BỘ Y TẾ
Trường đại học y hà nội
Trần thị quyên
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU
TRỊ HUYẾT ÁP THẤP THỨ PHÁT
CỦA VIÊN HOÀN “THĂNG ÁP DƯỠNG NÃO”
Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II
Hà Nội - 2014
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN THỊ QUYÊN
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ HIỆU QUẢ
ĐIỀU TRỊ HUYẾT ÁP THẤP THỨ PHÁT
CỦA VIÊN HOÀN “THĂNG ÁP DƯỠNG NÃO”
Chuyên ngành: Y học cổ truyền
Mã số: CK 62.72.60.01
LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
viện y học cổ truyền – Bộ công an đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu tại Bệnh viện .
-
Tập thể khoa khám bệnh– Bệnh viện y học cổ truyền – Bộ công
an đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và làm việc.
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới mẹ và gia đình
tôi, đã động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi xin được
cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình
học tập và hoàn thành luận văn này.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan công trình nghiên cứu này là do tôi thực hiện tại Bệnh viện
y học cổ truyền – Bộ công an, không trùng lặp với một công trình nào của các
tác giả khác. Các số liệu trong nghiên cứu này là hoàn toàn trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác.
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- YHHĐ
Y học hiện đại
- YHCT
Y học cổ truyền
- HA
- SHM
Sinh hóa máu
- XQ
X quang
- SA
Siêu âm
- PSQI
Pittsburgh
- ĐT
Điều trị
MỤC LỤC
Trường đại học y hà nội....................................................................................1
Trần thị quyên....................................................................................................1
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HUYẾT ÁP THẤP
THỨ PHÁT.......................................................................................................1
CỦA VIÊN HOÀN “THĂNG ÁP DƯỠNG NÃO”..........................................1
Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II.................................................................1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI......................................................................2
Tập thể khoa khám bệnh– Bệnh viện y học cổ truyền – Bộ công an đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và làm việc................................3
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới mẹ và gia đình tôi, đã
động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi xin được cảm ơn
tới bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn này...............................................................................3
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................4
Tôi cam đoan công trình nghiên cứu này là do tôi thực hiện tại Bệnh viện y
học cổ truyền – Bộ công an, không trùng lặp với một công trình nào của các
tác giả khác. Các số liệu trong nghiên cứu này là hoàn toàn trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác...............................4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................................5
- YHHĐ Y học hiện đại....................................................................................5
- YHCT Y học cổ truyền...................................................................................5
- HA Huyết áp..................................................................................................5
- HAT Huyết áp thấp........................................................................................5
- HATB Huyết áp trung bình............................................................................5
- HATTh Huyết áp tâm thu...............................................................................5
- HATTr Huyết áp tâm trương..........................................................................5
- NNC Nhóm Nghiên cứu................................................................................5
- NĐC Nhóm đối chứng...................................................................................5
- CTM Công thức máu.....................................................................................5
- SHM Sinh hóa máu........................................................................................5
- XQ X quang...................................................................................................5
- SA Siêu âm.....................................................................................................5
- PSQI Pittsburgh..............................................................................................5
- ĐT Điều trị.....................................................................................................5
MỤC LỤC.........................................................................................................6
Huyết áp thấp (HAT) là một tình trạng bệnh lý hay gặp, chiếm tỷ lệ 1020% dân số [1], [2], [3].Ở nước ta chứng bệnh này không những gặp ở người
có tuổi, mà còn thấy ở cả người trẻ tuổi. Đây chính là đối tượng nằm trong lực
lượng lao động chính trên mọi lĩnh vực xã hội. Theo các thống kê về tình hình
sức khỏe của một số cơ quan, doanh nghiệp tại Hà Nội trong năm 2008, có tới
12% số cán bộ công nhân viên có huyết áp tâm thu thấp hơn 90mmHg và
huyết áp tâm trương thấp hơn 60mmHg [4],[5]. Đây thực sự là một vấn đề
đáng quan tâm của ngành y tế.
Theo Y học hiện đại (YHHĐ), HAT trên lâm sàng phân làm hai thể: HAT
tiên phát (không tìm thấy tổn thương thực thể) và HAT thứ phát (tổn thương
giải phẫu bệnh phụ thuộc vào bệnh cơ bản gây ra HAT). Đây là một bệnh khó
điều trị, song nếu có chế độ dự phòng và điều trị kịp thời thì vẫn có tiên lượng
tốt [1], [6].
