Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả thực tiễn tại thành phố hà nội - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ PHƢƠNG ANH

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN
HÀNG GIẢ - THỰC TIỄN TRÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ PHƢƠNG ANH

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN
HÀNG GIẢ - THỰC TIỄN TRÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành

: Luật Hiến Pháp – Luật Hành Chính

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Sở hữu trí tuệ:

SHTT

Uỷ ban nhân dân:

UBND

Chi cục Quản lý thị trường

QLTT


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê hình thức xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả theo
nghị định 185 ..................................................................................................................... 34
Bảng 2.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả ..................... 36
Bảng 2.2.1 Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính về hàng giả của Chi cục Quản lý
thị trường – Sở Công thương Hà Nội (từ năm 2013-2017) ............................................... 39


MỤC LỤC
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ ................................................................ 1
1.1. Vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả ............................................................... 1
1.1.1. Khái niệm hàng giả, buôn bán hàng giả............................................................. 1
1.1.2. Hành vi vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả ........................................... 3
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả .................................................. 9
1.3. Quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả .......... 11

chống và xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả. ................................................. 57
3.1.4. Đảm bảo sự phối hợp giữa Doanh nghiệp với các cơ quan chức năng, liên
minh giữa các nhà sản xuất trong công tác đấu tranh chống buôn bán hàng giả là rất
cần thiết trong giai đoạn hiện nay .............................................................................. 59
3.1.5. Phát huy vai trò của các thiết chế xã hội trong việc phát hiện và đấu tranh với
hành vi buôn bán hàng giả ......................................................................................... 60
3.1.6. Quán triệt chủ trương “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” ..................... 61
3.2. Các giải pháp để tăng cường xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả ................ 62
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật xử lý vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
..................................................................................................................................... 62
3.2.2. Đào tạo đội ngũ cán bộ, trang thiết bị, phương tiện, kinh phí cho lực lượng
chức năng trong công tác phòng chống và xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán
hàng giả ...................................................................................................................... 64
3.2.3. Tăng cường chỉ đạo, phối hợp liên ngành kiểm tra, rà soát công tác chuyên
môn xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả ............................................ 65
3.2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa Doanh nghiệp với các cơ quan chức năng, liên
minh giữa các nhà sản xuất trong công tác đấu tranh chống buôn bán hàng giả ..... 65
3.2.5. Tăng cường công tác tuyên truyền và vận động người tiêu dùng tham gia đấu
tranh chống buôn bán hàng giả .................................................................................. 66
3.2.6. Đẩy mạnh kiểm tra, rà soát việc xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng
giả ............................................................................................................................... 67


3.2.7. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện thông tin,
đấu tranh với hành vi buôn bán hàng giả. .................................................................. 69
3.2.8.Các giải pháp bổ trợ .......................................................................................... 70
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 74


MỞ ĐẦU

Là một trong 3 tỉnh thành lớn nhất trong cả nước, Hà Nội là thị trường tiêu thụ
với sức mua lớn của cả nước, hạ tầng thương mại được đầu tư với quy mô lớn, mạng lưới
phân phối phát triển đồng bộ, hiện đại hàng đầu cả nước với 25 trung tâm thương mại,
121 siêu thị, 414 chợ, trên 600 hệ thống cửa hàng tiện ích, trên 50 chuỗi kinh doanh các
hàng nông sản, thực phẩm1... có khả năng tập trung, phát luồng hàng tới các vùng, miền
trong cả nước và xuất khẩu. Chính vì các điều kiện thuận lợi và nền tảng thị trường nhất
định, Hà Nội chính là địa điểm đứng đầu về vấn nạn buôn bán hàng giả. Thực tế cho thấy
rằng, công tác phòng chống hàng giả ở địa bàn Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc, các vấn đề nổi cộm nhức nhối chưa được giải quyết triệt để.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu hệ thống từ văn bản pháp luật
đến thực tiễn về công tác xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn
Thành phố Hà Nội để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi
pháp luật xử phạt vi phạm phù hợp với thực tiễn là rất cần thiết. Vì thế học viên đã lựa
chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả - Thực tiễn trên Thành
phố Hà Nội” để làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính
- Nguyễn Văn Thạch (1997), Trách nhiệm hành chính, Luận văn thạc sĩ luật học,
Viện Nhà nước và Pháp luật;
- Vũ Thư (2000), Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội;
- Đỗ Hoàng Yến (2002), "Tăng cường và đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát trong
xử phạt vi phạm hành chính", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;
1

