ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
MAI THỊ NHƯ QUỲNH
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM
CỦA CỰU SINH VIÊN NGÀNH KẾ TOÁN
ĐẠI HỌC AN GIANG
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Long Xuyên, tháng 05 năm 2007
ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hướng dẫn viên: Thạc sĩ Huỳnh Phú Thịnh
(Họ tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Giám khảo, nhận xét 1:
(Họ tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Giám khảo, nhận xét 2:
(Họ tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Đặt biệt, người đầu tiên tôi muốn tri ân nhất đó là thạc sĩ Huỳnh Phú
Thịnh, người đã rất nhiệt tình theo sát, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu.
Để hoàn thành khóa luận này, có những người không trực tiếp hướng dẫn
cách thức nghiên cứu nhưng đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện, đó chính là gia đình, bạn bè tôi. Đối với tôi đây là động lực rất
lớn để tôi có thể hoàn thành tốt quá trình nghiên cứu của mình, tôi xin gởi đến
họ lời cảm ơn chân thành nhất!
Mai Thị Như Quỳnh Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang ii
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
PHẦN TÓM TẮT
Theo kết quả thống kê của Cục thống kê An Giang năm 2005, số lượng lao động chỉ
đáp ứng đủ 66% nhu cầu lao động trong tỉnh trong khi đó không ít người lao động
phải… nằm nhà chơi vì không có việc làm. Tại sao lại có sự “lệch pha” như vậy? Vấn
đề được các doanh nghiệp giải đáp đó chính là chất lượng lao động. Theo tham khảo ý
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang iii
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
PHẦN TÓM TẮT ii
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
Chương 1: TỔNG QUAN
1. Giới thiệu chương 1 1
2. Cơ sở hình thành 1
3. Mục tiêu nghiên cứu 1
4. Phạm vi nghiên cứu 2
5. Ý nghĩa nghiên cứu 2
6. Kết cấu khóa luận 3
7. Kết luận chương 1 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Giới thiệu chương 2 4
2.Khái quát về chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp tại trường ĐH An Giang 4
3.Cơ sở lý thuyết 4
3.1.Việc làm là gì? 4
3.2.Thế nào là một việc làm tốt 5
3.3. Định nghĩa và đặc điểm của nghề nghiệp 5
3.4. Cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc 5
3.5. Thu nhập 6
4.Thực trang làm đúng ngành nghề đào tạo của sinh viên Việt Nam hiện nay 6
2.9.Khả năng thăng tiến 32
2.10. Cựu sinh viên và những khoá đào tạo thêm 34
3. Mối quan hệ giữa kết quả xếp loại tốt nghiệp và nghề nghiệp 34
3.1. Mối quan hệ xết quả xếp loại tốt nghiệp và chức vụ 34
3.2. Mối quan hệ giữa xếp loại tốt nghiệp và thu nhập 35
4. Mối quan hệ giữa làm thêm và nghề nghiệp 35
4.1. Những kỹ năng mà hoạt động làm thêm đem lại 37
4.2. Mối quan hệ làm thêm và thời gian chờ việc 38
4.3. Mối quan hệ làm thêm và khả năng hoà nhập 39
4.4. Mối quan hệ làm thêm và chức vụ 39
4.5. Mối quan hệ làm thêm và thu nhập hiện tại 40
5. Đánh giá mức độ thành công trong nghề nghiệp của các cựu sinh viên Kế toán 40
6. Kinh nghiệm, ý kiến đóng góp của cựu sinh viên cho công tác đào tạo 41
6.1. Đánh giá của cựu sinh viên về mức độ ứng dụng các kiến thức được học vào
thực tế công việc 41
6.2. Các kỹ năng phẫm chất cần thiết cho các Kế toán viên 42
6.3. Những đóng góp cho công tác đào tạo của trường 44
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang v
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Giới thiệu chương 5 45
2.Nhận xét chung 45
2.1. Bức tranh chung về tình trang việc làm của các cựu sinh viên 45
2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm 45
3.Kiến nghị 47
4. Hạn chế của đề tài 48
PHỤ LỤC 49
