VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƢU TẤN LẠI
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƢU TẤN LẠI
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 60.34.04.02
Tác giả luận văn
Lƣu Tấn Lại
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP CHÍNH
SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ .................................................................................................. 8
1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................ 8
1.2. Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc
thiểu số ................................................................................................................ 18
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
người dân tộc thiểu số ......................................................................................... 26
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TẠI TỈNH QUẢNG NAM ............................................................ 31
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Nam ......... 31
2.2. Thực trạng triển khai các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam .................................... 32
2.3. Kết quả thực hiện mục tiêu giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam .................................... 44
2.4. Đánh giá thực trạng triển khai các giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam ................ 56
CHƢƠNG 3. CÁC PHƢƠNG ÁN HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP CHÍNH
SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ ................................................................................................ 63
3.1. Quan điểm, định hướng hoàn thiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ................................................. 63
CT-XH
: Chính trị -xã hội
DTTS
: Dân tộc thiểu số
ĐTBD
: Đào tạo, bồi dưỡng
GDTX
: Giáo dục thường xuyên
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HNDN
: Hướng nghiệp dạy nghề
LLCT
: Lý luận chính trị
QLNN
tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi
dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” là một
trong những vấn đề cơ bản nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính
trị cơ sở.
Chính sách cán bộ, công chức là hệ thống quan điểm, chủ trương của
Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ CBCC, là công cụ và các giải pháp nhằm xây
dựng đội ngũ CBCC đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ
cách mạng. Chính sách CBCC bao gồm: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chính
sách sử dụng và quản lý CBCC, chính sách đảm bảo lợi ích và động viên CBCC.
1
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC là một trong những giải pháp quan trọng
của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng đội ngũ CBCC trong giai đoạn
hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, đặc biệt là đối với đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc
thiểu số. Điều đó được khẳng định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: “...củng cố và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai
trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên
trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức người dân tộc thiểu số...” [19, tr.122].
Xác định được vai trò và tầm quan trọng của công chức cấp xã người
dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND,
UBND tỉnh Quảng Nam luôn quan tâm, chú trọng đến việc phát triển nguồn
nhân lực, củng cố chính quyền cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là
việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc
thiểu số. Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày
22/12/2004 về việc đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số. Năm 2014, Tỉnh
ủy Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 15/12/2014 về công tác
đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Trương Thị Bạch Yến (2014), Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người
dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ
Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
- Lô Quốc Toản (2008), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các
tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết Học, Học viện
Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
- Nguyễn Thế Vịnh – Đinh Ngọc Quang (2009), Tiếp tục hoàn thiện chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở, Nxb, Chính trị Quốc gia. Trên
cơ sở một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức và chế độ chính sách đối với
cán bộ, công chức cơ sở, rút ra những nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề
3
ra các giải pháp hoàn thiện các chế độ chính sách cho đối tượng trong đó chú
trọng đến chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng;
- Nguyễn Minh Sản (2009), Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở Việt Nam hiện nay-những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb, Chính trịHành chính, Hà Nội. Tác giả khái lược những vấn đề lý luận liên quan đến hoàn
thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay,
trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền trong thời kỳ
đổi mới;
- Lương Thanh Cường (2011), Một số vấn đề lý luận về định chế pháp
luật công vụ, công chức, Nxb, Chính trị-Hành chính, Hà Nội. Tác giả đã nêu lên
những vấn đề lý luận và thực tiễn về định chế công vụ, công chức, đưa ra một số
giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định pháp luật công vụ, công chức một cách
thống nhất, đồng bộ, góp phần xây dựng nền công vụ công khai, minh bạch, hiệu
quả;
- Hiền Lương (2004), “Chính sách của Đảng và Chính phủ nhằm nâng
cao chất lượng cán bộ xã vùng cao”, Tạp chí Lý luận chính trị.
Nghiên cứu thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam.
Đề xuất các phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
người dân tộc thiểu số dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: tỉnh Quảng Nam; các địa bàn khác được đề cập để làm
rõ các vấn đề ở tỉnh Quảng Nam.
Về thời gian: Tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm 2011 đến nay
5
và đề xuất các phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã người dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2021.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thể hiện trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường
lối của Đảng về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung,
chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số nói
riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp
tổng hợp, phân tích; điều tra khảo sát thực tế; phương pháp điều tra trực tiếp
bằng bảng hỏi được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số; phân tích định
lượng từ đó tiến hành phân tích định tính.
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm và mục đích
nghiên cứu, các học giả nước ngoài đã đưa ra một số khái niệm chính sách công,
như: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” (B.Guy Peter). B.Guy Peter
khẳng định rằng, chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là nhà nước,
đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân
với tư cách là cộng đồng. William Jenkin cho rằng: “ Chính sách công là một tập
hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm
nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được
mục tiêu đó”.
