêng trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã, từ việc phân tích nhu cầu cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng, đến
thiết kế chương trình; xây dựng tài liệu; lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức
triển khai thực hiện. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng đối với 07 chức danh công chức
chuyên môn xã- phường như: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn
phòng- thống kê; Địa chính- xây dựng- đô thị và môi trường (đối với phường) hay
Địa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính- Kế toán;
Tư pháp- hộ tịch; Văn hoá- xã hội.
+ Thời gian: từ năm 2012 đến năm 2017.
+ Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng công chức thuộc ở 20 xã, phường trên địa bàn của thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về
công tác ĐT, BD đối với đội ngũ công chức cấp xã; Chương 2: Thực trạng trong
công tác ĐT, BD công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Chương
3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong ĐT, BD công chức cấp xã tại
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái niệm công chức cấp xã và chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã
1.1.1. Khái niệm công chức cấp xã
1.1.1.1. Công chức
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Công chức chỉ những người được các cơ
quan nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan
chuyên môn công quyền và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Từ Trung ương
đến cơ sở. Theo Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt
Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên
môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước. Đây là đội ngũ gần dân, sát dân nhất, trực tiếp triển khai các chủ trương,
chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân
dân, công chức cấp xã vừa tham gia công tác lại vừa sản xuất, kinh doanh, gắn với
lợi ích trong gia đình, dòng họ. Chính vì vậy, đã giúp cho đội ngũ công chức cấp xã
luôn hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương mà họ công tác,
sinh sống, bên cạnh đó công chức cấp xã còn thông thạo phong tục, tập quán, tâm lý
của nhân dân và có những điều kiện thuận lợi trong việc vận động, thuyết phục
nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
nhà nước.
11
- Công chức cấp xã được tuyển dụng và xếp loại theo ngạch, bậc. Mỗi ngạch
được tiêu chuẩn hóa riêng biệt, gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của từng vị trí
công việc cụ thể theo trình độ đào tạo.
- Đối với công chức Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã:
ngoài những tiêu chuẩn quy định chung đối với đội ngũ công chức cấp xã, còn phải
có khả năng phối hợp với các đơn vị Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tham
gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân
sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính
quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, bảo vệ chế độ
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.
- So với cán bộ chuyên trách cấp xã thì đội ngũ công chức cấp xã có tính ổn
định tương đối và có tính chuyên môn hóa cao. Hơn nữa, công chức cấp xã là những
người trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hằng ngày của nhân dân và là
cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt
thì phải cử đi đào tạo và đào tạo lại nên năng lực thực hiện nhiệm vụ trong quản lý
nhà nước của đội ngũ này còn nhiều hạn chế nhất định. Thực tế đã cho thấy, một bộ
phận CC cấp xã thiếu những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hoặc không am hiểu,
thành thạo mọi kỹ năng cần thiết cho hoạt động công vụ và một bộ phận CC cấp xã
có thái độ ứng xử chưa phù hợp trong xử lý và giải quyết công việc, tiếp xúc với
nhân dân.
Hiện nay, trình độ của công chức cấp xã đã từng bước được nâng lên đáng kể.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hoá, lý luận chính trị, nhận thức,
năng lực thực thi công vụ; một số CC cấp xã làm việc chủ yếu dựa trên những kinh
nghiệm thực tiễn được truyền từ các thế hệ đi trước hoặc một số CC trẻ có trình độ
chuyên môn nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn nên đã gặp không ít
khó khăn khi xử lý, giải quyết các tình huống xảy ra trong công việc được phân
công. Tất cả những điều nêu trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu
quả thực hiện nhiệm vụ tham mưu trong quản lý nhà nước ở địa phương được phân
công phụ trách.
Với những đặc điểm nêu trên, đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã
13
cần có những cách thức, phương pháp, lộ trình và bước đi sao cho phù hợp, xem xét
cả về nội dung, chương trình và cách thức tổ chức thực hiện đối với từng đối tượng
đặc thù để đảm bảm tính hiệu quả lâu dài, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đào
tao, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ sau khi được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng trong
bối cảnh ngày nay.
1.1.3. Vị trí, vai trò của CBCC cấp xã
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao về vai trò của cán bộ và
công tác cán bộ. Người khẳng định rằng: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều
do cán bộ tốt hoặc kém” [24, tr.280].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về
thực hiện quyền tự quản của mình (người đại diện).
Thông qua việc tuyên truyền, tổ chức, lôi cuốn, phát động phong trào, theo
dõi, kiểm tra và nhân rộng các phong trào tốt, những cá nhân điển hình, tiên tiến,
khai thác tối đa nguồn lực về vật chất, tinh thần nội lực từ nhân dân và địa
phương để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo quốc
phòng- an ninh, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội ở cơ sở ngày càng có
hiệu quả.