/>

- Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2005), Bình luận khoa học Pháp lệnh Xử
phạt vi phạm hành chính năm 2002, Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Bùi Xuân Đức (2006), "Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung: về thời gian từ năm 2013 đến nay; về không
gian: xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả tại địa bàn Thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về
quản lý hành chính nhà nước, xử phạt vi phạm hành chính và các quan điểm định hướng
ổn định phát triển kinh tế.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp lịch sử: Xem xét pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính theo từng
thời kỳ. Mỗi giai đoạn sẽ có pháp luật phù hợp. Từ đó tìm ra quy luật của sự phát triển
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Phương pháp được sử dụng tập trung tại
Chương II.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả
của các công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính. Trên cơ sở đó và sự sắp
xếp với kết cấu theo góc nhìn của tác giả. Phương pháp này được sử dụng tập trung tại
Chương I và Chương III.
Phương pháp so sánh: So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán
hàng giả của nước ta trong từng giai đoạn và với lĩnh vực xử phạt khác; So sánh pháp luật
xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả với tội phạm buôn bán hàng giả.
Phương pháp này được sử dụng tập trung tại Chương I.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp xã hội học pháp luật (để phân
tích cơ sở xã hội của việc xử phạt vi phạm hành chính); phương pháp của thống kê xã hội


học (từ những kết quả thống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả để đề ra những giải pháp hợp lý).
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có những đóng góp khoa học như sau:
- Ý nghĩa lý luận: đã hệ thống hoá và góp phần hoàn thiện khái niệm, đặc điểm
của xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả; góp phần hoàn thiện nhận thức lý

hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi. Người làm hàng giả cũng có khi sử
dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người
mua”. Khái niệm này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa phải là khái
niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả.
Đến Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng
tại Điều 3 quy định về hàng giả một cách cụ thể hơn. Như vậy, về thuộc tính có thể xác
định hàng giả gồm 4 loại:
Thứ nhất, trường hợp giả về nội dung: Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công
dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên
gọi của hàng hoá; Có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công
dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng
hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt
2

/>gi%E1%BA%A3&ChuyenNganh=0&DiaLy=0&ItemID=9484

1


mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký,
công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho
người, vật nuôi không có dược chất, có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã
đăng ký, không đủ loại dược chất đã đăng ký, có dược chất khác với dược chất ghi trên
nhãn, bao bì hàng hoá; Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất
chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký,
công bố áp dụng, không đủ loại hoạt chất đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi
trên nhãn, bao bì hàng hóa.
Thứ hai, trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa),
bao gồm: Hàng hóa có nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá giả mạo tên thương nhân, địa chỉ

khái quát như sau: Hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản xuất ra trái pháp
luật có hình dáng giống như những sản phẩm hàng hóa được Nhà nước cho phép sản
xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản phẩm hàng hóa không có giá
trị sử dụng đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó, là loại
sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tương tự có khả năng làm
cho người tiêu dùng nhầm lẫn với sản phẩm hàng hóa thật mà cơ sở sản xuất kinh doanh
đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền SHTT hoặc được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà
Việt Nam có tham gia.
Như vậy, liên quan đến hàng giả có hai nhóm hành vi bao gồm: sản xuất hàng giả
và buôn bán hàng giả. “Sản xuất” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động
chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp,
pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa. “Buôn
bán” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ,
bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa
hàng hóa vào lưu thông trên thị trường. Hành vi sản xuất và buôn bán hàng hoá thuộc
một trong các trường hợp như đã nêu ở trên được coi là hành vi sản xuất và buôn bán
hàng giả. Trong bài luận văn này sẽ giới hạn trong hoạt động buôn bán hàng giả.
1.1.2. Hành vi vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm
3