HAT là một chứng bệnh chưa thu hút được sự quan tâm lớn như tăng
huyếtáp, nhưng nó lại ảnh hưởng đáng kể tới sức khoẻ con người, làm giảm
sút trí tuệ, giảm sút hiệu quả và năng suất lao động.Thường thấy trên lâm sàng
là các triệu chứng: buồn ngủ, mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt hoặc xỉu [1], [6],
[7], [8]. Đây là những biểu hiện chính của sự giảm tưới máu não, tim, cơ vân
và các tạng khác. Tỷ lệ gây tai biến mạch máu não của chứng HAT là 10 –
15% gần bằng tỷ lệ tai biến mạch máu não của bệnh tăng HA[1] .
HAT là một chứng bệnh điều trị không phải dễ dàng nhưng nếu được dự
phòng và điều trị kịp thời thì vẫn cải thiện tốt hơn tình trạng lâm sàng của người
bệnh. Hiện nay, việc điều trị huyết áp thấp bằng thuốc y học hiện đại như trợ tim,
nâng áp, vitamin … cũng thu được một số kết quả nhất định nhưng khó duy trì
lâu dài ở mức bình thường, đặc biệt trong các bệnh mãn tính hay tình trạng cơ
thể bệnh nhân bị suy nhược kéo dài.
Theo Y học cổ truyền (YHCT), HAT thuộc chứng hư của “Huyễn
vựng”, là hậu quả của sự rối loạn chức năng các tạng phủ như: Tâm dương bất
2
ở người trưởng thành: 90 - 140 mmHg.
Huyết áp tối thiểu (HA tâm trương): Là áp suất máu đo được trong thời
kỳ tâm trương, phụ thuộc vào trương lực mạch máu.
Trị số bình thường ở người trưởng thành: 60 - 90 mmHg.
Huyết áp trung bình được coi là huyết áp đưa máu lên não tính theo công
thức:
HATB =
HATTh − HATTr
+ HATTr
3
1.1.2 Định nghĩa về huyết áp thấp
Huyết áp thấp (hypotension arterielle) là huyết áp luôn luôn ở con số
thấp hơn đa số người bình thường[1], [12].
Một người có HAT, nghĩa là huyết áp người đó luôn luôn thấp hơn so với
mức bình thường của cùng lứa tuổi [6]. Ở đây, không kể tới hạ huyết áp trong
trường hợp sốc cấp cứu như: mất máu nhiều và đột ngột, mất nước nặng...
mà chỉ nói tới những người có huyết áp thấp liên tục, từ trước tới nay huyết
áp vẫn thấp hoặc thấp trong một thời gian dài không có tính chất đột ngột.
người trưởng thành có huyết áp tối đa trong giới hạn 90 – 140 mmHg,
huyết áp tối thiểu 60 – 90 mmHg, dưới mức này coi như là huyết áp thấp[1],
[12].
4
Huyết áp tối đa (hay cũng gọi là huyết áp tâm thu)
:
1.2.1. Huyết áp thấp tiên phát (còn gọi là huyết áp thấp tự phát hoặc huyết áp
thấp do thể tạng)
Có những người thường xuyên có huyết áp thấp. Huyết áp tâm thu vào
khoảng 85 - 90mmHg nhưng sức khoẻ bình thường, chỉ khi đo huyết áp mới
phát hiện ra huyết áp thấp. Đây là những người có thể tạng đặc biệt, từ nhỏ tới
lớn HA vẫn thấy như thế nhưng không hề có biểu hiện ở bộ phận nào trong cơ
thể. Những người này vẫn sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, khi họ gắng sức
thì vẫn thấy chóng mặt[1], [6], [9]. Do đó không coi là bệnh lý và không cần
điều trị gì. Nhiều người huyết áp thấp vẫn sống khoẻ mạnh đến già.
1.2.2. Huyết áp thấp thứ phát (còn gọi là huyết áp thấp hậu phát)
Đây là những người trước vẫn có huyết áp bình thường, nhưng sau đó
huyết áp bị tụt dần sau vài ba tháng. Loại huyết áp thứ phát này thường gặp ở
những người suy nhược kéo dài, mắc các bệnh thiểu năng tuần hoàn não, lao,
nhiễm khuẩn, nhiễm độc kéo dài, người ốm lâu, thiếu máu kéo dài, người già
có rối loạn hệ thần kinh tự điều chỉnh, bị một số nội tiết (suy tuyến thượng
thận, suy tuyến giáp mãn tính...) hoặc dùng các thuốc hạ áp liều cao kéo dài.
