Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở nước ta hiện nay - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ LAN HƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Minh Phƣơng

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực
hiện dưới sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Minh
Phương.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công với Đề
tài “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở nước ta
hiện nay” là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời khai này.

Học viên

bồi dưỡng công chức cấp xã................................................................................ 65
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã ................................................................................................. 71
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 83


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB

: Cán bộ

CC

: Công chức

CBCC

: Cán bộ công chức

CCHC

: Cải cách hành chính

CCCX

: Công chức cấp xã

CNH


bảng
2.1.a

Tên bảng

Trang

Cơ cấu về chức danh công chức cấp xã

37

2.1.b

Cơ cấu về độ tuổi công chức cấp xã

38

2.1.c

Cơ cấu về trình độ văn hóa công chức cấp xã

38

2.1.d

Cơ cấu về trình độ chuyên môn công chức cấp xã

39

2.1.e

thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị,
an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa xã hội ở cơ sở, đảm bảo cho các chủ
trương, chính sách của Đảng đi vào cuộc sống, nâng cao đời sống mọi mặt
của nhân dân.
Ở cấp cơ sở, đội ngũ công chức có vai trò hết sức quan trọng trong xây
dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công
vụ. Đội ngũ công chức cấp xã (CCCX) là những người gần dân nhất, sát dân
nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến
được với nhân dân hay không, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu
đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ CCCX. Vì vậy, việc quan tâm xây
dựng đội ngũ CCCX có đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có
ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp
cách mạng của Đảng.
Ngay từ những năm đầu lập nước, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng của cán bộ “cán bộ là cái gốc
của mọi việc”; “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém” và Người cũng khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách
của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng
thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để
đặt chính sách cho đúng". [18, tr 269]. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX đã xác định: "Xây dựng đội ngũ cán bộ (CB) cơ sở
có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy
1


sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công
tác đào tạo bồi dưỡng giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ
cơ sở". Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh cần phải
“xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu

Chính sách đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã đã được nhiều nhà
khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, điển hình là những công trình,
bài viết sau:
- Viện Khoa học tổ chức nhà nước - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
(2000)“Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã”. NXB. Chính trị
Quốc gia. Sách đề cập đến các nội dung về chính quyền cấp xã và QLNN ở
cấp xã bao gồm các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và tổ chức,
hoạt động của chính quyền cấp xã, công tác quốc phòng an ninh cấp xã, phát
triển kinh tế, tạo việc làm thực hiện xóa đói giảm nghèo ở cấp xã, QLNN về
địa giới hành chính và đất đai cấp xã… Trong đó có dành một phần viết về
cán bộ chính quyền cấp xã với các nội dung chính: Những yêu cầu đối với cán
bộ chính quyền cấp xã; Tác phong làm việc của người CB CCCX.
- Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Kỷ yếu, tọa đàm khoa học: “Xây
dựng, củng cố bộ máy chính quyền và hệ thống chính trị cấp xã, quan điểm,
phương hướng, giải pháp”. Kỷ yếu là tập hợp của 10 báo cáo, tham luận, bài
viết của các chuyên gia bàn về nội dung xây dựng chính quyền cơ sở. Các
tham luận đều nhất trí khẳng định bộ máy chính quyền và hệ thống chính trị ở
xã có vị trí, vai trò rất quan trọng, vì đây là cơ sở gắn bó, tiếp xúc trực tiếp với
nhân dân, phản ánh đầy đủ mối liên hệ giữa Nhà nước với nhân dân, thể hiện
trực tiếp cụ thể hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng và QLNN đối với các
hoạt động kinh tế xã hội ở cơ sở.
- Lê Chi Mai (2002), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ sở vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Cộng sản;
- Nguyễn Khắc Bộ, “Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của chính
3


quyền cơ sở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 3/2006;
- Đoàn Văn Tình “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã, góp phần xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh”, Tạp chí Tổ chức
nhà nước, số 12/2013. Bài viết đã phân tích cụ thể việc thu hút nguồn nhân