Vi phạm hành chính là một trong những loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ
biến và có ảnh hướng lớn tới xã hội, tuy có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội
phạm. Vi phạm hành chính là hành vi mang tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước,
có lỗi, tính trái pháp luật hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Khái niệm vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
được xác định là: hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật
phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

của thương hiệu lớn nhưng lại muốn bỏ ra ít chi phí để có được. Chính vì điều này đã
tăng khả năng tiêu thụ hàng giả trong thị trường Việt Nam ngày nay. Người tiêu dùng khi
mua hàng không có thói quen quan tâm về nguôn gốc, xuất xứ của sản phẩm khiến người
bán thấy lợi trước mắt mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính về buôn bán hàng.
Thứ tư, chủ thể vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả đa dạng và phổ biến
như: tổ chức và cá nhân thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Dù ở mức độ nào, đều là chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh
thương mại.
(i) Chủ thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài tại Việt Nam thường có
các hành vi sản xuất, buôn bán hàng hoá giả mạo nhãn mác, kiểu dáng, thương hiệu của
các sản phẩm nước ngoài gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng như: đồng hồ, đồ gia dụng
điện tử, mỹ phẩm cao cấp,…Các thương hiệu hay bị các doanh nghiệp làm giả phải kể
đến như: lĩnh vực điện máy gia dụng: Panasonic, Samsung, Sony,…; lĩnh vực mỹ phẩm
cao cấp: Dior, Mac, Ohui,…; lĩnh vực thời trang: Gucci, Louis Vuitton, Zara, Nike;…
(ii) Chủ thể là cá nhân và hộ kinh doanh thường kinh doanh các mặt hàng hoá giả
thông thường cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày như là: Mì chính, gia vị, dầu gội, bánh
kẹo,….
Hành vi buôn bán hàng giả diễn ra trên nhiều lĩnh vực vì vậy các đối tượng cung
cấp hàng giả cũng đa dạng theo từng lĩnh vực, theo từng phân cấp thị trường và xuất phát
từ thị yếu tiêu dùng của người tiêu dùng trên từng địa bàn. Trên địa bàn Thành phố Hà
Nội hiện nay, các mặt hàng giả được rao bán tràn lan và được người tiêu dùng ưa chuộng
5


phải kể đến là trong lĩnh vực thời trang và mỹ phẩm. Các mặt hàng này được chủ thể kinh
doanh nhập khẩu đa phần là từ Trung Quốc hoặc sản xuất ngay tại Việt Nam với nhãn
mác giả là hàng nước ngoài. Hàng hoá giả này được ưa chuộng bởi giá thành thấp, hình
thức giống như hàng thật và có nhiều chủ thể cung cấp để lựa chọn và mua bán rất thuận
tiện.
So với các chủ thể vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác như hải quan, môi

213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005:
Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý: Hàng hoá giả mạo nhãn
hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân
biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà
không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý;
Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể
quyền tác giả hoặc quyền liên quan.
(iv) Nhóm hành vi buôn bán tem, nhãn, bao bì giả:
Tem, nhãn, bao bì giả” gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem
chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ
chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên
thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì
hàng hóa của thương nhân khác.
1.1.2.3. Phân biệt hành vi vi phạm hành chính và tội phạm về buôn bán hàng giả
Vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả và tội buôn bán hàng giả được quy
định trong Bộ Luật hình sự có sự tương đồng thể hiện ở hành vi do cá nhân, tổ chức thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Nhưng điểm khác nhau là vi phạm hành chính là hành vi
xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước và cơ sở để xử phạt là Luật xử lý vi phạm hành
chính. Tội buôn bán hàng giả là hành vi nguy hiểm cho xã hội trái pháp luật Hình sự và
phải chịu phạt theo Bộ Luật Hình sự 2015.