Loại huyết áp này thường có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng làm việc và
sức khoẻ của người bị bệnh[1],[6],[9]. Đây là loại bệnh cần được điều trị kịp
thời tránh gây ra sự mệt mỏi và khó chịu cho bệnh nhân. Đồng thời có thể
phòng được các biến chứng nguy hiểm xảy ra cho người bệnh
1.2.3. Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán huyết áp thấp
Như trên đã đề cập HAT là biểu hiện sự rối loạn chức năng vỏ não của
trung khu thần kinh vận mạch [15]. Nó gây ra triệu chứng thiếu máu từng cơ
quan, nhất là não và tim. Trên lâm sàng, dù huyết áp thấp do nguyên nhân nào
thì biểu hiện chủ yếu cũng bao gồm:
- Triệu chứng cơ năng: Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, hay quên, giảm tập
trung trí lực, nhất là khi thay đổi tư thế có thể thoáng ngất hoặc ngất. Nếu để
bệnh nhân ở tư thế nằm thì sau 1-2 phút các triệu chứng có thể giảm dần rồi
hết hẳn [9], [7], [15],[16],[17].
giao cảm
- Chất ức chế tổng hợp Prostaglandin
+
↑ giữ na và- H2Chất
O kháng Serotonin
- Vasopressin
+ Điều
↑ nhịp
tim khiển nhịp nhĩ
↑ lưu lượng tuần hoàn
Những phương thức này được thể hiện qua sơ đồ sau:
↑ ứ máu tĩnh mạch
↑ huyết áp
↑ co mạch
↑ sức cản ngoại vi
↓ giãn mạch
7
Sơ đồ 1: Các phương thức làm tăng huyết áp
1.2.4.2 Điều trị.
Ngoài việc điều trị nguyên nhân, điều trị HAT cần chú ý tới nghỉ ngơi,
tăng cường ăn uống, rèn luyện thân thể tác động đến trạng thái thần kinh, chức
năng co bóp của tim và điều tiết các mạch máu có tác dụng nâng HA.
Thuốc thường dùng: trong điều trị người bệnh có chứng HAT thứ phát,
các thuốc sau thường được xem xét và sử dụng cho phù hợp với từng người
bệnhvà mức độ bệnh:
* Ephedrin: Có tác dụng co mạch, tăng HA. Tuy là thuốc chủ yếu để
chữa và phòng cơn hen song cũng có tác dụng nâng HA với liều dùng ngày 1
* Tụt HA khi đứng: thường bao gồm các triệu chứng như: hoa mắt,
chóng mặt, mờ mắt hoặc giảm thị lực, người mệt mỏi và ngất. Passant – U,
Warkentin – S, Gustafson – L (1997) đã nghiên cứu trên 151 người bệnh có
chứng HAT, thấy tụt HA khi đứng 77 người và đưa ra kết luận: tụt HA khi
đứng là biểu hiện thường gặp ở người bệnh có HAT [23] [24], [25].
* Tổn hại ốc tai: Pirroda – A, Saggese – D, Giaus – G, Ferri – GG,
Nascetti – S, Gaddi – A (1997) sau khi nghiên cứu đã khẳng định HAT có liên
quan tới sự mất thăng bằng gây bệnh tổn hại ốc tai dẫn đến làm mất khả năng
nghe [26].
* Sa sút trí tuệ: Guo – Z, Viitamen – M, Fratiglioni – L, Winplad – B
(1997) thấy rằng HAT gây ra chứng xơ não và đóng vai trò quan trọng trong
bệnh sa sút trí tuệ ở người cao tuổi [24], [27].
9
Busby – Wj, Camppell – Aj, Robertson – Mc (1996) sau khi nghiên cứu
tỷ lệ tử vong ở người lớn tuổi có HAT trong 3 năm, thấy rằng tỷ lệ tử vong ở
người HAT cao song thường do các căn bệnh khác kèm theo hoặc tai nạn rủi
ro, chứ HAT không trực tiếp làm tăng tỷ lệ tử vong [2].
1.3. Tổng quan về huyết áp thấp theo Y học cổ truyền
Huyết áp thấp nằm trong chứng Huyễn vựng của YHCT. Huyễn là hoa
mắt, trước mắt hay có cảm giác tối sầm. Vựng là váng đầu, thấy đầu xoay
chuyển, có cảm giác chòng chành như ngồi trên thuyền. Hai triệu chứng này
thường xuất hiện cùng nhau lên gọi chung là Huyễn vựng. Nhẹ thì hết ngay
khi nhắm mắt lại, nặng thì kèm buồn nôn, đổ mồ hôi, đôi khi ngất xỉu... [28],
[29], [30], [31], [32], [33], [34], [35].