1. Tổng số sinh viên ba khóa 11
2. Thực trạng tốt nghiệp 12
3. Xếp loại tốt nghiệp 13
4. Tỷ lệ có việc làm 19
5. Tỷ lệ có việc làm phân theo giới tính 20
6. Tỷ lệ có việc làm phân theo thời điểm tốt nghiệp 20
7. Lý do có việc làm 21
8. Tỷ lệ làm đúng ngành 22
9. Tỷ lệ làm đúng ngành phân theo giới tính 22
10. Tỷ lệ làm đúng ngành phân theo thời điểm tốt nghiệp 23
11. Mức thu nhập hiện nay của các cựu sinh viên 24
12. Mức thu nhập phân theo giới tính 24
13. Mức thu nhập phân theo thời điểm tốt nghiệp 25
14. Mức độ hài lòng đối với thu nhập 25
15. Địa bàn công tác 25
16. Các loại hình doanh nghiệp các cựu sinh viên đang công tác 27
17. Tỷ lệ công tác trong các thành phần kinh tế phân theo giới tính 28
18. Khả năng hoà nhập 29
19. Khả năng hoà nhập phân theo giới tính 29
20. Khả năng hoà nhập phân theo thời điểm tốt nghiệp 30
21. Mức độ ổn định công việc 30
22. Mức độ ổn định công việc phân theo giới tính 31
23. Mức độ ổn định công việc phân theo thời điểm tốt nghiệp 32
24. Nguyên nhân sinh viên thay đổi chỗ làm 32
25. Mức độ hài lòng đối với công việc hiện tại 33
26. Khả năng thăng tiến phân theo giới tính 34
27. Khả năng thăng tiến phân theo thời điểm tốt nghiệp 34
28. Các khoá học sau ra trường 35
29. Mối quan hệ giữa xếp loại tốt nghiệp chức vụ 36
30. Xếp loại tốt nghiệp và thu nhập 36
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang 1
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
Chương 1
TỔNG QUAN
1. Giới thiệu: Phần này nêu lên những lí do tác giả chọn lựa đề tài này, các mục tiêu
nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và những ý nghĩa thiết thực mà đề tài đem lại.
2. Cơ sở hình thành:
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày nay, cạnh tranh để phát triển như một
kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động trong mọi lĩnh vực, từ cạnh tranh trong kinh doanh
cho đến cạnh tranh trong học hành rồi cả cạnh tranh trong chuyện tìm kiếm việc làm.
Có một công việc ổn định luôn là mong muốn của tất cả mọi người, đặc biệt là
những sinh viên mới tốt nghiệp ra trường, những con người đang háo hức cho bước
ngoặt mới của đời mình.
Nặng mối lo về việc làm là vậy, nhưng một điều cũng không kém làm cho biết bao
sinh viên, cả gia đình, nhà trường và xã hội trăn trở, đó là được làm đúng ngành nghề
đào tạo. Có rất nhiều sinh viên ra trường, cầm tấm bằng loại ưu trong tay nhưng không
kiếm cho mình được một công việc phù hợp, đúng ngành mình đã được học, kết quả họ
phải làm những công việc ít liên quan thậm chí có khi trái ngược nghề, gây lãng phí
chất xám rất nhiều cho xã hội và cả chính bản thân họ nữa. Hiện tượng này đang trở
thành một vấn nạn không chỉ của một hai trường mà hầu như của chung tất cả các
trường đại học ở Việt Nam.
Đối với trường đại học An Giang, từ khi thành lập trường đến nay, đã có ba khóa
sinh viên chuyên ngành Kế toán tốt nghiêp. Họ là những thế hệ đã từng được đào tạo tại
một khoa Kinh tế- QTKD còn non trẻ của ngôi trường đại học vừa kỷ niệm bảy năm
nghiệp loại ưu đều có công việc tốt? Hay còn phụ thuộc vào những yếu tố khác? Nếu
vậy thì đó là những yếu tố nào?). Chúng ta cũng sẽ xem xét sự tác động của hoạt động
làm thêm đến hiệu quả công việc sau khi ra trường của các cựu sinh viên. Vì có thể nói
hoạt động làm thêm như là một môn học thực tế của sinh viên, tạo điều kiện cho sinh
viên có môi trường thực hành những điều đã tiếp nhận được, thêm vào đó, hoạt động
này còn bổ trợ rất nhiều kĩ năng cần thiết. Ngoài hai yếu tố chính yếu trên, trong nghiên
cứu này còn tìm hiểu sự khác biệt về thời điểm tốt nghiệp và giới tính có ảnh hưởng đến
mức độ thành công trong nghề nghiệp hay không?
