Bài tiểu luận
Nguyên nhân, diễn biến khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế 2008
GVHD: TS Lê Tuấn Lộc
Lớp: K07402B
Nhóm thực hiện:
Đỗ Vũ Bá K074020278
Trần Xuân Bách K074020279
Huỳnh Minh Long K074020322
Võ Thị Bích Ngọc K074020338
Huỳnh Thị Trường K074020379
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12- 2009
1
MỤC LỤC
Phần mở đầu............................................................................................................................2
I/ Cơ sở lý luận...................................................................................................................3
1. Khủng hoảng tài chính.............................................................................................3
2. Suy thoái kinh tế.......................................................................................................4
II/ Khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế 2008..........................................4
1. Diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.....................................................4
2. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008................................13
A/ Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng..............................................................14
2.1 Nợ dưới chuẩn................................................................................................14
2.2 Chứng khoán hóa............................................................................................15
2.3 Các công ty định mức tín nhiệm....................................................................16
2.4 Công cụ đầu tư kết cấu...................................................................................17
2.5 CDS – Hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng.................................................17
2.6 Mua bán khống...............................................................................................18
2.7 Khủng hoảng niềm tin....................................................................................18
B/ Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng:.........................................................................18
3/ Hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.................................................21
và cái gì đuợc rút ra từ sau cuộc khủng hoảng này. Đó chính là nguyên do để thôi thúc nhóm
chúng tôi thực hiện đề tài này.
3
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong
việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Dấu hiệu của Khủng hoảng tài
chính là:
- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền.
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A (tức là loại khách hàng
mà ngân hàng xem xét là có khả năng hoàn trả lại số tiều đã muợn một cách tốt nhất) cũng
không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Một số nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do gặp
phải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm dụng vốn vì điều này có
thể có lợi ở khía cạnh nào đó. Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản,
kinh doanh thua lỗ và các vấn đề về chi tiêu của Chính phủ. Bản thân Chính phủ cũng gặp khó
khăn trong việc tìm tài trợ khi gặp khó khăn về thanh toán do những kỳ vọng không sáng sủa
mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả. Sự mất khả năng
thanh toán thường có tính dây chuyền. Vì vậy, khủng hoảng tài chính là điều không mong muốn.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, có một sự tương quan giữa nỗ lực nhằm tự do hoá các thị
trường tài chính và số lượng các cuộc khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng tài chính thường đi
kèm với những nỗ lực nhằm tự do hoá thị trường tài chính. Vậy tự do hoá tài chính có nhất thiết
dẫn đến khủng hoảng tài chính và việc xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính có thể là một lý do
phản đối việc bãi bỏ các quy định và tự do hoá tài khoản vốn.
Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tin không đối xứng.
Thông tin không đối xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tài chính. Nó đưa người vay
tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mống cho những kỳ vọng xấu của người cho vay
về người đi vay. Thông tin không cân xứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền- do họ khó
khăn trong việc phân biệt giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán, qua
1. Diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008:
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, theo Alan Greenspan (cựu Thống đốc Quỹ Dự trữ
Liên bang Mĩ FED), là khủng hoảng kinh tế lớn nhất, là cuộc đại suy thoái của thế kỉ XXI kể từ
cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933, thế kỉ XX. Cuộc khủng hoảng này xuất phát
từ khủng hoảng tài chính Mĩ và lan sang hàng loạt các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như
EU, Nhật, Trung Quốc, Nga,… gây nên tổn thất vô cùng nặng nề, khiến cho nền kinh tế thế giới
đi xuống. Các nước đang phát triển và các nước nghèo dù ít hay nhiều, cũng không tránh khỏi
tác động của cuộc khủng hoảng này. Trong khi đó, cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ lại bắt nguồn
từ tình trạng bong bóng bất động sản tại Mĩ (khoảng năm 2005- 2006) với những khoản cho vay
dưới chuẩn có rủi ro cao và những khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh. Điều này cho thấy,
5
cuộc khủng hoảng tài chính tại Mĩ lần này thực chất là những biểu hiện rõ nét của một quá trình
khủng hoảng rất lâu trước đó. Dưới đây là chuỗi những sự kiện chính, nổi bật gây nên tình trạng
khủng hoảng như hiện nay, qua đó có thể thấy khủng hoảng đã được hình thành như thế nào.