chức cơ sở Tây Nguyên”, Đề tài cấp Bộ, Bộ Nội vụ. Đề tài tập trung xác định
đúng thực trạng đội ngũ CBCC với các điểm mạnh, điểm yếu và những bất
cập tại khu vực Tây Nguyên, tác động của chúng tới sự phát triển kinh tế xã
hội, an ninh quốc phòng khu vực. Trên cơ sở đó dự báo nhu cầu phát triển
nguồn CBCC tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 và xây dựng hệ
thống giải pháp phát triển đội ngũ CBCC cơ sở Tây Nguyên đến năm 2010.
- Vũ Minh Bồng (2008) “Nghiên cứu các giải pháp xây dựng và phát
triển cán bộ, công chức dân tộc thiểu số người Khmer”. Đề tài cấp Bộ, Bộ Nội
vụ. Đề tài gồm 03 chương: Điều kiện, đặc điểm vùng Tây Nam Bộ và vai trò
của đội ngũ CBCC người Khmer đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây
Nam bộ; Quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ CBCC người dân tộc
Khmer qua các thời kỳ lịch sử và thực trạng của đội ngũ CBCC người Khmer
hiện nay; Phương hướng, mục tiêu và các giải pháp xây dựng và phát triển đội
ngũ CBCC người Khmer ở các tỉnh Tây Nam bộ từ năm 2007 - 2015.
- TS. Nguyễn Ngọc Vân (2014) “Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu
chí đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”, Đề tài cấp
Bộ, Bộ Nội vụ. Đề tài đã góp phần làm rõ các yếu tố quyết định chất lượng
ĐTBD và nghiên cứu tương đối toàn diện, có tính hệ thống các tiêu chí đánh
giá trong sự tương quan giữa chúng. Các tiêu chí đánh giá được nghiên cứu,
đề xuất cụ thể hóa thành các tiêu chí: Đánh giá chương trình, tài liệu; đánh giá
giảng viên; đánh giá cơ sở ĐTBD; đánh giá học viên; đánh giá khóa học;
đánh giá tài chính và quản lý tài chính.
- Đỗ Thị Thu Hằng (2004); “Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức
cấp xã trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Hành chính
5


Quốc gia. Luận văn gồm 3 chương: Một số vấn đề chung về CCCX và năng
lực CCCX trong bộ máy chính quyền cơ sở; Phân tích và đánh giá thực trạng
năng lực của đội ngũ CCCX; Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng

4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là việc thực hiện chính sách ĐTBD CCCX (xã,
phường, thị trấn) ở nước ta.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách ĐTBD CCCX ở
nước ta hiện nay.
- Thời gian: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD CCCX từ
2011- 2016 và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
ĐTBD CCCX giai đoạn 2017 - 2020.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện chính sách ĐTBD
CCCX.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp - diễn dịch, kết hợp gắn lý luận với
thực tiễn để làm rõ các nội dung luận văn cũng như chọn lọc những kinh
nghiệm thực tiễn sát với những vấn đề cần giải quyết của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách ĐTBD CCCX và đề xuất một số giải pháp quan trọng, có tính khả thi nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ĐTBD CCCX ở nước ta hiện
nay.
- Về thực tiễn:
+ Luận văn cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các cấp lãnh đạo,
7


quản lý trong công tác ĐTBD đội ngũ CCCX.
+ Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những người quan tâm đến

nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật [22].
1.1.1.2. Khái niệm công chức cấp xã
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008,
công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước [22].
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 61, Luật cán bộ, công chức năm 2008,
thì CCCX có các chức danh sau:

9


- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng - thống kê;
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
- Tài chính - kế toán;
- Tư pháp - hộ tịch;
- Văn hóa - xã hội [22].
Thông tư số 06/2012/TT-BNV, ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng
dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ công chức xã, phường, thị
trấn quy định chức trách của CCCX là làm công tác chuyên môn thuộc biên
chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực
hiện chức năng QLNN về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các
nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao [5].
Như vậy có thể hiểu, CCCX là công dân Việt Nam đáp ứng các yêu cầu

giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Như vậy, các nhà nghiên cứu khi nói
tới “chính sách” đã không chỉ đề cập tới chính sách công mà còn nói tới cả
những chính sách của các doanh nghiệp, các hiệp hội,…
Trong một số tài liệu và văn bản chính thức, người ta có thể đề cập tới
cả chính sách của Đảng và chính sách của Nhà nước (ví dụ như trong cụm từ
“chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước”) nhưng thông thường trong khoa
học chính sách, chủ thể ban hành chính sách được hiểu là Nhà nước (tức là
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Trong nghiên cứu này, chính sách
công được hiểu theo nghĩa này.
Theo nghĩa rộng nhất, chính sách công có thể hiểu là “chính phủ lựa
chọn làm hoặc không làm”. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng những
hoạt động đột xuất hay ngẫu nhiên của các chính khách không thể được gọi là
chính sách. Quan điểm này phân biệt một quyết định đơn lẻ với một chuỗi các
11


