LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VI SINH HỌC - Pdf 55

Lịch sử phát triển của VI SINH VẬT HỌC
Những ai yêu thích muốn biết về vi sinh vật học thì không thể bỏ qua mục này đuợc
Đây là một chút tài liệu sơ lược lịch sử phát triển của VI SINH VẬT HỌC:
Từ cổ xưa, mặc dù chưa nhận thức được sự tồn tại của vi sinh vật, nhưng loài người đã biết khá
nhiều về các tác dụng của vi sinh vật gây nên. Trong sản xuất và trong đời sống, con người đã tích
lũy được nhiều kinh nghiệm và các biện pháp lợi dụng các vi sinh vật có ích và phòng tránh các vi
sinh vật có hại.
Trên những vật giữ lại từ thời cổ Hy Lạp người ta đã thấy minh họa cả quá trình nấu rượu. Những
tài liệu khảo cổ cho biết cách đây trên 6000 năm người dân Ai Cập ở dọc sông Nile đã có tập quán
nấu rượu. Các hình vẽ trên Kim Tự Tháp cũng cho thấy nghề nấu rượu và làm bia ở Ai Cập cũng rất
phổ biến. Trong Kinh thánh cũng có đoạn miêu tả cảnh say rượu của Noé sau khi sống sót qua cơn
đại hồng thủy (cách đây trên 5000 năm). Ở Trung Quốc rượu đã được sản xuất từ thời đại văn hóa
Long Sơn (cách đây trên 4000 năm). Trong các chữ khắc trên xương, trên mai rùa (cốt giáp văn tự)
từ thời Ân Thương (thế kỉ 17-11 TCN) người ta đã thấy chữ “tửu”. Việc lên men lactic (muối dưa)
được thực hiện vào khoảng năm 3500 TCN.
Muối dưa, làm giấm, làm tương, làm mắm, làm mứt, làm sữa chua, ướp thịt, ướp cá… đều là những
biện pháp hữu hiệu để hoặc sử dụng, hoặc khống chế vi sinh vật phục vụ cho việc chế biến và bảo
quản thực phẩm. Theo sách “Lĩnh nam chích quái” thì nhân dân ta từ thời Hùng Vương dựng nước
đã biết “làm mắm bằng cầm thú, làm rượu bằng cốt gạo”.
Việc sáng tạo ra các hình thức ủ phân, ngâm phân, ngâm đay, ngâm gai, xếp ải, trồng luân canh các
cây họ Đậu… đều là những biện pháp tài tình mà tổ tiên ta từ lâu đã biết phát huy tác dụng của vi
sinh vật trong nông nghiệp.
Về phương diện phòng trừ bệnh tật loài người cũng sớm tích lũy được nhiều kinh nghiệm phong
phú. Ngay từ trước Công nguyên những tài liệu của Hippocrate (460 – 373 TCN), của Veron (116 –
27 TCN) của Lucrèce (98 – 55 TCN)… đã đề cập đến bản chất sống của các tác nhân gây ra bệnh
truyền nhiễm.
Người có công phát hiện ra thế giới vi sinh vật và cũng là người đầu tiên miêu tả hình thái nhiều loại
vi sinh vật là một người Hà Lan vốn là người học nghề trong một hiệu buôn vải. Đó là Antonie van
Leeuwenhoek (1632 – 1723). Ông đã tự chế tạo ra trên 400 kính hiển vi, trong đó có cái phóng đại
được đến 270 lần. Với những chiếc kính hiển vi cầm tay, có gương hội tụ ánh sáng, có ốc điều chỉnh
để cho vật định quan sát rơi đúng vào tiêu điểm và bằng cách ghé mắt vào khe nhỏ có gắn thấu kính

vật. Về sau các kĩ thuật nhuộm tiêu bản đã được cải tiến bởi Ehrlich (1881), Ziehl và Neelsen
(1883). Loeffler (1884), Gram (1884)… R.Koch được nhận giải Nobel năm 1905. Người có công
đầu tiên trong việc chứng minh có sự tồn tại của loại vi khuẩn nhỏ bé hơn vi khuẩn nhiều lần là nhà
sinh lí học người Nga D.I. Ivanovskii (1864 – 1920). Ông chứng minh có sự tồn tại của loại vi sinh
vật siêu hiển vi gây ra bệnh khảm (mosaic) ở lá thuốc lá năm 1892. Đến năm 1897 nhà khoa học Hà
Lan M.W. Beijerinck (1851 - 1931) gọi loại vi sinh vật này là virut (virus) theo tiếng La tinh có
nghĩa là “nọc độc”. Đến năm 1917 thì F.H. d’ Hérelle (1873 – 1949) phát hiện ra các virut của vi
khuẩn và đặt tên là thể thực khuẩn (Bacteriophage).