• Năm 2000: bong bóng Dot-com vỡ, Cục dự trữ liên bang Mĩ đã hạ lãi suất cho vay qua
đêm liên ngân hàng để cứu nền kinh tế khỏi suy thoái, nhất là từ sau thảm họa khủng bố
11/09/2001.
• Từ tháng 05/2001 đến 12/2002: lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn
1,75%, tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo đi vay ồ ạt kể cả nhằm mục đích đầu
cơ hình thành nên bong bóng nhà ở.
• Năm 2002- 2004: giá cả nhà đất tại các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và
Nevada tăng trên 25% một năm. Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu.
• Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ bắt đầu rạn vỡ vào tháng 08/2005. Thị trường bất
động sản tạm gián đoạn tại một vài bang ở Mỹ vào cuối hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất
tăng từ 1% lên đến 5.35%.
• Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm một lượng nhà dư thừa đáng
kể. Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với tháng 08/2006.
• Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại. Số lượng nhà tồn ước tính cao
nhất từ năm 1989. Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay
dưới chuẩn tuyên bố phá sản. Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ,
hoảng vay dưới chuẩn. Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính
Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản.
- Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4.5%.
- Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với lãi
suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19/ 9/ 2001 (50.35 tỷ đô
la).
- Tháng 12/2007: Tổng thống Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2 triệu chủ sở
hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản nợ tại ngân hàng.
- Ngày 11/12: Fed hạ lãi suất quỹ liên bang xuống còn 4.25%
• Năm 2008:
- Ngày 11/01: Bank of American đã bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại Countrywide Financial
sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản vay khó đòi quá
lớn.
Cục Dự Trữ Liên bang tiếp tục hạ lãi suất 50 điểm xuống 3.5%.
7
- Tháng 02/2008: Fannie Mae, nguồn tiền lớn nhất rót vào các khoản vay bất động sản
Mỹ thông báo chỉ trong quý 4 của năm 2007, hãng đã thua lỗ 3,35 tỉ USD, khoản thua lỗ cao gấp
3 so với dự đoán, cho thị trường này.
- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu để
tránh phá sản. Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp các khoản lỗ của Bear
Stearn. Carlyle Capital trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ với khoản nợ lên
tới 16,6 tỉ USD. Nước Mỹ cũng phải rót 200 tỉ USD nhằm cứu vãn Fannie Mae và Freddie Mac
thoát khỏi khó khăn.
- Tháng 04/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng hoảng tài
chính. Bộ trưởng các nước G7 tán thành đề xuất đưa ra các điều chỉnh tài chính mới để chống
lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng.
- Tháng 06/2008: Một điều đáng nói là trong khi thị trường bất động sản Mỹ ngày càng
khủng hoảng nghiêm trọng hơn thì số lượng người được nhận lại các ngôi nhà đã thế chấp lại
tăng gấp đôi. Bear Stearns đã góp sức vào hiện tượng lạ này khi liên hiệp thành công trong 400
vụ bị buộc tội lừa đảo bằng các văn tự thế chấp.
- Ngày 20-21/09: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân hàng
Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh
dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall.
- Ngày 22/09: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 USD để thâu tóm hoạt động
của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông.
Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley.
- Ngày 23/09: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs. Cục điều
tra Liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận
trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
- Ngày 25/09: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất
Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm
tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của
ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD (ngày 26/09).
Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử
Mỹ. Trong khi đó tại Washinton D.C, các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về
những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
- Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ do bộ Tài
chính Mỹ đề xuất. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt
giảm gần 780 điểm – mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho vay
dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ Citigroup.
9
- Ngày 01/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74 –
25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho
doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm
tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.
- Ngày 03/10: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu lần thứ
hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262 – 171. Không đầy 2 giờ sau đó, tổng thống
Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật.
- Ngày 08/10: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục Dự trữ Liên bang
quỹ đã tuyên bố sẽ đóng cửa và nộp đơn xin phá sản theo Chương 11 Luật Phá sản Mỹ, đồng
thời bán lại toàn bộ số tài sản còn lại.
