CÁC LOẠI KHỚP nối sử DỤNG TRONG PHỤC HÌNH hàm KHUNG - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THÁI THÔNG

CÁC LOẠI KHỚP NỐI SỬ DỤNG
TRONG PHỤC HÌNH HÀM KHUNG

CHUYÊN ĐỀ TIẾN SỸ

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THÁI THÔNG

CÁC LOẠI KHỚP NỐI SỬ DỤNG TRONG
PHỤC HÌNH HÀM KHUNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS.Tống Minh Sơn
CHO ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MẤT RĂNG
KENNEDY LOẠI I VÀ II BẰNG HÀM KHUNG CÓ SỬ DỤNG
KHỚP NỐI PRECI

7. Vận dụng chuyên đề vào đề tài nghiên cứu.............................................34
KẾT LUẬN.....................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Thiết kế của Winder...............................................................................4
Hình 2 Thiết kế của Parr...................................................................................4
Hình 3 Thiết kế của William Everett Griswold.................................................5
Hình 4. Thiết kế của Herman Chayes................................................................6
Hình 5. Rãnh trượt chính xác...........................................................................9
Hình 6. Khớp nối trục.....................................................................................10
Hình 7 Khớp nối Preci Clix............................................................................12
Hình 8. Khớp nối Preci Vertix[4]....................................................................13
Hình 9. Khớp nối Preci Sagix.........................................................................14
Hình 10. Khớp nối Ceka Revax[6]..................................................................15
Hình 11. Khớp nối Preci Vertix AT[4].............................................................16
Hình 12ª- Preci 52U Hình 12b Preci 52S........................................................16
.........................................................................................................................17
Hình 13. Khớp nối O-SO [4]...........................................................................17
Hình 14. Khớp nối DSE [5].............................................................................17
Hình 15. Hệ thống MAYS...............................................................................18
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)..........................................18
Hình 16. Khớp nối Stub attachment................................................................19
Hình 17 Thanh đơn (single sleeve bar joints)..................................................20
Hình 18. Khớp nối dạng nhiều thanh( Bar Attachment)..................................21


1

2

kết ngoài thân răng còn có tác dụng chuyển lực tác động từ trụ đỡ qua xương
và phần mềm qua nền của hàm giả. Nghiên cứu hồi cứu của tác giả người Ấn
Độ -Naveen Gupta -2013 cho thấy hiệu quả của điều trị mất răng bằng hàm
khung có sử dụng khớp nối cho tỷ lệ tốt 83,3% sau 5 năm sử dụng; 67,3%
trong thời gian theo dõi là 15 năm và đạt tới 50% tốt trong thời gian là 20
năm[1]. Nhờ vào tính ưu việt của khớp nối kết hợp với hàm khung nên chúng
tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Các loại khớp nối sử dụng trong hàm
khung” với các mục tiêu sau:
1.

Đặc điểm, cấu tạo, chức năng và phân loại của khớp nối.

2.

Đặc tính của khớp nối Preci và hàm khung.


3

1. Định nghĩa về khớp nối.
Một khớp nối chính xác là một bộ phận cơ khí dành cho việc định hình,
duy trì và sự ổn định cho các phần răng giả cố định có thể tháo rời.
Khớp nối chính xác được cấu tạo bởi hai phần: phần âm và phần
dương, để liên kết hai phần của phục hình với nhau. Phần dương được làm
bằng kim loại được đặt vào bên trong hoặc bên ngoài của chụp răng trên răng
trụ. Còn phần âm nằm trong nền của hàm giả được thiết kế sao cho phù hợp
với hình dáng của phần dương và hai phần phải được lồng khít vào nhau [2].
Đối với các phục hình tháo lắp từng phần, khớp nối là thành phần cơ

Hình 2 Thiết kế của Parr.
Khớp nối ngoài thân thân Extracoronal đầu tiên được cấp bằng chứng
nhận sáng chế số US733.320 của tác giả người Mỹ William Everett Griswold
(bằng sáng chế cấp ngày 07/07/1903)