- Sau khi ra trường, khi đã tiếp cận với nghề nghiệp thực tế, chắc chắn các cựu
sinh viên đã tích lũy rất nhiều kinh nghiệm và họ cũng rất muốn được chia sẻ và nêu lên
những chính kiến của mình đóng góp cho công tác đào tạo của trường, đặc biệt là đối
với chuyên ngành Kế toán. Nghiên cứu này sẽ tổng kết những ý kiến đó tạo luồng thông
tin phản hồi cho những người làm công tác dạy và học tại trường.
- Cuối cùng, dựa trên các kết quả nghiên cứu được, tác giả xin đưa ra một số giải
pháp nâng cao hiệu quả đào tạo của khoa, trường.
4. Phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng khảo sát:
Sinh viên chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp khóa 1, 2, 3 đã tốt nghiệp ra
trường. Không tiến hành nghiên cứu trên các sinh viên chưa tốt nghiệp.
4.2. Giới hạn nhiệm vụ nghiên cứu:
Do thời gian nghiên cứu có hạn và để đi đúng mục tiêu ban đầu mà đề tài đã
chọn nên một số vấn đề chỉ nêu những con số thống kê để mô tả xu hướng chung trong
chọn lựa ngành nghề của cựu sinh viên, không tiến hành nghiên cứu sâu, phân tích các
yếu tố ảnh hưởng, tác động đến vấn đề đó, cụ thể không nghiên cứu các vấn đề sau:
- Chỉ cần biết xu hướng chọn lựa địa phương công tác nhưng không đi vào
lập mô hình xem xét các yếu tố tác động đến chọn lựa đó.
- Các cựu sinh viên có phục vụ cho quê nhà mình không.
4.3. Không gian nghiên cứu: không giới hạn
4.4. Thời gian nghiên cứu: hơn 03 tháng, từ 30/2/2007 đến 18/06/2007.
5. Ý nghĩa nghiên cứu:
thang đo trong phân tích dữ liệu tự động…Nói chung là các phương pháp nghiên cứu để
cho ra các con số đã được xử lý.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương chính yếu nhất của đề tài, nó chuyển tải tất cả những đáp án của
mục tiêu nghiên cứu (mà trong chương 1 đã xác định), thông qua mô hình nghiên cứu
(chương 2) và quá trình phân tích (chương 3). Đến chương này, người đọc có thể có cái
nhìn khái quát về tình trạng việc làm của cựu sinh viên.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả thu thập được qua đề tài nghiên cứu này, trình bày các
chính kiến của tác giả.
7. Kết luận chương 1: Mỗi một đề tài ra đời đều có những cơ sở hình thành, mục tiêu,
đối tượng nghiên cứu và mang một ý nghĩa nào đó. Những yếu tố này sẽ khơi mào cho
các bước tiến hành cho chương sau: cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu.
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang 4
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Giới thiệu: Chương này nêu lên một cách khái quát về chuyên ngành Kế toán doanh
nghiệp tại trường Đại học An Giang, các cơ sở lý thuyết, ý kiến xoay quanh các vần đề
chung về nghề nghiệp của người lao động Việt Nam hiện nay. Đặc biệt, thiết kế một mô
hình nghiên cứu tạo sự lôgic, giúp cho người đọc dễ tiếp cận vấn đề hơn.