Để đội ngũ Công chức cấp xã phát huy tốt vai trò đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước
ta phải xây dựng đội ngũ này có đủ phẩm chất, năng lực cần thiết cho mọi hoạt động
thực thi công vụ. Như Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa khoá IX đã nhấn mạnh rằng : “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý
và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”. Trong đó đặc biệt quan tâm đến công
tác đào tạo, bồi dưỡng đối với Công chức cấp xã nhằm nâng cao chất lượng của đội
ngũ này, góp phần thực hiện hiệu quả công tác quản lý nhà nước ở cơ sở. Thực tiễn
đã cho chúng ta thấy rằng, địa phương nào có đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ
công chức nói riêng tốt thì địa phương đó chắc chắn rằng sẽ có sự phát triển cao trên
tất cả các mặt của đời sống xã hội, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị mà Đảng và
Nhà nước cấp trên giao phó, đáp ứng được sự tin cậy, gửi gắm lòng tin của nhân dân
đối với đội ngũ cán bộ này.
15
1.2. Mục tiêu, nội dung, tầm quan trọng của chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã
1.2.1. Những khái niệm có liên quan
1.2.1.1. Đào tạo, bồi dưỡng và Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
chung cũng giống như CBCC; là những người thực thi công vụ, có ít nhiều kinh
nghiệm trong thực tiễn công tác. Bên cạnh đó, hoạt động của đối tượng này có đặc
thù như đã nói ở phần 1.1.2. Vì vậy cần có cách nhìn nhận rõ hơn về đào tạo, bồi
dưỡng đối với công chức cấp xã. Theo Nguyễn Thị Hồng Hải trong Hỏi đáp về quản
lý cán bộ công chức cấp xã: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã là một quá trình
truyền thụ kiến thức, kỹ năng, trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng theo
tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cho các cán bộ cấp xã. Còn đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã là một quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng, trang bị, cập nhật,
nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp. Việc đào tạo, bồi
dưỡng đối với công chức cấp xã chính là việc trang bị, bổ sung những kiến thức cần
thiết dựa trên các tiêu chuẩn, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng công chức,
trong đó tập trung vào việc vận dụng những kiến thức lý luận vào thực tiễn nhằm
giải quyết những vấn đề quản lý cụ thể.” [21, tr.132-133-134]
1.2.2. Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
nói riêng đây chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ
chức đạt được mục tiêu của mình với các mục đích đó là:
- Trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan; thay đổi thái độ và
hành vi đến công việc để phát triển năng lực làm việc của công chức và nâng cao
khả năng thực hiện công việc trong thực tế của họ.
- Giúp công chức luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân
lực trong tương lai của tổ chức đó.
- Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của đội ngũ công chức
này do thuyên chuyển (luân chuyển) công tác, giới thiệu đề bạt, bổ nhiệm, thay đổi
nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc ở vị trí công tác mới một
cách nhanh chóng và tiết kiệm; hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và của tổ
chức đề ra.
17
18
phương. Theo đó, tuỳ thuộc vào mỗi vị trí chức danh công tác khác nhau mà chúng ta
có những nội dung, yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
cũng như có những nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác nhau.
- Cơ quan quản lý đối với công chức phối hợp với đơn vị sử dụng công chức
cần phải có sự kết hợp đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng với các hoạt động có
liên quan như: quy hoạch cán bộ công chức, xác định nhu cầu đối với công tác đào
tạo, bồi dưỡng, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phân bổ thời gian, nguồn
kinh phí, đánh giá hiệu quả sau khi đào tạo, bồi dưỡng và xác định người thay thế
công việc trong suốt quá trình mà đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở từng
địa phương. Trong đó, khâu quy hoạch cán bộ là cơ sở then chốt trong việc cử cán
bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến
thức quản lý nhà nước cũng như việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ sau này, khắc
phục trình trạng vừa hụt hẫng, vừa dư thừa, đào tạo, bồi dưỡng không gắn với mục
đích, mục tiêu, vị trí việc làm đối với đội ngũ cán bộ công chức. Vì vậy, từng địa
phương cơ sở xã, phường phải dựa trên danh sách quy hoạch, tạo nguồn cán bộ của
địa phương mình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (cấp xã phải được Ban
Thường vụ Thị ủy phê duyệt), qua đó, lãnh đạo địa phương phải nhất thiết phối hợp
với cơ quan quản lý CBCC để xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng
sao cho phù hợp đối với từng chức danh dự nguồn, quy hoạch. Điều này chắc chắn
rằng sẽ khắc phục được tình trạng cử CBCC đi đào tạo, bồi dưỡng một cách dàn
trải, tràn lan, không đúng đối tượng như những hạn chế, tồn tại trong công tác cán
