Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành:Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Hà Nội - 2019



............................................................................................................... 30
2.1. Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt
Nam…………………………………………………………………….

30

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam……………………………………………………………

41

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TỔ
CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC

ĂN

CHĂN

NUÔI



VIỆT

NAM

...................................................................... 577
3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn

tư trực tiếp nước ngoài Quy

QCKT

chuẩn kỹ thuật

PTNT

Phát triển nông thôn

KCS

Kiểm tra chất lượng sản phẩm


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số liệu sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp giai đoạn
2009-2018 ................................................................................................. 43
Bảng 2.2. Sản lượng thức ăn chăn nuôi theo chủng loại năm 2016-2018
(triệu tấn) ......................................................................................... 43
Bảng 2.3: Tổng nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nội địa và nhập
khẩu năm 2018 (nghìn tấn) ............................................................. 44
Bảng 2.4. Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu được phép lưu
hành tại Việt Nam (tính đến 28/02/2018) ....................................... 44
Bảng 2.5.Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nướcđược
phép lưu hành tại Việt Nam, đăng kýnăm 2017, 2018 ................... 44
Bảng 2.6. Số liệu các hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi qua Cổng hải
quan một cửa quốc gia (năm 2017, 2018)
............................................... 45
Bảng 2.7: Danh mục bổ sung hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản

thôn, góp phần từng bước làm giàu cho người dân và xã hội.
Cùng với sự tăng trưởng liên tục của ngành chăn nuôi, lĩnh vực thức ăn
gia súc, gia cầm có bước phát triển vô cùng mạnh mẽ. Năm 2017, nhu cầu sử
dụng thức ăn trong chăn nuôi lên đến 22 triệu tấn các loại (bao gồm thức ăn
sản xuất trong nước và thức ăn nhập khẩu), năm 2018 là 25 triệu tấn. Cơ cấu
1


chi phí trong chăn nuôi gồm có giống, thức ăn, thuốc thú y, lao động…trong
đó,

2


thức ăn chiếm đến 70-80% tổng chi phí.Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước
đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi là vô cùng quan trọng. Hiện
nay, hoạt động này ở Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật
chuyên ngànhnhư: Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính
phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, có hiệu lực từ ngày 20/5/2017 (sau
đây gọi tắt là Nghị định số 39); Thông tư số 20/2017/TT-BNNPTNT ngày
10/11/2017 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39 và được thể chế hoá trong
các văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Thương mại 2004, Luật Chất
lượng sản phẩm hàng hoá 2007, Luật Đầu tư năm 2015, Nghị định số
43/2017/NĐ- CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa,
Nghị định số
123/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định
về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị định số
64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản…
Trong số các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, có thể nhận thấy

ăn chăn nuôi, thuỷ sản do Chính phủ ban hành khắc phục được một số hạn
chế, bất cập của văn bản trước đó là Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày
05/02/2010 nhưng về thực chất, điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi vẫn
còn nhiều vấn đề chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa hợp lý cần
được rà soát, đánh giá để hoàn thiệnkhung pháp lý về điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với các lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề:“Điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ ngành luật kinh tế, với mong muốn góp phần đánh giá thực
trạng và từ đóđề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp luật về điều kiện
kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên
4


quan đến thức ăn chăn nuôi và kinh doanh thức ăn chăn nuôi (kể cả các luận
văn thạc sỹ) nhưng có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu từ góc độ pháp
lý về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi còn rất hạn chế.
Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu
biểu sau đây có đề cập đến vấn đề kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung và
điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng:
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Toàn với đề tài: “ Phát triển
thị trường thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Thành
Lợi”.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trương Thùy Vinh với đề tài: “Nghiên
cứu phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi của Công ty Cổ phần Chăn nuôi
Charoen Pokphand trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vũ Ninh với đề tài: “Quản lý
nhà

Từ kết quả thống kê tình hình nghiên cứu như trên đây, có thể thấy rằng
các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận từ góc độ kinh tế hay góc
độ quản lý thức ăn chăn nuôi và hầu như có rất ít nghiên cứu về điều kiện kinh
doanh thức ăn chăn nuôi từ góc độ pháp lý. Chính vì thế, luận văn với đề tài:
“Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện
nay” là một đề tài nghiên cứu có tính mới và được tiếp cận từ góc độ pháp lý,
đáp ứng được các yêu cầu của Quy chế hiện hành về luận văn thạc sỹ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài làlàm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp
lývề
điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất
các giải pháp hoàn thiện khungpháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôiở Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm đạt được mục đích nói trên là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện kinh doanh thức
ăn chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
- Nghiên cứu, đánh giá khung pháp lý hiện hành về điều kiện kinh
doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bằng cách chỉ ra các hạn chế, bất cập
của các quy định này từ thực tiễn thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện kinh
doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, lý thuyết về kinh
7


doanh thức ăn chăn nuôi và điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi; các quy
định pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thực tiễn thực
hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi; các giải pháp liên
quan đến hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