quyết định nằm trong hệ thống hoạt động đã được xây dựng sẵn một cách có
định hướng và mục tiêu và chỉ có những quyết định có tác động tới đời sống
xã hội lâu dài và sâu sắc mới có thể được coi là chính sách công. Khi hiểu như
vậy, có thể định nghĩa chính sách công là một hệ thống các quyết định và hoạt
động có tính toán và có mục tiêu của chính quyền.
Như vậy, có thể định nghĩa chính sách công là cách thức hành động do
nhà nước lựa chọn và được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
để giải quyết một vấn đề phát sinh trong một giai đoạn nhất định, định hướng
cho xã hội phát triển một cách thống nhất theo mong muốn của nhà nước.
Nội dung của một chính sách có thể được ghi nhận lại dưới nhiều hình thức
khác nhau (vật mang chính sách) như các văn bản quy phạm pháp luật, các
bài phát biểu của lãnh đạo, các báo cáo tường trình…. Tuy nhiên hình thức
thể hiện quan trọng nhất của các chính sách công chính là pháp luật hay nói
cách khác, pháp luật chính là sự thể chế hóa về mặt nhà nước của chính sách.

ĐTBD CC không còn hoặc không phải trang bị những kiến thức cơ bản hay
chuyên ngành nữa, mà là một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo; là khả năng vận dụng
và giải quyết các tình huống cụ thể. Đó là quá trình tiếp thu kiến thức một
cách sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết và những kỹ năng
về nghề. Bên cạnh đó, một trong những yêu cầu quan trọng của ĐTBD CC là
nhằm nâng cao năng lực làm việc hiện tại cũng như trong tương lai của họ,
xây dựng nên hành vi và thái độ làm việc đúng đắn, phục vụ nhà nước và
nhân dân một cách công minh và tận tụy.
Thứ hai, hình thức thể hiện văn bằng trong ĐTBD CC là chứng chỉ
không phải là do Bộ Giáo dục và Đào tạo với tư cách là cơ quan thay mặt nhà
nước quản lý về giáo dục và đào tạo cấp, mà đó là sự chứng nhận của các cơ
sở đào tạo trên nguyên tắc phân cấp của Chính phủ và các cơ quan quản lý có
thẩm quyền. Chứng chỉ được cấp trong ĐTBD CC là cơ sở để cho CC được
bố trí, sử dụng theo quy định.
13


Ngoài ra, việc ĐTBD CC được thực hiện theo những quy định khác biệt
so với đào tạo trong hệ giáo dục quốc dân, được thực hiện trong hệ thống các
cơ sở ĐTBD CC của nhà nước không thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; hoạt
động theo nguồn kinh phí riêng và theo những chương trình nội dung do hệ
thống cơ quan QLNN về công tác ĐTBD CC nhà nước ban hành…
Như vậy, khái niệm đào tạo và bồi dưỡng rất gần nhau, trong đào tạo đã
bao hàm nghĩa bồi dưỡng, nó khác với bồi dưỡng ở chỗ đào tạo chỉ quá trình
trang bị những kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó người CC chưa được đào
tạo. Một cách cụ thể hơn, người ta cho rằng, bồi dưỡng là quá trình nâng cao
trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo. Thông thường,
trong hoạt động công vụ, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm,
trang bị mới những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho CC để thực hiện tốt hơn,
hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao.

giúp chính sách đi vào thực tế đời sống, phù hợp với nhu cầu phát triển của
đất nước.
1.1.2. Nội dung thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 18/2010/NĐCP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD CC; Thông tư số 03/2011/TTBNV ngày 25/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP; Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch ĐTBD CC giai đoạn 2011 2015; Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ CBCC, viên chức, người DTTS trong
thời kỳ mới”, thực hiện chính sách ĐTBD CCCX, gồm các nội dung sau:
1.2.2.1. Đào tạo, bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị
Đội ngũ CCCX là những người tổ chức thực hiện các đường lối, chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước nên cần có một trình độ lý luận
chính trị nhất định. Trình độ lý luận chính trị được biểu hiện qua trình độ
15