bộ mà lâu nay một số địa phương đã từng mắc phải, gây lãng phí nguồn ngân sách,
thất thoát tiền của, tốn kém thời gian, kinh phí, đi lại của chính cán bộ đó và ảnh
hưởng đến hoạt động chung của mỗi địa phương xã, phường trên địa bàn thị xã
Điện Bàn.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức phải đảm bảo tính công khai,
Thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng
Đánh giá công tác đào tạo, bồi
dưỡng
Một cách đơn giản hơn, quy trình đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
dựa trên cơ sở năng lực thực tiễn trong thực hiện công việc bao gồm 4 thành tố cơ
bản đó là:
20
Xác định yêu cầu học tập
Đánh giá công tác đào tạo,
bồi dưỡng
Lập kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng
Thực hiện kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng
1.2.5.1. Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức cấp xã
Xác định nhu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức
cấp xã chính là vấn đề chúng ta đi vào trả lời các câu hỏi như: Những kiến thức,
kỹ năng cần thiết cho từng vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết
mà công chức hiện có? Những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của công chức đối
với từng vị trí công việc của họ? Làm cách nào để xác định đúng những thiếu hụt
đó? Những khóa học (hay khóa đào tạo, lớp đào tạo, bồi dưỡng) nào cần tổ chức
nào? Ai? Khi nào? ở đâu? Bao nhiêu…). Một vấn đề quan trọng nữa là cần phải xây
dựng một kế hoạch đào tạo cụ thể, rõ ràng, chi tiết, đảm bảo các nội dung sau:
- Mục đích tổng thể; Các mục tiêu cụ thể; Đối tượng: đối tượng học viên, tiêu
chuẩn để tuyển chọn tham gia đào tạo, bồi dưỡng; Hỗ trợ đối với việc học tập, trang
thiết bị; Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, các hoạt động của học viên; Phân phối
thời gian; Nội dung chính: Các chủ đề; Tài liệu để đào tạo, bồi dưỡng; Người dạy:
giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, cộng tác viên; Các kết quả, tiêu chí cần đạt và
cuối cùng là Chương trình chi tiết.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, một kế hoạch tốt cần phải rõ ràng về mục tiêu
đào tạo, bồi dưỡng. Các mục tiêu cần được xây dựng theo kỹ thuật như,
Achievable- có thể đạt được, vừa sức, SMART: Specific- Cụ thể, Measurable- đo
lường được, Realistic- Thực tiễn, khả thi, Time-bound- thời hạn.
Để giúp cho việc thực hiện công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, người ta
thường đưa ra các công việc cần thực hiện trong thiết kế chương trình đào tạo, bồi
dưỡng như sau:
1. Xem xét về số lượng học viên, nghiên cứu lấy ý kiến của họ về chương trình.
2. Liệt kê những cách thức, hoạt động để đạt được mục tiêu này.
22
3. Quyết định loại hình thức đào tạo, bồi dưỡng nào: tại cơ quan (đào tạo, bồi
dưỡng trong công việc) hay tập trung ngoài cơ quan.
4. Quyết định hình thức phương pháp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng- như
việc huấn luyện, kèm cặp hướng dẫn…
5. Thảo luận về chương trình, kế hoạch với những người có liên quan, với
chuyên gia, học viên và những người lãnh đạo, quản lý họ.
6. Hoàn thiện Chương trình.
Xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo theo công thức như
Current - Hiện hành, mới đây, Time limit - Thời gian giới hạn, Important - Quan
thời điểm sau công tác đào tạo, bồi dưỡng.
2. Đánh giá kết quả học tập: Xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học.
Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra.
3. Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những
điều đã học vào công việc như thế nào. Những thay đổi đối với việc thực hiện công
việc.
4. Đánh giá những tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động,
ảnh hưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của bồi dưỡng là như thế nào; thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ đã mang lại những hiệu quả gì? .
Tùy theo các cấp độ đánh giá mà người ta sử dụng các phương pháp đánh giá
khác nhau để xem việc thực hiện quy trình đào tạo, bồi dưỡng đạt được những kết
quả đến đâu, hiệu quả như thế nào.
1.3. Quy trình và các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã.
Theo Luật CBCC năm 2008 quy định: việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù
hợp với quy hoạch CBCC [25, tr.51]. Xuất phát từ tính chất công việc của hai đối
tượng trên khác nhau, do đó cần có những sự điều chỉnh nhất định về yêu cầu bồi
dưỡng cho phù hợp. Đối với cán bộ việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn
của từng chức danh lãnh đạo, quản lý, tham mưu. Đối với công chức, việc đào tạo,
bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn đối với chức danh chuyên môn, nghề nghiệp.
Theo đó, việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cần phải đảm bảo các yêu
cầu cụ thể sau:
24
1.3.1. Yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
1.3.1.1. Đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn chức vụ, chức danh
Căn cứ vào tiêu chuẩn công việc của từng đối tượng, Nhà nước đã quy định cụ