Điều 13, Bộ luật lao động, việc làm được định nghĩa: “Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều thừa nhận là việc làm”. Với định nghĩa
1
Nguồn: Ngành Kế toán doanh nghiệp khoa Kinh tế-QTKD, http://www.agu.edu.vn
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang 5
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
này, việc làm được hiểu đầy đủ hơn, làm thay đổi nhận thức chật hẹp trước đây, tạo yếu
tố thuận lợi về tâm lý, tránh sự mặc cảm hoặc thái độ không đúng với một số công việc
cần thiết trong đời sống hàng ngày.
3.2. Thế nào là một việc làm tốt?
Để tìm đáp án lời cho câu hỏi này vừa dễ nhưng cũng rất khó. Dễ là ai cũng có
thể trả lời được nhưng khó chính là rút ra được một định nghĩa chính xác về nó. Đối với
mỗi người là mỗi cảm nhận khác nhau, có người cảm thấy công việc phải đáp ứng đầy
đủ những yếu tố này mới là một công việc tốt nhưng đối với người kia thì phải có thêm
những yếu tố khác và càng hỏi chúng ta chắc chắn sẽ không bao giờ có thể tìm được
điểm dừng của câu trả lời.
Nhưng để giải thích rõ một số cơ sở lý luận cho đề tài này, tác giả đã tiến hành
tham khảo ý kiến của những người đang làm việc và một số sinh viên năm cuối tại
trường Đại học An Giang về khái niệm này và có thể tóm tắt ở một số nội dung chính
sau: Một công việc tốt là một công việc phải đảm bảo các yếu tố sau:
+ Nội dung công việc phải phù hợp sở thích
+ Nội dung công việc phù hợp với năng lực
+ Có điều kiện phát triển năng lực cá nhân
+ Có điều kiện thăng tiến
+ Thu nhập thỏa đáng
+ Ý kiến của tất cả mọi người đều được tôn trọng.
+ Không khí làm việc hòa nhã, năng động, đoàn kết.
Thu nhập của người lao động: là tổng các khoản mà người lao động nhận được
do sự tham gia của họ vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thu nhập
của người lao động bao gồm:
+ Tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất
như lương: Gồm tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng trong lương;
các khoản phụ cấp và thu nhập khác của người lao động được hạch toán vào chi phí sản
xuất, vào giá thành sản phẩm như phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, ăn giữa
ca, trợ cấp thuê nhà và các khoản phụ cấp thường xuyên, không thường xuyên khác cho
người lao động. Bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: Thực phẩm, đồ
uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ lao động).
+ Bảo hiểm xã hội trả thay lương: Là khoản cơ quan BHXH chi trả cho người
lao động của doanh nghiệp trong thời gian nghỉ ốm, thai sản, tai nạn lao động theo chế
độ quy định hiện hành.
+ Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh: Là
các khoản chi trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi phí sản xuất
mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủ doanh nghiệp
hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trên ).
3
Số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê đã xác định mức thu nhập của người lao
động ở khu vực thành thị VN trong năm 2004 mới chỉ đạt 815.100 đồng/tháng, còn ở
khu vực nông thôn là 378.000 đồng/tháng.
Trong đó, mức lương trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, năm 2006
là 2,2 triệu đồng/tháng (gấp 1,5 lần so với năm 2000), tiền lương bình quân trong doanh
nghiệp nhà nước đạt 2,1 triệu đồng/tháng (gấp hơn 2 lần so với năm 2000) và trong
doanh nghiệp dân doanh là 1,6 triệu đồng/tháng (gấp 2,2 lần so với năm 2000).
4
4. Thực trạng làm đúng ngành nghề đào tạo của sinh viên Việt Nam hiện nay:
Ra trường có việc làm và phù hợp với ngành nghề đào tạo là mong muốn của
trường có việc làm đúng ngành nghề của các trường Đại học là rất ảm đạm. Một
phần là do các trường chưa có thông tin thực tế để điều phối, liên kết đào tạo cho
hợp lý. "Trường tôi nằm ở vùng có nhiều nhà máy chế biến nông sản nhưng sinh
viên ngành này ra trường chỉ khoảng 40% có việc làm. Khi gặp gỡ trực tiếp
giám đốc các doanh nghiệp, lãnh đạo trường mới biết mỗi đơn vị có chừng 500
người nhưng chỉ cần 2 kỹ sư là đủ" - ông Minh nói. "Nếu nhận thông tin sớm
hơn, chúng tôi sẽ có hướng đào tạo hiệu quả hơn".