1.3.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh dẫn đến huyết áp thấp theo YHCT
Nguyên nhân gây ra Huyễn vựng thuộc về nội thương, sách Tố vấn chí
chân yếu đại luận nói rằng: "Mọi chứng quay cuồng chao đảo đều thuộc can
mộc", ý nói do can phong nội động sinh ra. Trong “Hà gian lục thư” của Lưu
dương bất túc, tỳ vị hư nhược và khí huyết lưỡng hư [12], [40], [46], [43], [44].
1.3.2.1. Thể tâm dương bất túc
Với các biểu hiện: tinh thần mệt mỏi, hoa mắt, váng đầu, buồn ngủ, chân tay
lạnh, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch trầm vô lực hoặc trầm tế.
Cơ chế bệnh sinh của thể này được lý giải do tâm chủ thần minh, là nơi
tàng thần, tâm dương hư tổn không tàng chứa được thần làm cho bệnh nhân luôn
cảm thấy tinh thần mệt mỏi, bất an. Tâm ở thượng tiêu, chủ về hoả là dương ở
trong dương, nay tâm dương bất túc thì khí thanh dương không thăng lên được,
không nuôi dưỡng được cho não bộ gây ra hoa mắt, chóng mặt buồn ngủ. Tâm
chủ hoả, tâm dương hư suy thì tâm hoả sẽ thiếu. Dương và hoả đều không đủ
nên đưa đến chân tay lạnh, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
Vì vậy pháp điều trị của thể bệnh này là: Ôn bổ tâm dương và bài thuốc
cổ phương thường dùng để điều trị là "Quế chi cam thảo thang gia vị" [12],
[41], [42], [46], [43], [44].
1.3.2.2. Thể tỳ vị hư nhược
11
Với những biểu hiện trên lâm sàng như: Mệt mỏi, hơi thở ngắn, váng
đầu, hồi hộp, cơ nhục teo nhẽo, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi, ăn kém, đầy bụng, chất
lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm vô lực.
Cơ chế bệnh sinh của thể này được lý giải do tỳ chủ vận hoá, tỳ vị hư
làm thức ăn không tiêu hoá được, không có các chất dinh dưỡng cần thiết để
nuôi dưỡng cơ thể làm cho người bệnh mệt mỏi, hơi thở ngắn, váng đầu, hồi
hộp, cơ nhục mềm nhẽo. Tỳ chủ vận hoá thủy thấp, tỳ hư làm chức năng vận
hoá suy giảm nên thấp ứ lại mà hoá đàm, đàm trọc ngăn trở trung khí vận
hành mà gây ra ăn kém, đầy bụng. Tỳ hư không vận chuyển chất tinh vi của
thuỷ cốc đi nuôi dưỡng phần cơ biểu của cơ thể, làm cho vệ khí ngày một
kém đi, vệ khí suy thì người bệnh sợ lạnh, dễ ra mồ hôi. Tỳ hư, khí huyết
không đủ làm cho chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm vô lực.
- "Phù chính thăng áp thang" trong Thiên gia diệu phương quyển thượng
gồm có: Nhân sâm 10g, Mạch đông 15g, Sinh địa 20g, Trần bì 15g, A giao
15g, Chỉ xác 10g, Hoàng kỳ 30g. Có tác dụng ích khí dưỡng âm, trị khí âm
đều hư, huyết áp thấp [47],[51].
- Viên hoạt huyết dưỡng não được bào chế từ Bạch quả và Đinh lăng, do
công ty dược Traphaco sản xuất được ứng dụng rất rộng rãi trên lâm sàng
điều trị chứng thiểu năng tuần hoàn não trong đó bao gồm chứng huyết áp
thấp [53].
- Viên Dogarlic thuốc được bào chế từ tỏi, nghệ, có tác dụng giảm mỡ trong
máu, điều hòa đường máu, tăng cường tuần hoàn máu, bảo vệ thành mạch, ngày
uống 2 lần, mỗi lần 1-2 viên trước bữa ăn, uống từ 15-30 ngày [54].
- Viên thăng áp ND có nguồn gốc từ bài thuốc cổ phương “gia vị phù
chính tăng áp thang” trong thiên gia diệu phương, thành phần gồm: Nhân
sâm, A giao, Mạch môn, Cam thảo, Trần bì, Ngũ vị tử, Sinh địa, Chỉ xác,
Hoàng kỳ. Thuốc có tác dụng: tăng cường sinh lực, điều hòa khí huyết, do
công ty dược phẩm Nam dược sản xuất dạng viên nang cứng 500mg được
dùng trong điều trị chứng huyễn vựng [55].