Mặc dầu L.Pasteur là người đầu tiên chứng minh cơ sở khoa học của việc chế tạo vacxin (Vaccin, từ
gốc La Tinh Vaccinae có nghĩa là bệnh đậu mùa bò) lại do bác sĩ nông thôn người Anh Edward
Jenner (1749-1823) đặt ra. Ông là người đầu tiên nghĩ ra phương pháp chủng mủ đầu bò cho người
lành để đề phòng bệnh đậu mùa hết sức nguy hiểm cho tính mạng con người.
Người đặt nền móng cho khoa Miễn dịch học (Immunology) là nhà khoa học Nga Ilya Ilitch
Metchnikov (1845-1916). Ông đã đến Paris năm 1887 để gặp L.Pasteur từ những ngày đầu xây dựng
Viện Pastuer Paris. Với lý thuyết “thực bào” nổi tiếng ông đã nhận được giải thưởng Nobel năm
1908 (cùng với P.Ehrlich).
Cần phải nói lên công lao của nhà khoa học người Anh J.Lister (1827-1912), người đã đề xuất ra
việc sử dụng các hóa chất diệt khuẩn và việc sử dụng phương pháp vô trùng trong phẫu thuật.
Nhà khoa học Pháp gốc Nga S.N.Vinogradskii (1856-1953) là người đầu tiên phát hiện ra vi khuẩn
sắt (1880), vi khuẩn lưu huỳnh (1887), vi khuẩn nitrat hóa (1890). Nhà khoa học Hà Lan
M.W.Beijerinck (1851-1931) là người đầu tiên phân lập được vi khuẩn nốt sần Rhizobium (1880, vi
khuẩn cố định đạm hiếu khí Azotobacter (1901), vi khuẩn lên men butilic, vi khuẩn phân giải pectin
và nhiều nhóm vi khuẩn khác.
Người đầu tiên phát hiện ra chất kháng sinh là bác sĩ người Anh Alexander Fleming (1881-1955).
Năm 1928 ông là người đầu tiên tách được chủng nấm sinh chất kháng sinh penixilin, mở ra một kỉ
nguyên mới cho khả năng đẩy lùi nhanh chóng các bệnh nhiễm khuẩn . Ông được nhận giải thưởng
Nobel năm 1945 (cùng với B.E.chain và H.W.Florey). Năm 1944 nhà khoa học Mĩ gốc Nga
S.A.Waksman phát hiện ra Streptomixin và được nhận giải thưởng Nobel vào năm 1952. Hàng loạt
các chất kháng sinh quan trọng khác đã được liên tiếp phát hiện và ứng dụng vào các năm tiếp sau:
baxitraxin (1945), cloramphenicol (1947), polimixin (1947), clotetraxiclin (1948), xephalosporin

được Mỹ và Anh cho phép ứng dụng rộng rãi. Cũng vào năm này người ta đã chế tạo thành công
kích tố sinh trưởng người . Năm 1988 J.D. Watson nhận chủ trì Dự án hệ gen người với kinh phí
được Chính phủ Mỹ đầu tư là 3 tỉ USD. Năm 1996 hoàn thành việc khám phá hệ gen của men rượu
(Saccharomyces cerevisiae). Năm 1997 Jan Wilmut và các cộng sự ở Viện nghiên cứu Roslin, gần
Edinburg (Scotland) lần đầu tiên cho ra đời cừu Dolly bằng kĩ thuật sinh sản vô tính không cần tới
quá trình thụ tinh.
Ngày 26/6/2000 cùng một lúc các nhà khoa học thuộc hai nhóm nghiên cứu độc lập là nhóm
Consortium của F. Collins và nhóm Celera Genomics của Vainter đã công bố việc khám phá ra hầu
như toàn bộ gen của người.""(Theo sách Vi sinh vật học của Nguyễn Lân Dũng)
Còn dưới đây các mốc thời gian phát triển theo lịch sử của VI SINH VẬT HỌC:
Năm 1546, Girolamo Fracastoro (1478 - 1553) cho rằng các cơ thể nhỏ bé là tác nhân gây ra bệnh
tật.
Năm 1590, Zacharias Janssen (1580 - 1638) là người Hà Lan đầu tiên phát minh ra kính hiển vi.
Năm 1676, Antony Van Leeuwenhoek (1632 - 1723) hoàn thiện kính hiển vi và khám phá ra thế giới
vi sinh vật (mà ông gọi là Anmalcules).