8
Trong lá thư gởi cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, một công dân tên DHQ (đăng
trên website của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã viết “Tôi là một công dân Việt Nam và rất
buồn vì nền giáo dục nước nhà "mãi tụt hậu", và tôi cũng muốn chia sẻ những nhìn nhận
và trải nghiệm về thực tại của việc đào tạo của giáo dục Việt Nam. Rất nhiều sinh viên
tốt nghiệp không thất nghiệp nhưng thất nghề. Hàng năm, các trường đại học báo cáo
lên Bộ những con số "như mong đợi" về kết quả đào tạo và số lượng SV ra trường có
việc làm: >90 sinh viên tốt nghiệp có việc làm, hầu hết có công việc ổn định Đúng!
Các sinh viên tốt nghiệp đều có việc làm, chắc chắn là họ phải tìm được việc làm rồi,
nếu không họ sẽ không thể tồn tại được. Nhưng vấn đề ở đây họ làm cái gì? Công việc
gì? Một sinh viên tốt nghiệp Học viện Hành Chính Quốc gia, sau khi ra trường loại khá
không xin được một công việc liên quan đến ngành học - đành xin làm nhân viên nhân
viên sửa chữa điện thoại của một công ty bán điện thoại cũ tại Hà Nội, hay thậm tệ hơn,
một bạn tốt nghiệp khoa Tiếng Anh của một trường đại học, đã tốt nghiệp được vài
năm rồi lại đi xin làm công nhân ở một nhà máy của Nhật ở khu công nghiệp Thăng
Long, hay một sinh viên khác tốt nghiệp ngành xã hội học, không xin được việc, với một
chút nhan sắc, đứng phát quà khuyến mại tại cửa các siêu thị và nhà hàng ”
Qua các điển hình trên, chúng ta có thể thấy làm trái nghề đang trở thành một đề
tài nóng bỏng không chỉ giới hạn trong sự quan tâm của những người làm công tác giáo
dục đào tạo mà nay, khi nguy cơ đã sắp trở thành một vấn nạn vì thất thoát v à uổng phí
chất xám, thì nó đã thực sự trở thành mối quan tâm của toàn xã hội.
5. Các giả định đo lường mức độ thành công của cựu sinh viên:
doanh nghiệp.
Cái hay của đề tài đó là ý đồ muốn tìm kiếm luồng thông tin hữu ích từ chính
tiếng nói phía các doanh nghiệp của tác giả Vương Hoàng Phủ, thêm vào đó tác giả đã
tiến hành phương pháp nghiên cứu một cách chi tiết, cẩn thận, đặc là khâu phỏng vấn,
thu thập dữ liệu. Tác giả đã tiến hành phỏng vấn tay đôi sơ bộ, chuyên sâu rồi phát hành
thử rồi mới phát hành chính thức, điều này giúp cho việc thu thập dữ liệu chính xác,
bám sát đề tài, tạo sự thoải mái trong việc tiếp xúc, đối thoại giữa tác giả và người được
phỏng vấn.
Nhưng có lẽ do thời gian nghiên cứu quá ít, ý thức hợp tác của một số doanh
nghiệp không cao nên số mẫu thu về chưa đảm bảo tính tin cậy cho đề tài. Thêm vào đó
đây là nghiên cứu nhu cầu doanh nghiệp đối với lao động, nhưng tác giả chỉ đề cập đến
kiến nghị của doanh nghiệp đối với nhà trường đào tạo mà quên mất kiến nghị của
doanh nghiệp đối với chính bản thân người lao động. Đồng ý nhà trường là nơi đào tạo
sinh viên nhưng để sinh viên có một chỗ đứng trong nghề nghiệp không chỉ có tấm bằng
nhà trường cấp mà quan trọng nhất là sự nỗ lực của chính bản thân người lao động.