5

Hình 3 Thiết kế của William Everett Griswold.
(Nguồn http://www.google.com/patents/US733320)
Cấu tạo của khớp nối này bao gồm có 3 thành phần liên kết chặt chẽ
với nhau, có tính năng lồng vào nhau: dây buộc, thanh chữ T (phần âm), một
thanh hình chữ L (phần dương). Phần âm có một loạt các nếp gấp để tăng tính
năng lưu giữ còn phần dương cũng có các nếp gấp tương ứng để cho hai phần
được lồng khít vào nhau và được buộc nhờ vào một đoạn thép hình chữ V
giúp cho phần âm và dương được lồng khít. Sự ra đời của khớp nối này đưa ra
một bước tiến mới trong chuyên ngành phục hình răng cố định thời bấy giờ.
Tuy nhiên loại khớp nối này chỉ áp dụng cho cầu răng với khoảng mất răng
ngắn và trong quá trình sử dụng thì gặp trở ngại về lưu giữ khi hàm giả thực
hiện chức năng. Tiến sĩ Herman Chayes đã xây dựng các nguyên tắc của khớp
nối trong thân răng vào năm 1906 (Hình 4). Kể từ đó khớp nối đang đóng một
vai trò quan trọng trong một phần răng giả tháo lắp và cố định. Chính nhờ
phát minh này các nhà khoa học, các bác sỹ lâm sàng đã liên tục cải tiến ra


6

nhiều loại khớp nối khác nhau để phù hợp với từng trường hợp mất răng cụ
thể.


mái, độ khít sát cao, lưu giữ tốt khi mang hàm giả tháo lắp, quan trọng là làm
giảm tối đa sự di chuyển của hàm giả khi hàm hoạt động chức năng.
3. Phân loại khớp nối [10]
Khớp nối có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, dựa trên độ
chính xác có hai loại là chính xác toàn phần (Precision) được chế tạo bằng
máy đúc sẵn có thể làm bằng nhựa, hoặc sáp loại thứ 2 chính xác bán phần
(Semiprecision) được tạo hình khớp nối đắp sáp bằng tay, tùy thuộc vào
phương pháp chế tạo và sự kết nối phù hợp của các thành phần với nhau.
Khớp nối chính xác được tiền chế, đúc gia công các thành phần hợp kim và
việc sản xuất đòi hỏi chính xác cao chỉ cho phép sai số rất nhỏ. Các phương
pháp chế tạo cho các khớp nối chính xác bán phần là có thể tự thiết kế ra khớp
nối từ sự sáng tạo của bác sỹ hoặc từ các kỹ thuật viên thì mức độ chế tạo có
sai số lớn hơn loại chính xác toàn phần.
Khớp nối được phân loại theo mối quan hệ của chúng với các răng trụ.
Nếu khớp nối được tích hợp bên trong thân của răng trụ thì được gọi là khớp


8

nối trong thân răng (Intracoronal attachment), khi nằm ở phía ngoài thân răng
thì được gọi là khớp nối ngoài thân răng (Extracoronal attachment).
Phân loại theo chức năng có hai loại: khớp nối cứng (Rigid attachment)
và khớp nối đàn hồi (Resilent attachment). Các khớp nối đàn hồi có khả năng
di chuyển tự do trong mọi mặt phẳng mà không bị ràng buộc bởi lực xoắn vặn
răng, kết nối giữa các thành phần của khớp nối đàn hồi được liên lạc duy nhất
giữa hàm giả tháo lắp từng phần và răng. Một khớp nối có được chức năng
của nó nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành phần với nhau đó là khớp
nối được tích hợp vào một phần của hàm giả tháo lắp, các thành phần kết nối
được tích hợp vào răng trụ.
3.1. Phân loại theo kiểu khớp nối: có 4 nhóm chính

Các khớp nối trong thân răng được chỉ định khi răng trụ có đường kính
đủ độ lớn để có thể gắn một rãnh âm vào chụp răng của nó và không làm thay
đổi chu vi của thân răng.
Khớp nối trong thân răng còn có một tên khác đó là rãnh trượt chính
xác (Precision Retention Attachment) Phần dương có rãnh tương ứng với
phần âm tạo sự lưu giữ khi kết nối. Sử dụng rãnh trượt chính xác cho bệnh
nhân mất răng Kennedy III và IV, có khoảng mất răng hẹp, kỹ thuật đúc đòi
hỏi sự chính xác cao.

Hình 5. Rãnh trượt chính xác
(Nguồn: theo Newsletter of modern prosthetic techniques -2000)
Ngoài ra khớp nối trục (Attachments axiaux) cũng được xếp vào dạng
khớp nối Intraconal: Thường được sử dụng khi răng một chân bị tổn thương
phần thân răng nhưng chân răng vẫn còn chắc. Bao gồm phần dương được cắm


10

vào chân răng theo kiểu trụ đỡ, còn phần âm gắn vào mặt dưới hàm giả có các
loại như: Introfix, Excentric ROTHERMANN, Aunafe cylindrique, DALBO.

