MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cấp xã là đơn vị hành chính cấp cuối cùng trong hệ thống hành
chính bốn cấp ở nước ta. Năng lực và hiệu quả hoạt động của chính
quyền cấp xã tác động trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, góp phần đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của đất
nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Cấp xã là gần gũi nhân dân
nhất, là nền tảng hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều
xong xuôi”. Đội ngũ công chức cấp xã là những người trực tiếp nắm
bắt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đội ngũ
này có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật
của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy,
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã ra nghị quyết về đổi mới và nâng
cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, xác
định: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân,
không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công
tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối
với cán bộ cơ sở” là một trong những vấn đề cơ bản nhằm đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở.
Chính sách cán bộ, công chức là hệ thống quan điểm, chủ
trương của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ CBCC, là công cụ và
các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ CBCC đồng bộ, có chất lượng,
1
tồn tại, hạn chế.
Xuất phát từ những lý do cho thấy, việc chọn và nghiên cứu đề
tài: “ Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là yêu cầu
khách quan, cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc
thiểu số là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược
xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Vấn đề này đã
được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt
động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát. Đến
nay, đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức
độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công
bố trên một số sách, báo, tạp chí ở trung ương và địa phương, có thể
nêu một số công trình tiêu biểu như sau:
- Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở
vùng dân tộc thiểu số Việt Nam- Đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Trương Thị Bạch Yến (2014), Tạo nguồn cán bộ, công chức
xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội;
- Lô Quốc Toản (2008), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu
số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ
Triết Học, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội;
- Nguyễn Thế Vịnh – Đinh Ngọc Quang (2009), Tiếp tục hoàn
thiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở, Nxb, Chính
3
4
thiểu số, luận văn làm rõ thực trạng giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam
và đề xuất được các phương án nhằm hoàn thiện các giải pháp chính
sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết được mục đích nghiên cứu, luận văn đi vào các
nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số.
Nghiên cứu thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam.
Đề xuất các phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong thời
gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã người dân tộc thiểu số dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: tỉnh Quảng Nam; các địa bàn khác được đề cập
để làm rõ các vấn đề ở tỉnh Quảng Nam.
Về thời gian: Tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm
2011 đến nay và đề xuất các phương án hoàn thiện giải pháp chính
sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số giai
đoạn 2016-2021.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo,
luận văn được cơ cấu thành ba chương
6
Chương 1. Những vấn đề lý luận về giải pháp chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số.
Chương 2. Thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Các phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số.
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ
thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng
đồng trên lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định
nhằm đạt các mục tiêu đề ra.
1.1.2. Giải pháp chính sách công
Giải pháp chính sách là cách thức chủ thể chính sách sử dụng
để tác động đến đối tượng chính sách để đạt được mục tiêu của chính
sách.
1.1.3. Khái niệm công chức cấp xã, công chức cấp xã người
dân tộc thiểu số
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ
một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
hội, tương thân, tương ái tạo nên một khối đại đoàn kết vững chắc ở
địa phương có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống.
8
1.1.5. Yêu cầu về phẩm chất, năng lực công chức cấp xã
người dân tộc thiểu số
Chất lượng của đội ngũ CCCX là sự tổng hợp sức mạnh từ
phẩm chất vốn có bên trong của mỗi công chức và nó được tăng lên
gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của công tác ĐTBD, phân
công, quản lý, kỷ luật. Trong điều kiện hiện nay, CCCX cần đảm bảo
các yêu cầu về phẩm chất, năng lực sau: Về phẩm chất chính trị; Về
phẩm chất đạo đức; Về trình độ năng lực.
- Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ: Khả năng hoàn thành
nhiệm vụ là năng lực "tiềm ẩn" của người công chức, tạo nên sức
mạnh để người công chức có thể hoàn thành công việc với mục đích
cuối cùng là hiệu quả. Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của người
CCCX được hình thành bởi một số yếu tố cơ bản sau đây: Trình độ
văn hóa; Trình độ lý luận chính trị; Trình độ chuyên môn nghiệp vụ;
Trình độ quản lý nhà nước; Kỹ năng nghề nghiệp
1.1.6. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức
Đào tạo là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ
năng nhằm giúp công chức có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng,
nhiệm vụ, vị trí việc làm của mình. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị,
cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc trong quá trình thực
thi nhiệm vụ. Đào tạo và bồi dưỡng được sử dụng là cầu nối để thực
hiện quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng một cách có kế hoạch.