nuôi và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC
ĂN CHĂN NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
1.1. Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của kinh doanh thức ăn chăn nuôi
Trước hết, để làm rõ khái niệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi, cần bắt
đầu từ việc làm rõ khái niệm tiền đề là “thức ăn chăn nuôi”.
Thực tiễn cho thấy kể từ khi loài người xuất hiện, tổ tiên của chúng ta
đã chăn nuôi gia súc gia cầm, gắn liền với hoạt động săn bắt, hái lượm. Từ
quá trình tìm kiếm, lựa chọn thức ăn để sống, từ những quan sát và bắt chước
các loài động vật hoang dại, con người đã biết tìm ra các loại rau, hoa quả có
trong tự nhiên để nuôi sống bản thân và cho vật nuôi ăn.
Cùng với sự phát triển của nghề chăn nuôi và sự gia tăng mối quan tâm
của con người đến động vật, vai trò của thức ăn chăn nuôi ngày càng được coi
trọng. Chi phí cho chăn nuôi gồm 3 yếu tố chính, đó là con giống, thuốc thú y,
thức ăn,trong đó, chi phí cho thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 70%.
Việc sử dụng thức ăn không chỉ trực tiếp tác động đến năng suất, chất lượng
vật nuôi mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Theo sự phát
triển của khoa học công nghệ và nhu cầu thực tiễn, các loại thức ăn chăn nuôi
ngày càng phong phú, đa dạng.
Theo Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), tất cả nhữnggì màgia súc ăn
vào hoặccó thể ăn vào đượcmà có tác dụngtích cực đối với quá trình traođổi

duy trì sự sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh
trưởng hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức
ăn chăn nuôi, thủy sản có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật
nuôi và dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp
hoàn chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc hỗn hợp của nhiều nguyên

11


liệu cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho
cơ thể vật

12


nuôi.Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hoặc thức ăn đơn là thức ăn dùng để cung
cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi.Phụ gia
thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung
vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến, xử lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng hoặc duy trì, cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi.Chất
mang là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng
không ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi.
Premix kháng sinh là hỗn hợp gồm không quá 02 loại kháng sinh được
phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm mục đích kích
thích sinh trưởng với tổng hàm lượng kháng sinh không lớn hơn 20%.[12, tr.2,
3]
Như vậy, có thể cho rằng thức ăn chăn nuôi là một loại hàng hóa rất đặc
biệt, bởi lẽ nó có những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn
nuôi và từ đó tác động đến sức khỏe con người. Chính vì thế, việc quản lý đối
với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trở thành vấn đề bức thiết ở bất

đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm.
Mặt khác,kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng như kinh doanh tất cả các
loại hàng hóa khác trên thị trường, vốn dĩ chịu tác động, ảnh hưởng của các
quy luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh…
Tuy vậy, về phương diện lý thuyết, có thể thấy rằng hoạt động kinh
doanh thức ăn chăn nuôi có một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất,hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có đối tượng kinh
doanh là thức ăn chăn nuôi - một loại hàng hóa rất đặc biệt, có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và qua đó tác động trực tiếp đến sức
khỏe của con người trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc quản lý đối với
hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trở thành nhu cầu bức thiết và một
trong số các quy định về quản lý thức ăn chăn nuôi chính là quy định về điều
kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Thứ hai, hoạt độngkinh doanh thức ăn chăn nuôi là loại hình kinh doanh
15


có điều kiện. Đặc điểm này xuất phát từ tình trạng thực tế là do, thức ăn chăn
nuôi là một loại hàng hóa đặc biệt (hàng hoá nhóm 2 theo Điều 3, Luật Chất
lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007), là hàng hóa có khả năng gây mất an
toàn trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng
mục đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản,
môi trường. Để đảm bảo an toàn cho việc sản xuất kinh doanh các sản phẩm
chăn nuôi và qua đó bảo vệ sức khỏe con người, pháp luật các nước đều có
quy định rất rõ về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[26, tr.1]
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi
Để làm rõ khái niệm và đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi, trước hết cần làm rõ khái niệm “điều kiện kinh doanh” là gì?.
Theo Từ điển Tiếng Việt, điều kiện là “cái cần phải có để cho một cái

2014, theo đó: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề
mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp
ứng
điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo
đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 7, Luật Đầu tư 2014, nhà làm luật cũng
liệt kê243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.Các điều kiện kinh doanh này
chỉ có thể được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các cơ quan
nhà nước khác như, Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân các cấp, cơ quan, tổ chức, các nhân khác không được ban hành quy định
về điều kiện kinh doanh”.[28, tr.4]
Có thể nhận thấy rằng, các quy định về điều kiện kinh doanhnhằm tạo
hiệu quả và tối ưu hóa việc nhà nước quản lý hoạt động kinh tế, tạo lập nên
một khung pháp lý an toàn và hiệu quả để các chủ thể kinh doanh đảm bảo
quyền tự do kinh doanh. Thông qua các chế định pháp luật về điều kiện kinh
doanh, Nhà nước có thể điều tiết được hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữ
được sự phát triển ổn định bền vững cho nền kinh tế.
Từ các phân tích nên trên về điều kiện kinh doanh, có thể đưa ra khái
niệm về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:
Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là những yêu cầu đặt ra từ
phía Nhà nước mà các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải có hoặc
phải thực hiện khi kinh doanh thức ăn chăn nuôi, được thể hiện bằng giấy
18


phép kinh doanh thức ăn chăn nuôi, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh thức ăn

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status