KHẢO sát TÌNH TRẠNG TRẦM cảm, LO âu và STRESS ở CHA, mẹ TRẺ tự kỷ - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

VILAYPHONE CHITTAVONG

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG TRẦM CẢM,
LO ÂU VÀ STRESS Ở CHA, MẸ TRẺ TỰ KỶ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

VILAYPHONE CHITTAVONG

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG TRẦM CẢM,
LO ÂU VÀ STRESS Ở CHA, MẸ TRẺ TỰ KỶ
Chuyên ngành: Nhi khoa
Mã số: 60720135
LUẬN VẶN THẠC SĨ Y KHOA

Người hướng dẫn khoa học:

Disorders – Fifth Revision

GAS :

General Adaptation syndrome

ICD-10 :

International Classification of Diseases, Tenth Revision

M-CHAT :

Modifier Check – list Autism in Toddler

NVYT :

Nhân viên y tế

RLLA :

Rối loạn lo âu

RLTC :

Rối loạn trầm cảm

SAS :

Self Rating Anxiety Scale


2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.........................................................18
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu........................................................................18
2.2.2. Thời gian nghiên cứu.......................................................................18
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................19
2.3.1. Loại hình nghiên cứu.......................................................................19


2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu................................................19
2.3.3. Các biến số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá..................................19
2.3.4. Công cụ nghiên cứu.........................................................................21
2.4. Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu.....................................23
2.4.1. Phương pháp tiến hành thu thập số liệu.........................................23
2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu...............................................................25
2.5. Đạo đức nghiên cứu................................................................................25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................26
3.1. Đặc điểm của cha/ mẹ trẻ tự kỷ.............................................................26
3.1.1. Phân bố tuổi cha/ mẹ trẻ tự kỷ.........................................................26
3.1.2. Phân bố giới tính và khu vực sống của cha mẹ trẻ tự kỷ...............27
3.1.3. Đặc điểm tình trạng hôn nhân.........................................................27
3.1.4. Đặc điểm nghề nghiệp của cha/ mẹ trẻ tự kỷ..................................28
3.1.5. Đặc điểm trình độ văn hóa...............................................................28
3.1.6. Nguồn thông tin của cha mẹ đã tìm hiểu về bệnh tự kỷ.................29
3.2. Đặc điểm của trẻ tự kỷ...........................................................................30
3.3. Tình trạng stress, trầm cảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ................31
3.3.1. Trạng thái tâm lý của cha mẹ trẻ tự kỷ............................................31
3.3.2. Đặc điểm stress, trầm cảm, lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ..................32
3.3.3. Mối tương quan giữa stress, trầm cảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ.35
3.4. Một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ
.........................................................................................................................35
3.4.1. Mối liên quan giữa stress, trầm cảm và lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ với

Các triệu chứng stress của cha mẹ trẻ tự kỷ khảo sát bằng DASS 21....32

Bảng 3.9. Tỷ lệ và mức độ stress ở cha/ mẹ trẻ tự kỷ xác định qua DASS...32
Bảng 3.10. Triệu chứng trầm cảm của cha mẹ khảo sát qua DASS 21...............33
Bảng 3.11. Tỷ lệ và mức độ trầm cảm ở cha/ mẹ trẻ tự kỷ xác định qua DASS. .33
Bảng 3.12. Triệu chứng lo âu của cha mẹ khảo sát bằng DASS 21...............34
Bảng 3.13. Tỷ lệ và mức độ lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ xác định bằng DASS 21..34
Bảng 3.14. Mối tương quan giữa stress, trầm cảm, lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ. .35
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng stress, trầm cảm, lo âu...35
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa tuổi cha mẹ và rối loạn trầm cảm, lo âu và stress. 36
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa khu vực sống với trầm cảm, lo âu và stress
của cha mẹ trẻ tự kỷ.....................................................................36
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa trình độ văn hóa của cha mẹ và trầm cảm, lo
âu và stress...................................................................................37
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin của cha mẹ và rối
loạn stress, trầm cảm và lo âu......................................................37
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa mức độ tự kỷ của con và rối loạn trầm cảm, lo
âu và stress của cha/ mẹ...............................................................38