nhận thức các quy luật, đặc biệt là quy luật kinh tế, xã hội; là sự nhận thức
đúng đắn đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đội ngũ CCCX có
trình độ lý luận chính trị tốt, thể hiện được ý thức tuân thủ kỷ luật Đảng, đi
đầu trong chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống
lại các biểu hiện lệch lạc, sai trái trong quá trình công tác và đời sống xã hội.
Trình độ lý luận chính trị là một trong những yêu cầu kiến thức quan
trọng của đội ngũ CCCX cần phải có. Bởi vì, muốn cho hoạt động của CCCX
đi đúng hướng và có hiệu quả như mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân
dân. Mỗi người CC cơ sở phải hiểu mình đang sống trong chế độ xã hội nào,
đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước ra làm sao và phải tổ chức thực
hiện đường lối ấy như thế nào, có như vậy thì mỗi CC cơ sở khi thi hành
nhiệm vụ mới biết mình phải làm gì và làm như thế nào cho đúng.
Việc thực hiện chế độ ĐTBD quy định tại Điều 4 Nghị định số
18/2010/NĐ-CP, tùy theo ngạch và chức vụ lãnh đạo, quản lý đang giữ,
CCCX có trách nhiệm thực hiện chế độ ĐTBD lý luận chính trị theo quy định

chính trị, xã hội của địa phương.
Đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức theo tiêu chuẩn ngạch cho
CC cơ sở, như: bồi dưỡng kiến thức về hội nhập quốc tế, kỹ năng hành chính,
đạo đức công vụ, đào tạo ngoại ngữ, tin học,… Mục tiêu xây dựng đội ngũ
CCCX có đủ trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và nâng cao hiệu
lực, hiệu quả QLNN nói chung và trên từng địa bàn nói riêng về các lĩnh vực
công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính, văn phòng - thống kê, tài chính - kế
toán… yêu cầu phải thực hiện nhiệm vụ cấp bách là ĐTBD trình độ chuyên
môn cho đội ngũ CCCX.
1.2.2.3. Đào tạo bồi dưỡng về trình độ quản lý nhà nước
Trình độ quản lý nhà nước là mức độ đạt được hệ thống tri thức về
lĩnh vực quản lý nhà nước, như kiến thức bộ máy nhà nước, pháp luật, nguyên
tắc, công cụ quản lý nhà nước,... Hệ thống kiến thức đó giúp đội ngũ CCCX
hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ của bản thân, những gì được và không được làm;
17


sử dụng thuần thục các công cụ quản lý, sáng tạo và linh hoạt các phương
pháp quản lý, từ đó thực thi công vụ đúng pháp luật, đạt hiệu quả cao.
Kiến thức quản lý nhà nước là kiến thức rất quan trọng và cần thiết đối
với CCCX. Đây chính là cơ sở để người CC hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ của
mình là gì và thực hiện như thế nào, công cụ quản lý, kỹ năng và phương
pháp ra sao, giúp họ hiểu được sự vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà
nước nói chung và ở cơ sở nói riêng, từ đó thực thi công vụ một cách có hiệu
quả, phù hợp với quy định của nhà nước.
Với đặc điểm hoạt động của CCCX là rất đa dạng và phức tạp, hoạt động
trên một diện nội dung rất rộng, bao quát toàn bộ các hoạt động chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn địa phương. Do đó, những kiến thức quản lý
lại đòi hỏi những nội dung khác nhau và loại kiến thức khác nhau. Tóm lại,
người CCCX phải được trang bị kiến thức QLNN một cách toàn diện về hầu

nghiên cứu, dịch thuật tài liệu nước ngoài phục vụ thiết thực cho lĩnh vực
chuyên môn của đội ngũ CCCX.
1.2.2.5. Đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc
Đội ngũ CCCX công tác tại vùng có đông đồng bào là người DTTS
sinh sống có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc lãnh đạo, tuyên
truyền vận động đồng bào các dân tộc thực hiện các chủ trương chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương. Vì vậy, khi được đào tạo
cơ bản, họ sẽ nắm vững được các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước,
góp phần tích cực trong công tác xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy sự công bằng,
tiến bộ xã hội, qua đó thu hẹp khoảng cách chênh lệch về đời sống vật chất
văn hoá, tinh thần giữa các dân tộc.
Yêu cầu cấp bách của công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội,
giữ gìn an ninh, quốc phòng đòi hỏi đội ngũ CC cấp cơ sở công tác ở các
vùng có đồng bào DTTS phải biết tiếng dân tộc để giao tiếp và sử dụng trong
công tác. Để việc học tiếng DTTS trở thành nhiệm vụ thường xuyên đối với
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status