Ở nước ta cũng có một số tác giả nghiên cứu về chính sách công, cũng
đưa ra các khái niệm chính sách công. PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành
chính Quốc gia) đưa ra khái nhiệm chính sách công với các nội hàm sau: Chủ
thể ban hành chính sách công là nhà nước, chính sách do nhà nước ban hành nên
chính sách công có thể coi là chính sách của nhà nước; chính sách công là những
quyết định hành động, bao gồm cả những hành vi thực tiễn, chính sách công
không chỉ thể hiện dự định của nhà nước hoạch định chính sách về một vấn đề
nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định đó. Nếu không có việc
thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương
đó chỉ là khẩu hiệu mà thôi; chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề
qua lại giữa mục tiêu chính sách và giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách.
9
Chính sách có thể đạt được mục tiêu khi xác định sử dụng được các giải pháp,
biện pháp phù hợp với mục tiêu.
Ngoài việc áp dụng, sử dụng các giải pháp để tác động đến đối tượng
chính sách trong xây dựng chính sách còn áp dụng, sử dụng các công cụ sau:
Công cụ quyền lực, luật pháp của nhà nước; công cụ hành chính-tổ chức; công
cụ tài chính; công cụ tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng.
1.1.3. Khái niệm công chức cấp xã, công chức cấp xã người dân tộc
thiểu số
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước [29]. Như vậy, CCCX phải là công dân Việt Nam;
người muốn làm CCCX phải được tuyển dụng vào một vị trí chức danh chuyên
môn nhất định thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển; địa điểm làm việc tại UBND
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Nghị định 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định
CCCX có 07 chức danh sau đây:
- Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng - thống kê;
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
- Tài chính - kế toán;
- Tư pháp - hộ tịch;
- Văn hoá - xã hội.
Dân tộc thiểu số được hiểu là dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số
đông nhất trong một nước nhiều dân tộc. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 3, khóa VIII đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố
quyết định sự thành công của cách mạng; cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng,
hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới; cán bộ nói chung có vai trò
11
quan trọng, cán bộ chính quyền cơ sở nói riêng có vị trí chính trị cơ sở. Công
chức cấp xã là nơi trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước
giới thiệu cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời nắm bắt tình hình triển
khai thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước; phản
ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
với thực tiễn. Nói cách khác đội ngũ CCCX là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với
quần chúng nhân dân.
Đội ngũ CCCX là lực lượng nòng cốt trong quản lý và tổ chức công việc
của CQCX. Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp
luật. Họ có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các
quyền tự do, dân chủ, quyền của con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Thông qua
hoạt động của đội ngũ CCCX, nhân dân được quyền làm chủ và trực tiếp thực
hiện quyền tự quản của mình.
Đối với CCCX là người DTTS ở từng địa phương, họ là những người con
của đồng bào dân tộc, sinh ra và lớn lên gắn với đồng bào nơi đây từ nhỏ, là
người có cùng tiếng nói, có cùng phong tục tập quán; họ hiểu cuộc sống vất vả
cơ cực của người dân nên họ nắm được tâm tư, tình cảm, lối sống, ý chí, nguyện
vọng và tập quán của đồng bào mình. Vì vậy, họ càng có vai trò quan trọng khi
ở những vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống. Bên cạnh đó họ còn có vai
trò to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, vừa là lực lượng nòng
cốt, vừa là tấm gương trong các hoạt động văn hóa – xã hội, tương thân, tương
ái tạo nên một khối đại đoàn kết vững chắc ở địa phương có nhiều dân tộc anh
em cùng chung sống.
phải có đạo đức, trung thực, thực sự gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau
dân, hết lòng chăm lo cho cuộc sống của dân. Tinh thần phục vụ nhân dân của
CCCX phải được thể hiện trong tác phong làm việc; muốn làm tốt việc lãnh đạo,
vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước, CCCX phải có tác phong gần dân, trọng dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân.