- Trà tăng áp An Bình: được sản xuất từ bài “Quế chi cam thảo thang gia vị”,
thành phần gồm: Nhục quế, Quế chi, Cam thảo, Can khương. Thuốc do Công ty
cổ phần thương mại và dược phẩm An Bình sản xuất dạng trà tan. Chế phẩm này
14
có tác dụng điều trị huyết áp thấp giúp trừ lạnh, làm ấm cơ thể, tăng lưu thông khí
huyết; dùng trong các trường hợp huyết áp thấp, tỳ vị hư nhược, nôn, chân tay
lạnh.[56]
Nguyễn Đình Nhân, Phạm Tử Dương, Nguyễn Nhược Kim nghiên cứu tác
dụng điều trị HAT thứ phát của bài “Tăng áp thang”, được bào chế từ 11 vị thuốc
dựa trên bài “Bổ trung ích khí” gia thêm các vị thuốc: Ngũ gia bì, Mạch môn
đông, Ngũ vị tử. Thuốc có tác dụng điều bổ tỳ vị , thăng dương, ích khí có tác
của viên thăng áp “TA”. Sau một tháng điều trị cho 162 bệnh nhân, các triệu
chứng HAT giảm từ 81,4 - 96,2%. Tỷ lệ bệnh nhân có huyết áp tăng từ 6 – 20
mmHg chiếm 92,6%. Thuốc không ảnh hưởng đến cơ quan tạo máu và chức
năng gan thận [61].
- Nguyễn Thị Thu Hà (1999) tiến hành nghiên cứu: Đánh giá tác dụng
điều trị HAT của bài thuốc cổ phương “ Bổ trung ích khí thang”. Kết quả
nghiên cứu cho thấy sau đợt điều trị, các triệu chứng lâm sàng được cải thiện
từ 94,44 - 100%, chỉ số HATTh tăng 15mmHg, HATTr tăng 12mmHg[62].
-Nguyễn Trọng Minh (2002), Đánh giá tác dụng điều trị HAT của bài
thuốc cổ phương “Sinh mạch tán” với 30 bệnh nhân, tỉ lệ khỏi là 93,3%,
không khỏi là 6,7% [63]
- Phí Thị Ngọc (2009) nghiên cứu tác dụng HAT của bài “Nhân sâm
dưỡng vinh thang” với 52 bệnh nhân tỉ lệ khỏi 88,5%, không khỏi 11,5%.[64]
- Hà Văn Diễn (2010) nghiên cứu tác dụng điều trị HAT của viên hoàn
“Hồng mạch khang” với 60 bệnh nhân tỉ lệ đạt hiệu quả là 96,7%, không đạt
hiệu quả là 3,3% [55]
-Trần Thị Dung (2011) nghiên cứu: Đánh giá tác dụng điều trị huyết áp
thấp của bài thuốc “ Hoàng kỳ bổ huyết thang”. Kết quả nghiên cứu cho thấy
tỉ lệ đạt hiệu quả 90%, không đạt hiệu quả là 10% [66].
Ngoài ra còn có phương pháp điều trị không dùng thuốc đem lại hiệu quả
khá cao. Trong đó có nghiên cứu của Ngô Quyết chiến: Nghiên cứu điều trị
HAT bằng phương pháp nhĩ châm kết hợp khai huyệt thời gian khí thịnh theo
địa chỉ. Kết quả nâng huyết áp đạt hiệu quả là 93,33% [67].
16
1.4. Giới thiệu về bài thuốc nghiên cứu
1.4.1.Nguồn gốc xuất sứ của chế phẩm thuốc nghiên cứu thăng áp dưỡng
não (TADN)
Thuốc nghiên cứu TADN có nguồn gốc từ bài thuốc cổ phương “ Bổ
4
5
6
7
Cam thảo
Bạch truật
Thăng ma
Sài hồ
Liều
phơi 04g
khí
Tăng tuần hoàn
phơi 06g
não
An thần,
thân 06g
Macrocephalate
Rhizoma
Rễ,
Kháng
cimicifugae
phơi khô
chống đau, chống
Rễ
vi khuẩn
An thần,
Radix Bupleuri
thân 06g
thân 06g
phơi 06g
khô
sức
10 Bạch quả
quả 06g
củ 06g
15g
dịch
Tăng huyết áp
Tăng cường tuần
hoàn máu não
Cung cấp máu
cho não, cải thiện
trí nhớ, chữa đau