Đối với đề tài “Khảo sát việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán ĐH An
Giang” cũng đề cập đến vấn đề nghề nghiệp của sinh viên, cũng xem xét đến sự thích
ứng của giáo dục đại học so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp nhưng không dựa
trên cách đánh giá chủ quan của từng doanh nghiệp về trình độ và năng lực của cựu sinh
viên mà sẽ đi theo chiều hướng ngược lại, tức thông qua tình trạng việc làm hiện nay
của chính các cựu sinh viên đó. Đây sẽ là câu trả lời xác đáng và trung thực nhất cho
mối quan hệ giữa giáo dục và nhu cầu thực tế vì các sinh viên là “đầu ra” của giáo dục
và “đầu vào” của các doanh nghiệp. Để hiểu hơn về mức độ khác biệt của hai đề tài này,
tác giả chuyển tải sơ đồ mô tả sau: (1): Xuất phát điểm từ phía các doanh nghiệp, doanh nghiệp cung cấp nhu cầu cũng như
- Tỷ lệ có việc làm/tổng thể mẫu nghiên cứu
- Tỷ lệ làm đúng ngành/tổng mẫu
- Thu nhập
- Địa phương công tác
- Làm cho thành phần kinh tế nào
- Khả năng hoà nhập
- Mức độ thăng tiến
- Mức độ hài lòng
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
Các bước tiến hành nghiên cứu được tiến hành theo thứ tự đã được đánh số:
(1): thông qua các chỉ số nêu những nét khái quát nhất về việc làm của cựu sinh viên.
(2), (3): đánh giá tác động của xếp loại tốt nghiệp. làm thêm đến việc làm
Từ (1), (2), (3) sẽ cung cấp bức tranh tổng quát về việc làm của các cựu sinh viên Kế
toán hiện nay.
(4): đánh giá của cựu sinh viên về mức độ ứng dụng của chương trình đào tạo vào
thực tế.
Làm thêm Học lực
Kiến nghị và chia sẻ kinh nghiệm của
cựu sinh viên
Đánh giá của cựu sinh viên về chương
trình đào tạo
Tình trạng việc làm của cựu sinh viên
Đánh giá,
kiến nghị
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang 11
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
1. Giới thiệu: Chương này giới thiệu cách thức thu thập, phân tích dữ liệu, phương
pháp chọn mẫu, các thang đo trong phân tích dữ liệu tự động…Nói chung là các
phương pháp nghiên cứu để cho ra các con số đã được xử lý.
2. Tổng thể nghiên cứu:
2.1. Những nét khái quát về sinh viên chuyên ngành Kế toán khóa 1, 2, 3:
2.1.1. Số lượng sinh viên qua từng khóa:
Năm 2000, khóa đầu tiên của chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp khai giảng
với số lượng sinh viên theo học là 108 người, phân thành ba lớp là ĐH1KT1 (34 sinh
viên), ĐH1KT2 (35 sinh viên) và ĐH1KT3 (39 sinh viên). Khóa thứ hai, ĐH2KT khai
giảng vào năm 2001 với 33 sinh viên và đến khóa 3, ĐH3KT số sinh viên là 43 người.
Thực trạng tốt nghiệp của từng đơn vị lớp:
Biểu đồ 2: Thực trạng tốt nghiệp của từng đơn vị lớp (tính đến tháng 6 năm 2006)
0 .7 5
0 . 0 0 0 . 0 0
0 .0 6
0 . 7 6
0 . 0 0
0 .0 2 0 . 1 2
0 . 7 4
0 .1 8
0 . 1 2
0 . 2 6
0 %
2 0 %
4 0 %
6 0 %
8 0 %
1 0 0 %
1 K T 2 K T 3 K T
2 0 0 4 2 0 0 5 2 0 0 6 C h ư a tố t n g h iệ p
Cả ba khóa đều tốt nghiệp với số sinh viên trên dưới ngưỡng 80%, một con số
chưa đáng tự hào nhưng cũng không phải là quá tệ. Số sinh viên ra trường đúng tiến độ
ở cả ba khóa tương đối ngang nhau (ĐH1KT: 75%, ĐH2KT: 76% và ĐH3KT: 74%).