Bảng 3.21. Mối liên quan giữa tuổi hiện tại của trẻ tự kỷ và rối loạn trầm
cảm, lo âu và stress của cha mẹ ..................................................38
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa tuổi chẩn đoán của trẻ tự kỷ và rối loạn trầm
cảm, lo âu và stress của cha mẹ...................................................39
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thời gian đã được chẩn đoán tự kỷ và rối
loạn trầm cảm, lo âu và stress của cha mẹ..................................39
Bảng 3.24. Mối liên quan giữa thể tự kỷ của trẻ tự kỷ và rối loạn trầm cảm, lo
âu và stress của cha mẹ................................................................40



và kiên trì. Trước đây, mô hình can thiệp tập trung chủ yếu ở các trung tâm,
cơ sở chuyên biệt. Hiện nay, can thiệp và điều trị tự kỷ được xây dựng theo
mô hình phối hợp đa ngành mà cốt lõi là tại gia đình với sự tham gia chủ yếu
của cha mẹ. Bởi vậy, cha mẹ là người có vai trò trung tâm và quan trọng trong
quá trình can thiệp, điều trị cho trẻ tự kỷ [5]. Thực tế, chấp nhận có một đứa
con bị khuyết tật phát triển, can thiệp và chăm sóc cho một trẻ tự kỷ thực sự là
một thách thức rất lớn, một gánh nặng lớn cho mỗi gia đình yêu cầu cha mẹ
cần có một trạng thái tâm lý vững vàng, một thái độ tích cực để đi cùng con
trong suốt chặng đường khó khăn.


2

Tuy nhiên, khi các bác sỹ chẩn đoán và thông báo về kết quả trẻ bị mắc
chứng tự kỷ, thường phản ứng đầu tiên của cha mẹ sẽ rơi vào trạng thái cảm
xúc rất nặng nề như sốc, đau khổ, hoang mang... Sự thay đổi về mặt nhận
thức, thái độ, cảm xúc và hành vi của cha mẹ có nhiều mức độ khác nhau ở
những thời điểm khác nhau và có thể tồn tại dai dẳng [5], [6]. Trong nhóm trẻ
khuyết tật, căng thẳng của cha mẹ trẻ tự kỷ đã được chứng minh xuất hiện với
tỷ lệ cao hơn và có mối liên quan lớn hơn đến các vấn đề về hành vi của trẻ tự
kỷ so với chậm phát triển Baker và cộng sự (2003) [7]. Gần đây, KoushaM. và
CS (2016) nghiên cứu trên 127 các bà mẹ Iran có con bị tự kỷ, ghi nhận
72,4% có mức độ lo lắng cao và 49,6% có rối loạn trầm cảm [8]. Rất nhiều
kết quả khảo sát cho thấy cha mẹ trẻ tự kỷ cần được quan tâm hỗ trợ để thích
ứng và phát triển các cảm xúc tích cực, xây dựng chiến lược ứng phó trong
suốt quá trình đồng hành cùng con bị tự kỷ, để có thể thực hiện được tốt nhất
nhiệm vụ can thiệp, chăm sóc cho con tại gia đình.
Tại Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu về trạng thái căng thẳng, stress, trầm
cảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ chưa được quan tâm nhiều, mặc dù đã xác
định rõ là can thiệp tự kỷ phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ và bước đầu tiên của

Năm 1911, Eugen Blueler – nhà tâm lý học người Thụy Sỹ - là người
đầu tiên đưa ra thuật ngữ Tự kỷ (Autism). Autism có nguồn gốc từ “Autos”
trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tự thân”, trong thời điểm đó tự kỷ được xem
như một dạng của tâm thần phân liệt [13]. Năm 1943, Leo Kanner, bác sỹ tâm
thần người Mỹ đã chấp nhận thuật ngữ “tự kỷ” từ Eugene Bleuler (1911) [14].
Leo Kanner mô tả tự kỷ là thiếu quan hệ tiếp xúc về tình cảm, có những thói
quen và hành vi lặp đi lặp lại, ngôn ngữ bất thường, khó khăn trong học tập và
hành động chơi giả vờ,...các triệu chứng này có thể được phát hiện trong vòng
3 năm đầu đời

[15]. Năm 1944,Hans Asperger, bác sỹ tâm thần người

Áo(Austria) cũng được độc lập sử dụng thuật ngữ Autism để mô tả vấn đề của
nhóm trẻ trai mà ông làm việc. Đến nay, chúng ta gọi biểu hiện đó là triệu
chứng của Hội chứng Asperger [16].