13
Về trình độ năng lực: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề cao đạo đức
cách mạng mà còn yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải luôn học tập, rèn luyện
nâng cao năng lực. Người nói: "Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự
nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có" [27, tr.40]. Năng lực
theo Người, nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn
của con người không phải tự nhiên mà có; năng lực được phát triển trong quá
trình hoạt động thực tiễn. UBND xã là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở có
trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn. Mỗi lĩnh
vực cụ thể của đời sống xã hội diễn ra trên địa bàn với nhiều tình huống nảy sinh
đòi hỏi người CCCX phải có trình độ CMNV, hiểu biết nhất định để tham mưu
giải quyết cho thỏa đáng. Năng lực của đội ngũ CCCX được đánh giá qua các
mặt: Năng lực quản lý các hoạt động trên địa bàn; khả năng tiếp nhận và lựa
chọn thông tin để tham mưu ra các quyết định quản lý bảo đảm tính hợp pháp và
hợp lý; năng lực vận dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể và khả năng
có những phản ứng, những phương án linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu
quản lý; khả năng vận động quần chúng nhân dân trong quá trình tổ chức triển
khai các văn bản pháp luật của Nhà nước. Năng lực của CCCX còn được đánh
giá qua tác phong làm việc, phương pháp quản lý nhằm đạt hiệu quả cao nhất,
kỹ năng giao tiếp với nhân dân để có những ứng xử phù hợp với nhiều đối
tượng; kỹ năng tuyên truyền để giải thích, thuyết phục nhân dân thực hiện chính
sách của Nhà nước, kỹ năng hòa giải...
Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ: Khả năng hoàn thành nhiệm vụ là
lĩnh vực khác, như: quản lý kinh tế, quản lý xã hội,...
Trình độ quản lý nhà nước: QLNN là sự tác động của các cơ quan trong
bộ máy hành chính nhà nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Đó là
những phương thức mà người CBCC hành chính sử dụng trong phạm vi quyền
hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các công việc cụ thể diễn ra hằng ngày
trong xã hội nhằm quản lý trật tự xã hội. Để thực hiện được hoạt động này, đòi
hỏi đội ngũ CCCX cần phải được ĐTBD những kiến thức cơ bản về QLNN
15
chung và nghiệp vụ QLNN chuyên ngành thì mới có được kỹ năng, phương
pháp quản lý hiệu quả.
Kỹ năng nghề nghiệp: Là khả năng vận dụng kiến thức đã được trang bị,
đào tạo, bồi dưỡng vào thực tiễn công việc. Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá
năng lực của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số. Kỹ năng nghề nghiệp của
công chức cấp xã gắn với hoạt động ở những lĩnh vực cụ thể, như: Kỹ năng soạn
thảo văn bản, ban hành quyết định quản lý nhà nước, kỹ năng giao tiếp với công
dân, kỹ năng xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội...Kỹ năng nghề nghiệp
là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động công vụ của công chức cấp xã người
dân tộc thiểu số. Có những kỹ năng được hình thành qua trường, lớp, cũng có
những kỹ năng được hình thành trong quá trình công tác (gọi là kinh nghiệm
công tác). Việc hình thành kinh nghiệm công tác của công chức cấp xã phụ
thuộc vào khả năng nhận thức, tư duy, phân tích, tích lũy, tổng hợp và rút kinh
nghiệm của từng công chức.
Đối với công chức cấp xã người dân tộc thiểu số, có những kỹ năng nghề
nghiệp cơ bản sau: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng phối hợp, kỹ năng soạn thảo
văn bản và ban hành quyết định quản lý; kỹ năng thu thập, phân tích, xử lý
thông tin; kỹ năng dự báo; kỹ năng tổ chức cuộc họp; kỹ năng thuyết trình; kỹ
năng quản lý thời gian; kỹ năng giao tiếp...Tất cả các kỹ năng này đều chịu ảnh
hưởng của trình độ chuyên môn, khả năng của từng cá nhân và kinh nghiệm
chuẩn bị cho nguồn nhân lực phát triển trong tương lai.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng
làm việc trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Quá trình bồi dưỡng được thực hiện
trong thời gian ngắn, mục tiêu là đáp ứng ngay nhu cầu cần cập nhật, nâng cao
kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý cho người học. Khối lượng kiến thức, kỹ
năng được quy định tại các chương trình bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng
công chức. Kết quả của các khóa bồi dưỡng là người học thu nhận được những
kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí việc làm đang đảm nhận.
Đào tạo và bồi dưỡng được sử dụng là cầu nối để thực hiện quá trình
17
truyền thụ kiến thức, kỹ năng một cách có kế hoạch. Thông qua đào tạo và bồi
dưỡng công chức tiếp nhận được kiến thức, kỹ năng để thực thi công vụ một
cách có hiệu quả hơn.
1.2. Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dƣỡng công chức cấp xã ngƣời
dân tộc thiểu số
1.2.1. Khái niệm giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã người dân tộc thiểu số
Theo quan điểm về giải pháp chính sách công nói chung và nhiệm vụ đào
tạo, bồi dưỡng công chức có thể đưa ra quan niệm: Giải pháp chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là tổng thể những cách
thức, hành động của cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính
trị đối với đội ngũ công chức, nhằm góp phần xây dựng đội ngũ công chức trong
sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền
lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
CSC được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến pháp, Luật. Các giải
pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
được cụ thể hóa trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, các tổ chức CT-XH