BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ CHÍNH THỨC
KỲ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2009
Môn thi: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm)
Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm
1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạng.
Anh/chị hãy nêu những nét chính của đặc điểm trên.
Gợi ý:
- Khuynh hướng sử thi:
+ Đề tài: những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân tộc
+ Nhân vật chính: những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất, ý
chí toàn dân tộc, tiêu biểu cho lí tưởng dân tộc hơn là khát vọng cá nhân. Văn học khám
phá con người ở khía cạnh trách nhiệm, bổn phận, lẽ sống lớn, tình cảm lớn.
+ Biện pháp nghệ thuật: trùng điệp, phóng đại.
- Cảm hứng lãng mạn:
+ Là cảm hứng khẳng định cái tôi dạt dào tình cảm hướng tới cách mạng.
+ Biểu hiện: ca ngợi vẻ đẹp của con người mới, cuộc sống mới, chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai đất nước.
+ Cảm hứng nâng đỡ con người vượt lên những chặng đường chiến tranh gian
khổ, máu lửa, hi sinh.
- Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn kết hợp tạo tinh thần lạc quan thấm
nhuần cả nền văn học 1945 – 1975 và tạo nên đặc điểm cơ bản
Câu II (3,0 điểm)
Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý
kiến sau:
Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm
nhiều thứ quý giá khác nữa.
(Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB Trẻ, 2008, tr. 90)
Xuâu Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Thơ ông thể hiện niềm yêu
đời tha thiết mê say đồng thời cũng nhuốm buồn vì thời gian phôi pha.
“Vội vàng” được rút từ tập “Thơ thơ” (năm 1938) được coi là một trong những thi
phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu.
Đoạn trích là khúc dạo đầu trong khúc nhạc “Vội vàng” đầy biến tấu.
2. Hình ảnh thiên nhiên.
Thiên nhiên mùa xuân trần thế tràn trề màu sắc, âm thanh, ánh sáng, rất gần gũi, thân
thuộc với con người (Này đây). Đó là một thiên nhiên đầy sức sống, náo nức và mê say.
Thiên nhiên mùa xuân tình yêu với sự sóng đôi, bắt cặp: “ong bướm” giữa lúc “tuần
tháng mật”, “yến anh” say “khúc tình si” và cảm nhận “ Tháng giêng ngon như một cặp
môi gần”.
Tóm lại: thiên nhiên như một thiên đường trên mặt đất.
3. Phân tích cái tôi trữ tình
Cảm nhận thiên nhiên: cái tôi say sưa cảm nhận vẻ đẹp mơn mởn của đất trời bằng
“cặp mắt xanh non biếc rờn”. Nhà thơ như một người tình của mùa xuân, đứng giữa đất
trời, dang tay đón lấy cảnh sắc tháng giêng ngọt ngào, tràn trề sức sống.
Cảm nhận về thời gian: Chính vì yêu đời, say đời mà nhà thơ luôn tiếc thời gian. Cái
tôi nhà thơ khao khát chặn lại bước đi của tháng năm để giữ gìn mùa xuân tuổi trẻ. “Tắt
nắng”, “buộc gió” là khát vọng phi thường của một thi sĩ mến yêu cuộc sống đến mức khác
thường. Trong nhà thơ luôn tồn tại hai tâm trạng “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một
nửa”
4. Nhận xét
Đoạn thơ sử dụng điệp cấu trúc (Này đây…) với hình ảnh so sánh hiện đại, độc đáo
(Tháng giêng ngon như một cặp môi gần), cảm xúc thơ tràn chảy theo thể tự do giúp người
đọc cảm nhận một thiên nhiên mùa xuân tràn trề sức sống, gần gũi, mời gọi và hình ảnh
một cái tôi trữ tình nồng nàn, khao khát yêu đời.
Thiên nhiên và cái tôi trữ tình kết hợp hài hòa tạo vẻ đẹp mang đậm phong cách Xuân
Diệu cho đoạn thơ.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
- Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần.
Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện giúp anh hiểu rõ hơn cái có lý trong cái tưởng
như nghịch lý ở gia đình thuyền chài. Anh hiểu thêm tính cách Đẩu và hiểu thêm chính
mình.
3. Kết luận
- Tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật
đời sống, một tình huống nhận thức.
- Tình huống truyện này đã nhấn mạnh thêm mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật và
cuộc đời, khẳng định cái nhìn đa diện, nhiều chiều về đời sống, gợi mở những vấn đề mới
cho sáng tạo nghệ thuật.
----- Hết -----