Năm 1688, nhà vạn vật học người Ý Francisco Redi (1627 - 1697) công bố nghiên cứu về sự phát
sinh tự nhiên của giới
Những năm 1765 - 1776, Spallanzani (1729 - 1799) công kích thuyết Phát sinh tự nhiên.
Năm 1798, Edward Jenner (1749 - 1823) nghĩ ra phương pháp chủng mủ đậu bò để phòng ngừa
bệnh đậu mùa.
Những năm 1838 - 1839, Theodor Schwann(1810 - 1882) và Matthriat Schleiden (1804 -1881 công
bố Học thuyết tế bào.
Những năm 1847 - 1850, Ignaz Philipp Semmelweis (1818 - 1865) cho rằng bệnh sốt hậu sản lây
truyền qua thầy thuốc và kiến nghị dùng phương pháp vô khuẩn để phòng bệnh.
Năm 1880, CharlesLouisAlphonseLaveran(1845-1922) phát hiện ký sinh trùng Plasmodium gây ra
bệnh sốt rét.
Người có công lớn nhất khai sinh ra vi sinh vật học thực nghiệm, nhằm nghiên cứu các hoạt động
sinh lí, sinh hoá của vi sinh vật và ứng dụng chúng trong lên men, đặc biệt trong chế tạo vaccine
phòng bệnh dại, là nhà bác học lỗi lạc người Pháp Louis Pasteur (1822 - 1895).
Đồng thời và tiếp theo Pasteur cũng có nhiều nhà vi sinh học nổi tiếng:

mai (Treponema pallidum).
Năm 1906, Jakob Wassermann phát hiện ra xét nghiệm cố định bổ thể để chẩn đoán giang mai.
Năm 1909, Howard Taylor Ricketts (1871 - 1910) chứng minh bệnh sốt ban núi đá lan truyền qua ve
là do mầm bệnh vi khuẩn (Rickettsia rickettsii).
Năm 1910, Peyton Rous (1879 - 1970) phát hiện ra ung thư ở gia cầm.
Những năm 1915 - 1917, Frederick Twort (1877 - 1950) và Felix d'Herelle (1873 - 1949) phát hiện
ra virus của vi khuẩn ( thực khuẩn thể).
Năm 1923, Xuất bản lần đầu cuốn Phân loại vi khuẩn (Bergey’s Manual).
Năm 1928, Frederick Griffith (1881 - 1941) khám phá ra việc biến nạp (transformation) ở vi khuẩn.
Năm 1928, Alexander Fleming (1881 - 1955) phát hiện ra chất kháng sinh penicillin.
Năm 1931, Van Niel (1897-1985) chứng minh vi khuẩn quang hợp sử dụng chất khử như nguồn
cung cấp electron và không sản sinh ôxi.
Năm 1933, Ernst August Friedrich Ruska (1906 - 1988) làm ra chiếc kính hiển vi điện tử đầu tiên.
Năm 1935, Wendell Stanley (1904 - 1971) kết tinh được virus khảm thuốc lá (TMV); Gerhard
Domag (1895 - 1964) tìm ra thuốc sulfamide.
Năm 1937, Edouard Chatton (1883 - 1947) phân chia sinh vật thành hai nhóm: Nhân sơ
(Procaryotes) và Nhân thật (Eucaryotes).
Năm 1941, GeorgeW.Beadle(1903-1989) và Tatum, Edward Lawrie
(1909 - 1975) đưa ra giả thuyết một gen - một enzym.
Năm 1944, Oswald Avery (1877 - 1955) chứng minh DNA chuyển thông tin di truyền trong quá
trình biến nạp; Selman Abraham Waksman (1898 - 1973) tìm ra streptomycin.
Năm 1946, Lederberg và Tatum khám phá ra quá trình tiếp hợp (conjugation) ở vi khuẩn.
Năm 1949, Enders, Weller và Robbins nuôi được virus polio (Poliovirus) trên mô người nuôi cấy.
Năm 1950, André Michel Lwoff (1902 - 1994) xác định được các thực khuẩn thể tiềm tan
(lysogenic bacteriophages).
Năm 1952, Hershey và Chase chứng minh thực khuẩn thể tiêm DNA của mình vào tế bào vật chủ
(host); Zinder và Lederberg khám phá ra quá trình tải nạp (transduction) ở vi khuẩn.
Năm 1953, Watson và Crick khám phá ra chuỗi xoắn kép của DNA; Frits (Frederik) Zernike (1888 -
1966) làm ra kính hiển vi tương phản pha (phase - contrast microscope); Medawar khám phá ra hiện
tượng nhờn miễn dịch (immune tolerance).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status