Hình 6. Khớp nối trục
3.1.2. Khớp nối ngoài thân răng (Extracoronal attachment)
Đối với khớp nối trong thân răng là cần có khoảng nằm bên trong của
chụp răng để đặt phần âm của khớp nối và vấn đề cần phải chữa tủy hay
không của răng trụ khi làm khớp nối này cần phải cân nhắc. Khớp nối ngoài
thân răng có thể thực hiện được khi mà khoảng cách phía mặt lưỡi có ích bị
hạn chế và chiều cao của răng nanh và hầu hết các răng trụ khác thấp không
thể thiết kế khớp nối trong thân răng được. Khớp nối ngoài thân răng
thường được thiết kế để duy trì những hàm giả có yên mở rộng về phía xa.

như một cái bản lề cho phép di chuyển dọc theo một mặt phẳng hoặc một
chuyển động quay di chuyển dọc theo nhiều mặt phẳng.


12

* Các loại khớp nối ngoài thân răng:[5],[6],[7]
3.1.2.1. Preci Clix [6]

a. Phần dương PreciClix

b. Phần âm Preci Clix

Hình 7 Khớp nối Preci Clix
(Nguồn http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Phần dương được thiết đặc biệt có hình dáng tương tự như một tay
móc, nó bao gồm bờ vai được đúc liền một khối với chụp răng trụ tạo độ dốc
dần về phía lợi, kết thúc là một hình cầu nhỏ làm tăng sự lưu giữ của hàm và
cho phép nền hàm giả chuyển đông xung quanh mào sống hàm với biên độ
hẹp.Với 3 độ nghiêng 300, 450, 600 của khớp nối có thể lựa chọn cho phù hợp
với hình dạng của nhú lợi của răng trụ. Loại khớp nối này không hoàn toàn sát
khít với lợi mà tạo ra một khoảng cách cho phần tiếp xúc của lợi. Khi có lực
tác động lên răng trụ theo chiều đứng thì lực sẽ được phân tán qua nền hàm
giả thông qua góc nghiêng này. Kích cỡ hình cầu đường kính 2.25mm, chiều
cao hình cầu 1,7mm đến 2,2mm. Chiều cao của toàn bộ khớp nối có hai kích
cỡ là 4.1 và 4.3mm bề dày khớp nối 3.3 đến 4.3mm. Phần âm là phần nhựa
làm bằng Silicone đàn hồi được đúc sẵn phù hợp với kích cỡ của khớp nối.
Chỉ định cho mất răng Kennedy I và II. Tuy nhiên loại khớp nối này có sự hạn
chế đó là chiều cao của nó nên không thể lựa chọn rộng rãi khi mà các răng
trụ thấp và khoảng cách phục hình không đủ lớn.

Kết nối hình cầu đối xứng dọc cùng với hình cầu phân phần âm cho
hàm giả tháo lắp và đôi khi được sử dụng lưu giữ trong hàm toàn bộ khi nó
được tích hợp trong chân răng và trụ Implant. Có 2 cỡ: 1,7mm và 2,2mm.
Kim loại đúc sẵn ở phần dương có tính chính xác, chắc chắn, tin cậy cho sự
phục hồi răng. Chỉ có phần âm tiếp xúc với bề mặt lớn hơn của phần cầu tạo
ra sự mắc giữ và ổn định. Preci Sagix có tác dụng lưu giữ tốt hơn ở loại hàm
Overdenture, bởi vì khi sử dụng khớp nối dạng này với hàm khung thì lực tác
động trên một trụ ngắn và có chuyển động xoay theo chiều ngang dẫn đến tổn
hại cho răng trụ đặc biệt là không thể áp dụng cho vùng sống hàm bị tiêu
xương nhiều


15

3.1.2.3.Khớp nối Ceka Revax

Hình 10. Khớp nối Ceka Revax[6]
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Đây là khớp nối được cải tiến mới nhất năm 2012, được thiết kế với 4
thành phần ngoài phần dương và phần âm thông thường thì được thiết kế
thêm hai chi tiết nữa là vòng gioăng cao su và thiết kế luôn phần chụp bọc ra
ngoài phần dương thay vì để khe trụ dọc dưới phần nền hàm giống như các
loại khớp nối khác làm tăng thêm sự sát khít giừa hàm giả và khớp nối.
Sự chắc chắn, chính xác của khớp nối Ceka Revax tạo ra từ mặt phần
dương của khớp nối và chiều xoay cung cấp bảo vệ cao nhất trụ lưu giữ. Mỗi
sự lưu giữ bao gồm 3 góc của nhựa phần âm cùng với sự chính xác của phần
âm lắp vào, nơi gài của phần dương, và phần thép lưu giữ cấu thành 3 góc cho
phép áp dụng trên nhiều trường hợp lâm sàng.