- Ngày 01/06: General Motors chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Tính tới thời điểm
nộp đơn xin bảo hộ phá sản, tổng tài sản của GM là 91 tỷ USD, trong khi số nợ lên tới 172,81
tỷ. Chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục bơm tiền cho GM và chuyển 50 tỷ USD tiền nợ thành 60% cổ phần
tại hãng xe mới hình thành sau phá sản. Sau khi tái cấu trúc, GM sẽ có quy mô nhỏ hơn nhiều
nhưng những nhãn hiệu nổi tiếng như Chevy, Cadillac, Buick và GMC vẫn được giữ lại. GM
đang lên kế hoạch bán chi nhánh Opel tại Đức cho một nhà sản xuất phụ tùng ôtô từ Canada.
Những chi nhánh hoạt động kém hiệu quả khác sẽ bị bán đi hoặc xóa sổ. Theo như thỏa thuận,
chính phủ Mỹ nắm gần 72,5% và Hiệp hội Công đoàn ngành ôtô Mỹ nắm 17,5% cổ phần của
công ty mới.
- Ngày 01/11: Tập đoàn tài chính CIT- một trong những ngân hàng hàng đầu nước Mỹ
chuyên cho vay đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã công bố phá sản. CIT đã không thể
gượng dậy với những khoản nợ khổng lồ từ sau cuộc khủng hoảng tài chính. Vụ phá sản này còn
làm thiệt hại lớn cho chính phủ Mỹ khi đã bỏ 2,33 tỷ USD vào CIT.
Trên đây là những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ. Không chỉ dừng lại ở
đây, cuộc khủng hoảng này còn lan sang các khu vực khác trên thế giới với hậu quả tương tự.
Tại châu Âu:
- Tháng 07-08/2007: Các ngân hàng tại Đức với những khoản đầu tư không sinh lời tại
thị trường bất động sản Mỹ cũng bị cuốn vào cuộc khủng hoảng này, bao gồm: Ngân hàng công
nghiệp Đức IKB, Ngân hàng bang Saxony (Sachsen LB) và ngân hàng bang Bavaria (Bayern
LB). Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại châu Âu chịu ảnh hưởng bởi
những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ. Trong khi đó, ngân hàng
SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ.
- Ngày 09/08/2007: BNP Paribas, Ngân hàng lớn nhất của Pháp, ngưng việc mua lại 3
quỹ đầu tư.
- Ngày 14/09/2007: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng về khả
năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn. Lần đầu tiên trong hơn 1 thế
11
kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh – Ngân hàng
pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ.
12
- Ngày 05/10/2008: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyết định của
Ireland về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại Ireland, ngày 5.10 Bộ trưởng Tài chính
Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền tại ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có
giới hạn.
- Ngày 06/10/2008: Trong đêm chủ nhật ngày 5.10, ngân hàng BNP Paribas SA của Pháp
gửi email thông báo đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 18,9 tỷ USD) để mua lại ngân
hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷ Euro bằng tiền mặt. BNP sẽ sở hữu
75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg, và toàn bộ mảng bảo hiểm của Fortis tại Bỉ.
Tại các châu lục khác:
- Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân là tập
đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này
đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm. Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở
Sydney.
- Ngày 10/10/2008: Tập đoàn bảo hiểm có lịch sử hoạt động 98 năm tại Nhật là Yamoto
Life Insurance Co. chính thức đệ đơn xin được bảo hộ phá sản do các khoản nợ đã vượt tài sản
11,5 tỷ yen (tương đương 116 triệu USD). Đây được coi là mốc đánh dấu cuộc khủng hoảng đã
lan sang châu Á.
2. Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008:
Trên đây là toàn bộ những diễn biến chính của cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ- nay đã
lan ra thành cuộc khủng hoảng toàn cầu. Thất thần, lo âu, sợ hãi, không biết những gì sẽ xảy ra
với mình và với những người xung quanh mình…đó là tâm trạng chung của tất cả mọi người khi
chứng kiến cơn bão tài chính này, nhưng đau đớn hơn hết là những nạn nhân trực tiếp của nó-
giới tài chính. Ai cũng phải hỏi rằng, tại sao mọi thứ lại diễn ra quá tồi tệ như vậy, có phải vì
lòng tham của con người, nhưng lòng tham đó có là gì đâu khi không có những điều kiện thuận
lợi- một “mảnh đất màu mỡ” cho nó phát triển?