Thông qua đào tạo và bồi dưỡng công chức tiếp nhận được kiến thức,
kỹ năng để thực thi công vụ một cách có hiệu quả hơn.
dƣỡng công chức ngƣời dân tộc thiểu số
1.3.1. Các nhân tố khách quan
1.3.1.1. Quan điểm, chủ trương, đường lối của các cấp về
chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu
số
10
1.3.1.2. Những nguồn lực cho chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
1.3.1.3. Các yêu cầu của ngành, địa phương về đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
1.3.2. Các nhân tố chủ quan
Nhận thức của đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số đối
với đào tạo, bồi dưỡng.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO
TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TẠI TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh
Quảng Nam
Quảng Nam nằm ở vị trí trung độ của cả nước, là tỉnh ven biển
của dải đất miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành
phố Đà Nẵng; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum;
phía Tây giáp tỉnh Se Koong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) và
phía Đông giáp biển Đông. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là
10.438.37 Km2. Vùng miền núi là địa bàn cư trú tập trung, lâu đời
của các thành phần dân tộc thiểu số của tỉnh. Trong những năm qua,
khu vực miền núi tỉnh Quảng Nam đã có bước chuyển về phát triển
kinh tế xã hội.
2.3.2.1. Trình độ học vấn
Trong tổng số 506 công chức cấp xã người dân tộc thiểu số,
có 99,8% công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam
tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, trong đó có 489 công chức tốt
nghiệp trung học phổ thông (đạt tỷ lệ 96,6%), 16 công chức tốt
nghiệp trung học cơ sở (đạt tỷ lệ 3,2%). Riêng có 01 công chức Tư
pháp - Hộ tịch chưa đạt chuẩn so với quy định, chỉ tốt nghiệp tiểu học
12
(tỷ lệ 0,2%) .
2.3.2.2. Trình độ chuyên môn
Công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam
đã đạt trình độ trung cấp chuyên môn trở lên (437 người, tỷ lệ
86,4%); số công chức qua đào tạo trình độ sơ cấp là 9 người, tỷ lệ
1,8%; số công chức chưa qua đào tạo chuyên môn là 60 người, tỷ lệ
11,8%. Nhóm công chức cấp xã người dân tộc thiểu số đạt trình độ
chuyên môn từ sơ cấp trở lên chiếm tỷ lệ cao là: Tài chính - Kế toán
(96%); Chỉ huy trưởng quân sự (93%); Trưởng Công an (92%). Tiếp
đến là Tư pháp - Hộ tịch (89%); Văn phòng - Thống kê (89%) và Địa
chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (86%). Riêng công
chức Văn hóa - Xã hội đạt tỷ lệ thấp nhất (79%).
Trong tổng số 215 công chức cấp xã đang được cử học trình
độ đại học, cao đẳng, trung cấp để nâng cao trình độ chuyên môn thì
có 39 công chức cấp xã người dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo và
đã được đào tạo sơ cấp.
2.3.2.3.Chuyên ngành đào tạo
Nhiều công chức cấp xã người dân tộc thiểu số có chuyên
ngành đào tạo phù hợp với vị trí việc làm. Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn
lấy bằng cấp để tuyển dụng, cử đi đào tạo tràn lan nhiều ngành nhằm
Văn phòng - Thống kê (83%), điều này xuất phát từ yêu cầu thực tế
công việc thường xuyên sử dụng máy vi tính và các chương trình,
phần mềm chuyên dụng.
2.3.2.7.Trình độ quản lý nhà nước
Tổng số công chức đã qua bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà
nước là 389 người (tỷ lệ 76,9%). Trong đó, chủ yếu là đã qua bồi
dưỡng ngắn hạn theo từng vị trí chức danh công chức (372 người).
Số công chức chưa được trang bị kiến thức quản lý nhà nước là 117
14
người (tỷ lệ 23,1%).