Hình 13. Khớp nối O-SO [4]
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
O-SO là khớp nối ngoài thân răng đàn hồi mà nó có sự chuyển động tự
do ở tất cả các mặt phẳng cho sự bảo vệ tối đa răng trụ và dễ dàng thay phần
cao su O-ring. Đây là loại khớp nối được lưu giữ theo trục dọc và bản lề. Khi
nó liên kết với hàm giả bằng lực kéo hoạt động ngắt quãng, có thể sử dụng kết
hợp với các loại liên kết khác.Khớp nối có chiều cao 5.2mm có thể giảm
chiều cao tối đa của nó xuống còn 2.5mm, đường kính 2mm.
3.1.2.7. Khớp nối DSE(DSE Hinges)

Hình 14. Khớp nối DSE [5]
(Nguồn: www.preat.com/dsehingestech )


18

Bản lề được thiết kế để sử dụng lưu giữ song song với móc của hàm giả như
vậy sẽ có một đầu tự do phần răng giả tháo lắp để giảm lực tác động lên răng
trụ. Kích thước nhỏ dễ dàng thực hiện trên xưởng làm việc.Thiết kế độc đáo
cung cấp để dễ dàng giải phóng lực tác động và lưu giữ ổn định từng bên.
Khớp nối này mang lại sự thoải mái cho bệnh nhân và bảo vệ mố cầu bằng
cách độc lập loại bỏ lực đòn bẩy trên các mố cầu ở bên không làm việc. Kích
thước thu nhỏ cho phép sử dụng trong không gian thẳng đứng ngắn và cung
cấp cho thẩm mỹ tốt. có thể kết hợp với một số khớp nối khác.
3.1.2.8. Hệ thống MAYS có thể liên kết từng bên.

Hình 15. Hệ thống MAYS
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Thiết kế đặc biệt cho hàm giả mở rộng ra xa một bên, có thể là liên kết

hàm giả toàn bộ.

Hình 16. Khớp nối Stub attachment
3.1.4. Khớp nối dạng thanh (Bar Attachment)
Loại kết nối dạng thanh kim loại được đúc sẵn với các kích thước và
hình dạng sẵn có được trải dài trên vùng sống hàm mất răng được gắn vĩnh
viễn lên trụ, chân răng hoặc Implant. Bar attachment gồm một thanh hoặc


20

nhiều thanh được gắn vào trụ răng bằng phương tiện cơ khí. Ngoài ra trên các
chụp của răng trụ có thể được hàn nối với nhau bằng thanh ngang.
Các hàm giả được tích hợp với khớp nối Bar và được kết nối với một
hoặc nhiều đoạn trong những trường hợp mà khớp nối được gắn trên nhiều trụ
Implant không thẳng hàng với nhau. Bar attachments có hai loại:
1. Thanh đơn (Single sleeve bar joints) Mặt cắt ngang có hình quả lê,
trên sống hàm thẳng liên tục thường gặp là ở nhóm răng cửa thì nên sử dụng
thanh đơn tăng lưu giữ cho hàm giả.

Hình 17 Thanh đơn (single sleeve bar joints)
2. Dạng nhiều thanh (Multiple sleeve joints)
Để đáp ứng với các hình dạng sống hàm thì khớp nối Bar có thể được
uốn cong để mô phỏng theo độ cong trước-sau của vùng sống hàm mất răng.
Một số loại khớp nối dạng này như: Gilmore, Ackerman, Hader. Khớp nối
nhiều thanh hay được sử dụng hơn là khớp nối thanh đơn vì sự linh hoạt được
áp dụng trên các hình dạng sống hàm khác nhau tuy nhiên loại khớp nối này
rất cứng nhắc. Khớp nối nhiều thanh có thể sử dụng để kết nối từ 4 hoặc nhiều
trụ răng trên toàn hàm mất răng khi mà số lượng, vị trí các răng còn lại không
thể thiết kế được móc răng phù hợp cho hàm khung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status