4

Trên thế giới, chẩn đoán tự kỷ được dựa trên Hướng dẫn chẩn đoán và
thống kê rối loạn tâm thần - ấn bản thứ tư (DSM-IV) và Phân loại quốc tế về
bệnh tật theo Tổ chức y tế thế giới (ICD-10) [17], đưa ra các tiêu chuẩn chẩn
đoán rõ ràng, chi tiết cho rối loạn phổ tự kỷ và được phân loại trong nhóm rối
loạn phát triển lan tỏa. Năm 2012, sau một quá trình tái bản và chỉnh sửa
nhiều lần, DSM-5 ra đời và được công bố chính thức năm 2013, chính thức
xếp mã chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ, bao gồm rối loạn tự kỷ điển hình và
không điển hình [18].
1.1.3. Dịch tễ
Tại Mỹ, theo báo cáo của Trung tâm dự phòng và kiểm soát bệnh tật, số
liệu khảo sát năm 2002 cho biết tỷ lệ tự kỷ là 1/150 trẻ, nhưng đến năm 2012

Bằng chứng cho thấy thời gian can thiệp sớm cần thiết cho trẻ tự kỷ sau 1
năm can thiệp tích cực, liên tục (40 giờ trong tuần), trẻ có sự cải thiện rõ rệt.
Quá trình tác động can thiệp sớm tích cực cần kéo dài 2 – 3 năm, liên tục,
hàng ngày mới mang lại kết quả tốt nhất cho trẻ [25].
 Hình thức can thiệp
Dựa vào gia đình và nhà trường hòa nhập với các phương pháp: điều
hòa đa giác quan, dạy các kỹ năng vận động tinh và vận động thô, kỹ năng
giao tiếp bằng lời và không lời, chơi trị liệu, dạy kỹ năng tự lập trong sinh
hoạt; áp dụng các liệu pháp hành vi xuyên suốt trong quá trình dạy trẻ như
củng cố tích cực với hành vi tốt, chia nhỏ nhiệm vụ và kiểm soát kết hợp sửa
chỉnh khi trẻ có hành vi không mong muốn, thách thức chống đối… [26]
 Trị liệu tại trung tâm:


6

Giáo dục đặc biệt kết hợp tâm vận động, điều hòa cảm giác, giác quan.
Mô hình can thiệp thường gồm có hai hình thức: Trị liệu theo nhóm và trị
liệu cá nhân. Hình thức can thiệp cá nhân đang được áp dụng nhiều tại các
Trung tâm can thiệp tự kỷ. Đối với trẻ tự kỷ, phối hợp nhiều phương pháp
trẻ có cơ hội cải thiện hơn là trị liệu với phương pháp nhất định. Trị liệu cá
nhân đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện về hành vi thích ứng, tăng
cường khả năng tập trung, khả năng nhận thức của trẻ và kiểm soát hành vi
thuận lợi hơn.
 Trị liệu tại nhà:
-

Giáo dục đặc biệt tại nhà:
Trẻ tự kỷ cần chương trình học tập thích hợp với khả năng và xu hướng


một phần chương trình giáo dục, sửa chỉnh hành vi thích ứng vì cha mẹ là
người rất gần gũi và quan trọng đối với trẻ mắc chứng tự kỷ. Vì vậy sự tiến bộ
của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ.
Cha mẹ là người tham gia vào gói can thiệp:"không ai khác, Bạn chính
là chuyên gia can thiệp tốt nhất cho chính đứa con của Bạn". Đây là chương
trình can thiệp dành cho người tự kỷ được hình thành và phát triển bởi phụ
huynh, do phụ huynh, vì phụ huynh [28].
Qúa trình can thiệp đòi hỏi cha mẹ phải dành nhiều thời gian dạy trẻ,
bởi vì các hoạt động dạy trẻ chủ yếu diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của
trẻ và cộng thêm với số giờ trẻ cần được can thiệp [28]. Các chương trình can
thiệp được lựa chọn dựa trên khả năng hiện tại của trẻ, kết hợp với nhu cầu và
khả năng thực tế của gia đình để lên kế hoạch chương trình can thiệp. Các
chương trình này đặt ra mục tiêu dài hạn và được chia nhỏ thành các mục tiêu
ngắn hạn (6 tháng, 3 tháng, 1 tháng, từng tuần, từng ngày-từng buổi học) [25].
Vai trò của cha mẹ trẻ tự kỷ trong việc chăm sóc trẻ cần có cả sự thích
ứng tốt thể hiện ở mặt nhận thức, thái độ và cảm xúc của người mẹ. Điều này
sẽ đem lại cho họ sự thoải mái, vui vẻ, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn,
thử thách trong cuộc sống để có được một gia đình hạnh phúc [29].