Đối với các sinh viên phải ra trường chậm tiến độ thì các sinh viên khóa hai có tốc độ
vượt bật hơn đưa tỷ lệ tốt nghiệp của khóa này cao hơn so với các anh chị khóa trước,
điều này có thể được lý giải là do các sinh viên khóa một khi phải thi tốt nghiệp tại thời
điểm càng về các năm sau thì các kiến thức về các môn thi đó ngày càng bị mai một dần
vì họ không được tiếp xúc thường xuyên với chúng, thêm vào đó họ còn phải đảm trách
các công việc bên ngoài. Chính vì vậy các đối tượng này cần có sự nỗ lực hơn nhiều so
cũng là một thành tích đáng hoan nghênh.
Qua ba biểu đồ trên, ta có thể thấy số lượng sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi ở
hai khóa 1, 2 nhiều hơn so với khóa 3, nhưng điều đó không chứng tỏ khóa 3 học không
tốt bằng khóa 1 và 2. Nguyên nhân của vấn đề này là do quy chế xét xếp loại tốt nghiệp
của trường có sự thay đổi. Khóa 1 và 2 xét loại tốt nghiệp có tính thêm điểm rèn luyện,
còn từ khóa 3 trở đi thì không, chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả xếp loại
tốt nghiệp của sinh viên khóa 3.
Nhưng có một dấu hiệu rất đáng mừng, đó là tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại trung
bình ở hai khóa 2, 3 là 0%, một sự chuyển dịch mang ý nghĩa rất khả quan. Để lý giải
cho điều này có rất nhiều nguyên nhân, bao gồm sự chuyển biến tích cực trong cách học
tập và giảng dạy của sinh viên và giảng viên, được bổ trợ thêm nhiều công cụ, thiết bị
học tập tiên tiến,…
3. Thiết kế nghiên cứu:
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang 14
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
Quá trình nghiên cứu trải qua bốn giai đoạn như sau:
Sơ đồ : Các giai đoạn nghiên cứu
9
Xem tại phụ lục trang 51
Nghiên cứu định tính – khám phá
Nghiên cứu định lượng– thử nghiệm
Nghiên cứu định lượng – chính thức
Nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp
Khảo sát tình trạng việc làm của cựu sinh viên ngành Kế toán – ĐH An Giang
SVTH: Mai Thị Như Quỳnh Trang 15
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
Kết quả: Qua tham khảo ý kiến các cựu sinh viên, dựa trên dàn bài phỏng vấn sâu
mà tác giả đã xây dựng, các cựu sinh viên đều đi đến quan điểm thống nhất chỉ cần
nghiên cứu các nhóm vấn đề sau:
Nhóm thông tin chung về việc làm cựu sinh viên: tỷ lệ có có việc làm, lao
động đúng ngành, trái ngành, thu nhập,….
Nhóm xem xét các yếu tố tác động đến việc làm: như kết quả xếp loại, làm
thêm, các kỹ năng,….
Nhóm ý kiến đóng góp, kinh nghiệm: cho trường và các sinh viên đã và đang
theo học.
3.3. Nghiên cứu định lượng - thử nghiệm:
Mục tiêu: Thông qua việc phát hành thử, tác giả thu thập các ý kiến đóng góp của
các đáp viên để hoàn chỉnh bản câu hỏi trước khi phát hành chính thức.
Chọn mẫu: vẫn theo phương pháp chọn đã nêu trong nghiên cứu định tính – khám
phá. Nhưng trong lần này để gia tăng tính phong phú và rộng rãi, tìm kiếm nhiều ý kiến
đóng góp nên tác giả đã tăng số mẫu cao hơn phần nghiên cứu trước 03 sinh viên, tức số
mẫu trong giai đoạn nghiên cứu này là 09 sinh viên.
Sau khi đã thiết lập sơ bộ khung bản câu hỏi dựa trên nghiên cứu định tính – khám
phá
10
, tác giả tiến hành phát hành thử đến 09 đối tượng nghiên cứu