13
Quay trở lại những năm trước khủng hoảng, bong bóng nhà ở đã dần được hình thành khi
mà Fed cho cắt giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế sau khủng hoảng Dot.com và sự kiện
nữa vì khoản vay đó là quá lớn so với giá trị căn nhà, có nghĩa là họ có bán nhà thì cũng không
14
thể trả hết nợ. Điều đó dẫn đến tình trạng bán tháo tất cả, và cả tình trạng bị xiết nợ và phát mại
tài sản vì không trả được nợ.
Tình hình trên ngay lập tức làm cho tất cả những chứng khoán có nguồn gốc cầm cố
không bán được, dẫn đến sự xuống dốc của thị trường vốn. Do không bán được các chứng
khoán loại này và giá trị của chứng khoán đó bị sụt giảm mạnh nên các ngân hàng thương mại
trở nên khan hiếm tiền mặt để tiếp tục cho vay vào nền kinh tế, dẫn đến tình trạng đóng băng
trên thị trường tín dụng. Các ngân hàng ngại không cho nhau vay và cũng không muốn cho các
công ty và người tiêu dùng vay, trong khi chi tiêu của người Mĩ là một yếu tố quan trọng, chiếm
tỉ trọng 2/3 trong tăng trưởng GDP của Mĩ. Tình trạng kiệt quệ tiếp tục lan sang các công ty bảo
hiểm đã mạo hiểm tham gia vào việc bảo hiểm những sản phẩm tổng hợp và kết cấu. Vấn đề
nghiêm trọng đã hiện ra trên thị trường hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS). Các công ty bảo hiểm
như AIG cũng đứng trên bờ vực phá sản do đã nhúng tay vào quá trình bảo hiểm các chứng
khoán có liên quan đến các khoản vay dưới chuẩn. Mặc cho các ngân hàng trung ương và chính
phủ đã có những biện pháp cứu trợ tạm thời nhưng vẫn không thể ngăn chặn hết được những gì
sắp xảy ra, và tất cả đều vỡ tan…
Đó là cách mà cuộc khủng hoảng đã hình thành. Góp vào đó là những nhân tố mà chúng
đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng này.
A/ Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng
2.1. Nợ dưới chuẩn:
Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay cho các đối tượng có mức tín nhiệm thấp.
Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công ăn việc làm ổn định,
vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt trong quá khứ. Những đối tượng
này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc
tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn. Chính
vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp
dẫn. Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được thực hiện đối với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà, thế
chấp mua trả góp ô tô, thẻ tín dụng... Các đối tượng tín dụng dưới chuẩn phần nhiều là dân nhập
cư vào Mỹ. Nó cũng được gọi là tính dụng thứ cấp, hay tín dụng “hạng B”, để phân biệt với tín
ra, chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tài chính. Dù người đi vay có mức xếp
hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sản đem thế chấp tốt thì chứng khoán đảm bảo bằng tài
sản này vẫn có thể được xếp hạng tín nhiệm cao và dễ bán. Chính vì thế, chứng khoán hóa tạo
thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp.
Chứng khoán hóa xuất hiện đầu tiên ở MĨ vào năm 1970. Fannie Mae và Freddie Mac -
hai công ty được chính phủ Mỹ bảo trợ - là những công ty đầu tiên và cho đến nay vẫn luôn là
những công ty tích cực nhất trong hoạt động chứng khoán hóa. Hai công ty này đã phát minh ra
chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (hay MBS). Sau đó, các loại chứng khoán đảm bảo
bằng tài sản khác ra đời, như giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (hay CDO) và các thứ tương tự
CDO. Nếu như MBS đóng gói các tài sản thế chấp thực thụ khác nhau lại, thì CDO, xuất hiện từ
năm 1987 và chỉ thực sự phổ biến từ cuối cuối thập niên 1990, thậm chí lại còn đóng gói MBS
16