8

Cha mẹ là người quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ. Điều này
có ý nghĩa với việc can thiệp sớm, các chuyên gia y tế cần phải cung cấp kiến
thức, hướng dẫn cha mẹ cách chăm sóc, giáo dục trẻ. Cha mẹ không chỉ là
người thường xuyên tiếp xúc với trẻ nhiều hơn so với giáo viên hay chuyên
gia y tế mà còn là người hiểu trẻ nhất, chăm sóc trẻ bằng cả tình yêu thương
của mình. Ở Việt Nam, chúng ta cần xem xét thêm vai trò của ông bà, và các
thành viên khác trong gia đình, bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo
dục trẻ [26], [25].

1.2.2.1. Khái niệm
Lo âu là phản ứng tâm lý của con người trước những khó khăn, tình
huống, mối đe dọa của môi trường tự nhiên, xã hội. Lo âu thường diễn ra
trong một thời gian ngắn, giảm dần khi con người có đáp ứng thích nghi. Lo
âu biểu hiện ở ba mặt: mặt nhận thức (sợ chết, có mối nguy hiểm mơ hồ…);
cơ thể (biểu hiện của các rối loạn thần kinh thực vật); tâm lý (căng thẳng, kém
tập trung, mất ngủ, hành vi chống đối, rối loạn ứng xử …).
Rối loạn lo âu (RLLA) là phản ứng lo âu bệnh lý được xác định chẩn
đoán khi xuất hiện bất thường biểu hiện lo âu quá mức, mơ hồ, không liên
quan đến một chủ đề rõ ràng. RLLA thường lặp đi lặp lại với nhiều triệu
chứng cơ thể như: hồi hộp, đánh trống ngực, chóng mặt, khô miệng, vã mồ
hôi, tay chân lạnh… và kéo dài gây ảnh hưởng tới chức năng học tập, lao
động và thích nghi với cuộc sống [31].
1.2.2.2. Phân loại lo âu
Theo hệ thống phân loại rối loạn tâm thần sửa đổi lần thứ 4 của Hoa kỳ
(DSM – IV) [32], các dạng của rối loạn lo âu đươc phân loại bao gồm:
- Rối loạn lo âu không định hình (300.00)
- Rối loạn hoảng sợ:


10

+ Không bao gồm sợ khoảng trống (300.01)
+ Có bao gồm sợ khoảng trống (300.21)
- Rối loạn lo âu lan tỏa (300.02)
- Rối loạn lo âu chia ly (309.21)
- Rối loạn ám ảnh sợ xã hội (300.32)
- Rối loạn ám ảnh sợ đặc hiệu (300.29)
1.2.2.3. Biểu hiện lâm sàng
- Về cơ thể: chủ yếu là rối loạn thần kinh thực vật

mẽ với những lý do rất nhỏ hoặc không đáng kể.
+ Mất sự quan tâm thích thú: Mất sự quan tâm ham thích với các hoạt
động thường ngày vẫn từng gây thích thú.
+ Giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi.
 Các triệu chứng phổ biến:
+ Giảm tập trung chú ý: Khó tập trung chú ý, khó tiếp thu trong học tập,
quá trình này có thể diễn ra từ từ hoặc nhanh chóng.
+ Giảm tính tự trọng và lòng tự tin.
+ Ý tưởng bị tội và không xứng đáng.
+ Nhìn tương lai ảm đạm và bi quan.
+ Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát.
+ Rối loạn giấc ngủ.
+ Rối loạn ăn uống.


12

 Các triệu chứng khác:
Có thể gặp trong trầm cảm nặng đó là sững sờ, hoang tưởng (nội dung
hoang tưởng thường là bị tội, không xứng đáng, bị truy hại hoặc không tồn
tại), ảo giác (thường gặp ảo thanh buộc tội…).
 Các triệu chứng sinh học trong trầm cảm nặng:
Giảm 5% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng, khí sắc giảm về buổi sáng,
chậm chạp tâm lý vận động và thức giấc sớm, rối loạn kinh nguyệt ở nữ [34].
1.2.3.3. Mức độ của rối loạn trâm cảm: gồm 3 mức độ theo ICD-10
* Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm nhẹ
- Ít nhất có 2/3 triệu chứng đặc trưng, kèm theo ít nhất có 2/7 triệu chứng
phổ biến (tổng số ít nhất là 4 triệu chứng)
- Kéo dài ít nhất 2 tuần (thời gian quyết định chẩn đoán có thể ngắn hơn
nếu triệu chứng nặng bất thường và khởi phát nhanh)

cuộc phỏng vấn của nhà lâm sàng và các triệu chứng khó bộc lộ của người
bệnh, ngoài ra chúng còn có vai trò làm tăng thêm niềm tin của bệnh nhân đối
với thầy thuốc và bản thân chúng chính là liệu pháp tâm lý có hiệu quả.
Hiện tại, có rất nhiều thang đo tâm lý được sử dụng trong lâm sàng tâm
thần học để lượng giá một cách khách quan hơn về lo âu, trầm cảm và stress.
Thang đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory – BDI).
BDI được xây dựng vào năm 1961, được chuẩn hóa vào năm 1969 và đăng ký
bản quyền vào năm 1979. Phiên bản hai của trắc nghiệm này (BDI-II) được
xây dựng theo những sửa đổi trong Phiên bản sửa đổi lần thứ tư của Sổ tay