2.3.2.8. Kỹ năng làm việc
Kỹ năng làm việc của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
được hình thành thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng cũng như
tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Tác giả đã xây dựng
hệ thống các tiêu chí để khảo sát, đánh giá kỹ năng của công chức
cấp xã người dân tộc thiểu số và đã tiến hành khảo sát 160 công chức
cấp xã người dân tộc thiểu số đang theo học các lớp bồi dưỡng do Sở
Nội vụ tỉnh Quảng Nam tổ chức vào năm 2015, trong đó có 23 công
chức Văn hóa - Xã hội, 33 công chức Địa chính - Nông nghiệp - Xây
dựng và Môi trường, 17 công chức Văn phòng - Thống kê, 31 công
chức Tư pháp - Hộ tịch, 9 công chức Tài chính - Kế toán, 33 công
chức Trưởng Công an và 14 công chức Chỉ huy trưởng quân sự. Kết
quả thu được như sau: Trung bình có 1,41% công chức cấp xã người
dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam tự đánh giá là rất thành thạo các
kỹ năng cần thiết cho hoạt động thực thi công vụ; 46,95% là thành
thạo; 36,64% chưa thành thạo và 15% còn yếu. Kỹ năng công chức
cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam đạt mức độ từ thành
thạo trở lên cao là kỹ năng phối hợp trong công tác (hơn 84%).
điều kiện nâng cao trình độ (cử đi đào tạo sau đại học); bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ (hành chính và quản lý nhà nước, tin học,
ngoại ngữ, các lớp về phương pháp sư phạm hiện đại). Tỉnh cũng
quan tâm xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức.
- Công tác quy hoạch, ĐTBD được quán triệt đến các cấp, các
ngành, cấp ủy, chính quyền các địa phương, đơn vị theo đúng các
quy định, chính sách về công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước.
- Việc tạo nguồn công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là
sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng là con em đồng bào dân tộc
sinh sống tại địa phương, nguồn học sinh, sinh viên cử tuyển được
16
quan tâm.
- Các cơ sở ĐTBD trong tỉnh và đội ngũ CCCX người DTTS
đã có nhiều cố gắng trong việc dạy và học; nội dung, chương trình
từng bước đã được nghiên cứu, đổi mới hơn.
2.4.2.2. Những tồn tại, hạn chế
- Công tác khảo sát thực trạng và nhu cầu ĐTBD của từng vị
trí, chức danh công chức và của từng địa phương chưa được quan
tâm đúng mức.
- Việc ĐTBD công chức chỉ mới tập trung vào một số công
chức trong diện quy hoạch, chưa chú trọng đến các đối tượng khác.
- Cơ sở vật chất trang bị cho các cơ sở ĐTBD còn hạn chế.
- Đội ngũ giảng viên tham gia ĐTBD CCCX người DTTS số
lượng ít, cơ cấu ngành chưa hợp lý và hầu như không biết tiếng dân tộc.
- Chương trình, tài liệu giảng dạy còn lạc hậu, chậm đổi mới,
nội dung trùng lặp, nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành và
tổng kết thực tiễn.
- Việc ban hành cơ chế, chính sách quy định riêng đối với
bảo thực hiện tốt quy trình ĐTBD nên hiệu quả không cao.
- Chưa có cơ chế, chính sách riêng đối với CBCC cấp xã người
dân tộc thiểu số.
CHƢƠNG 3
CÁC PHƢƠNG ÁN HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ
3.1. Quan điểm, định hƣớng hoàn thiện các giải pháp chính
sách đào tạo, bồi dƣỡng công chức cấp xã ngƣời dân tộc thiểu số
3.1.1. Quan điểm hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo,
bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
Việc hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
18
chức cấp xã người dân tộc thiểu số hiện nay cần tiếp tục quán triệt
sâu sắc quan điểm đã xác định tại Nghị quyết số 03 (khóa VIII) ngày
18/6/1997 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Chiến lược cán
bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và được tiếp tục khẳng
định tại Kết luận số 37-NQ/TW ngày 02/02/2009 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh chiến lược cán
bộ thời kỳ CNH, HĐH đất nước”. Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Hội nghị lần thứ 7 về công
tác dân tộc đã xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu và cấp
bách của công tác dân tộc trong tình hình mới là “Củng cố và nâng
cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số”.
Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh “rà soát, sửa đổi, bổ sung
chính sách đối với CB, CC; xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ, thu
hút, trọng dụng nhân tài”.
3.1.2. Định hướng hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo,
cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, củng cố hệ
thống chính trị cơ sở.
3.2. Hoàn thiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi
dƣỡng công chức cấp xã ngƣời dân tộc thiểu số
3.2.1. Giải pháp chính sách về quy hoạch, xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
3.2.1.1. Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ
Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ sẽ góp phần quan trọng vào
việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC đồng bộ,
có chất lượng, đảm bảo tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ CBCC,
giúp chủ động được nguồn cán bộ lâu dài, làm cơ sở quan trọng trong
công tác ĐTBD.
3.2.1.2. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Kế hoạch ĐTBD là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác
20
ĐTBD đội ngũ CCCX người DTTS có hiệu quả. Việc lập kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng là rất quan trọng, là chìa khóa cho công tác cán bộ
của Đảng và Nhà nước.
3.2.2. Giải pháp chính sách về xây dựng và phát triển cơ sở
đào tạo, bồi dưỡng
Các cơ sở ĐTBD cần bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu của một
Trường, Viện, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện đại. Do
đó, cần: Tiếp tục đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các cơ sở
ĐTBD, đáp ứng yêu cầu dạy, học theo phương pháp mới, sử dụng
các phương pháp trao đổi tích cực. Cần giới hạn số lượng học viên
cho từng lớp học cho phù hợp với việc áp dụng phương pháp ĐTBD.
Tiếp tục quan tâm, dành nguồn kinh phí theo kế hoạch để đầu
tư, cung cấp trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo.
14/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển đội
ngũ CBCCVC người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới. Chương
trình, bộ tài liệu cần nghiên cứu đổi mới, bổ sung nội dung theo
hướng bám sát thực tiễn, tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng theo nhu
cầu người học, khắc phục tình trạng lý thuyết trùng lặp.
Do trình độ đội ngũ CCCX người DTTS hạn chế nên việc tổ
chức giảng dạy cũng phải có những phương pháp đặc thù, khác với
các đối tượng khác. Nội dung kiến thức vừa đủ, tinh giản nội dung để
trang bị cho họ những kiến thức cơ bản có tính cốt lõi nhất của từng
môn học, đặc biệt chú ý đến việc rèn luyện năng lực diễn đạt tư
tưởng, để làm quen với công việc của họ ở cơ sở sau này bằng cách
đầu tư nhiều công sức, dành thời lượng lớn cho việc áp dụng các
phương pháp đóng vai, xử lý tình huống, thảo luận môn học,... Cần
chú ý giảm bớt lý thuyết và tăng thời lượng thực hành, cách xử lý các
tình huống hành chính, cách xử lý văn bản, cách đọc hiểu, áp dụng
văn bản đối với đối tượng quản lý. Cần quan tâm nghiên cứu, phát
22
huy phương pháp giảng dạy kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
3.2.5. Giải pháp về cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ
đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
Xây dựng quy chế quản lý về ĐTBD CBCC, nhằm đảm bảo sự
thống nhất. Quy chế cần có chương, điều riêng để quy định cụ thể đối
với công chức cấp xã người DTTS; quy chế quản lý ĐTBD CBCC
của từng địa phương phải phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của
địa phương đó để công tác ĐTBD CBCC được tiến hành thuận
lợi.Việc xây dựng quy chế ĐTBD giúp công tác ĐTBD CBCC nói
chung, đội ngũ CCCX người DTTS nói riêng đi vào nền nếp.
Cần xây dựng cơ chế chính sách đặc thù trong công tác đào
sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số; tập
trung nghiên cứu thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo,
bồi dưỡng công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng
Nam; cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn; đề xuất các
phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã người dân tộc thiểu số hiện nay.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, tuy nhiên thời
gian nghiên cứu ngắn nên việc thu thập thông tin cũng gặp nhiều khó
khăn, hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Vì vậy, học viên rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý
thầy, cô giáo, các nhà nghiên cứu khoa học để luận văn được hoàn
thiện hơn, góp phần xây dựng và hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong thời gian đến./.
24