7


(i) Mặt khách quan: Dấu hiệu cơ bản để phân biệt vi phạm hành chính với tội
phạm là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Vi phạm hành chính có mức
độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm hình sự. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi vi phạm hành chính trong việc buôn bán hàng giả được đánh giá ở nhiều yếu tố
khác nhau như: chất lượng hàng hóa, mức độ giả (giả về hình thức, nội dung hay cả hai),
tính theo giá trị của lô hàng hóa giả đó,… được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành

Theo Bộ luật hình sự hiện hành thì chủ thể của tội phạm là cá nhân (Điều 2) phải
có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện một tội phạm cụ thể và phải đạt độ tuổi
quy định. Cụ thể đó là phải từ 14 tuổi đến chưa đầy 16 tuổi đối với tội phạm rất nghiêm
trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng và từ 16 tuổi trở lên đối với mọi tội phạm (Điều
12). Trong chủ thể của tội phạm buôn bán hàng giả, Bộ luật hình sự còn quy định cho
pháp nhân thương mại thay vì là tổ chức (rất rộng) như trong chủ thể của vi phạm hành
chính về buôn bán hàng giả. Bộ luật Dân sự quy định pháp nhân thương mại bao gồm
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi
nhuận. Như vậy, phạm vi chủ thể của vi phạm hành chính rộng hơn rất nhiều so với tội
phạm trong lĩnh vực buôn bán hàng giả.
(iv) Về hệ quả pháp lý đối với người vi phạm: Chủ thể vi phạm hành chính trong
lĩnh vực buôn bán hàng giả sẽ bị xử phạt hành chính. Tội phạm buôn bán hàng giả sẽ phải
chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt theo Bộ Luật Hình sự
và chủ thể vi phạm sẽ là tội phạm.
Như vậy, ngoài những đặc điểm chung là vi phạm pháp luật, cả vi phạm hành
chính và tội phạm đều có những dấu hiệu riêng biệt được coi là đặc điểm nhận dạng hành
vi. Từ đó, chúng ta cần nhìn nhận vào những đặc điểm đó để phân biệt được chúng trong
các trường hợp cụ thể, đảm bảo thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh.
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
(i) Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Theo Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, xử phạt vi phạm
hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
9


Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả là hoạt động áp
dụng pháp luật nhằm giải quyết các vụ việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán
hàng giả do cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi. Cũng có thể hiểu, xử phạt vi phạm hành

hình phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm đó gây ra.
Thứ năm, kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính là các quyết định xử
phạt bao gồm các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng với cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm hành chính. Việc quyết định áp dụng biện pháp xử phạt có thể hiện sự trừng phạt
của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, qua đó giúp người dân có ý
thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung.
1.3. Quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả

1.3.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xử lý các hành vi vi phạm hành chính về
buôn bán hàng giả bao gồm:
(i) Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự kinh tế và chức vụ (Bộ Công
an) là lực lượng có chức năng điều tra, khám phá các đường dây, các ổ nhóm sản xuất,
buôn bán hàng giả; phối hợp với các lực lượng hữu quan để đấu tranh ngăn chặn tình
trạng buôn bán hàng giả.
(ii) Lực lượng Quản lý thị trường là lực lượng đóng vai trò chính trong cuộc đấu
tranh phòng và chống hàng giả. Theo Quyết định số 907/QĐ-BCT ngày 06 tháng 02 năm
2013 của Bộ Công Thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Cục Quản lý thị trường, đây là lực lượng chuyên nghiệp có chức năng bám sát thị
tường, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm hành chính về buôn
bán hàng giả, và các vi phạm khác. Phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan trong
công tác đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng
và các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác trái quy định của pháp luật.
(iii) Lực lượng Hải quan: chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa,
phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động.
11



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status