14

Thống kê và Chẩn đoán các Rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ
(DSM-IV-TR) [35]. Thang này có 21 đề mục, mỗi đề mục gồm bốn câu lựa
chọn. Mỗi câu lựa chọn được ấn định một điểm từ 0 đến 3, chỉ báo mức độ
của triệu chứng.
Thang đánh giá lo âu của Zung (Zung Self-Rating Anxiety Scale – SAS)
thang này dược xây dựng năm 1971. Trong thang này có 20 đề mục sử dụng
để người bệnh tự trả lời [36].
Thang BDI và SAS cũng đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng ở
nhiều năm tại các cơ sở khám và điều trị bệnh tâm thần, đồng thời sử dụng
trong nhiều nghiên cứu [37], [38]
Thang đánh giá về stress, lo âu và trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và
DASS 21) là một thang đo đánh giá được tổng hợp cả ba vấn đề sức khỏe tâm
thần phổ biến hiện nay là stress, lo âu và trầm cảm [50]. Thang đã được một
tác giả người Việt tại Úc dịch sang tiếng Việt, sau đó được một nhóm nghiên
cứu tiến hành nghiên cứu ở phụ nữ Thái bình, đánh giá về tính hiệu quả, độ
tin cậy và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam.
Nguyên cứu trong 221 phụ nữ, kết quả của mỗi ba thang điểm phụ và kết

có nguy cơ căng thẳng cao gấp 4,3 lần (KTC 95% 1,9 – 9,4) so với nhóm so
sánh [41].
1.4. Tình hình nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở cha mẹ trẻ tự kỷ
trên thế giới và Việt Nam
Các vấn đề stress, lo âu và trầm cảm đã được tiến hành nghiên cứu rất
nhiều ở các nước trên thế giới được áp dụng các phương pháp và tiêu chuẩn
khác nhau.
Nghiên cứu của A. Jose, S. Gupta, S. Gulati và cộng sự (2017) cho biết
trong 125 bà mẹ tham gia nghiên cứu, có hơn ba phần tư (76,8%) báo cáo có


16

biểu hiện trầm cảm. Mức độ trầm cảm trong các bà mẹ có liên quan đáng kể
đến sức khỏe thể chất và chất lượng cuộc sống của họ. Các bà mẹ có con bị tự
kỷ nặng (44,8%) có mứ c độ trầm cảm cao hơn các bà mẹ có trẻ tự kỷ mức độ
trung bình (29,6%) và mức độ nhẹ (25,6%) [42].
Một nghiên cứu khác được Davis và cộng sự tiến hành trên 54 gia đình
với 108 cha mẹ của những trẻ trong 3 tháng đầu mới được chẩn đoán tự kỷ
cho thấy: Tỷ lệ stress gặp ở 19% , trầm cảm gặp ở 25% và lo âu gặp ở 12% số
cha mẹ [43].
Một nghiên cứu mới đây của A. Rayan và M. Ahmad và cộng sự (2017)
tại Jordani tiến hành khảo sát 104 người cha / mẹ trẻ tự kỷ (31 người là cha
của trẻ). Tuổi trung bình của cha / mẹ là 36 tuổi. Kết quả cho thấy cha/mẹ
tham gia nghiên cứu có mức trầm cảm, lo âu và stress cao hơn bình thường
với tỷ lệ trầm cảm là 79,8%, lo âu là 85,6% và stress là 81,7% [44].
Cùng công bố năm 2017, M. Thullen và A. Bonsall (2017) báo cáo kết
quả trên 113 cha mẹ trẻ tự kỷ có tuổi trung bình là 39,9 ± 6,8 tuổi, 90% là mẹ
đẻ của trẻ. Tuổi trung bình của trẻ tự kỷ là 9,5 ± 2,5 tuổi, 81% là trẻ trai.
Nghiên cứu khảo sát bằng thang đo PSI-4-FS (Parenting Stress Inventory


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status