100 bài thơ hay nhất VN thế kỷ 20 và tiểu sử tác giả- Phần 1 - Pdf 56

100 BÀI THƠ HAY NHẤT VIỆT NAM THẾ KỶ XX
Được phát động từ đầu năm 2005, cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Nam
hay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản
Giáo Dục phối hợp tổ chức đã lựa ra được 100 thi phẩm xuất sắc và công
bố trong Đêm Nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5.
100 bài thơ, chia đều cho 100 tác giả, không một ai được vinh dự góp mặt
với hơn một sáng tác. Hiện tượng này khiến không ít độc giả ngậm ngùi
tiếc nuối khi Xuân Diệu có Nguyệt cầm nhưng không có Đây mùa thu
tới hay Vội vàng... Hoàng Cầm có Bên kia sông Đuống nhưng không có
Lá diêu bông... Nguyễn Duy có Đò lèn nhưng lại vắng Tre Việt
Nam hay Hơi ấm ổ rơm...
Ngoài ra sự vắng mặt của nhiều bài thơ nổi tiếng trong danh sách này
không khỏi khiến người yêu thơ phải nuối tiếc.
Phong trào Thơ Mới góp mặt trong danh sách với số lượng tác giả, tác
phẩm lớn nhất. Tiếp đó là những sáng tác có ảnh hưởng sâu nặng đến suy
nghĩ và hành động của bao thế hệ độc giả qua hai cuộc kháng chiến
chống Mỹ và chống Pháp.
Nhà văn Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, cho biết:
"Chúng tôi nhận được rất nhiều bài viết công phu, thể hiện tình yêu và
thái độ trân trọng với thơ ca. Có những độc giả viết đến hàng chục trang
bình chọn và đưa ra nhiều lý lẽ bảo vệ cho sự lựa chọn của mình".
100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 đã được Nhà xuất bản Giáo
Dục in thành sách và phát hành rộng rãi.
Danh sách 100 bài thơ hay nhất
Ngoài Nguyên Tiêu, 99 bài còn lại được sắp xếp theo tên tác giả dựa vào
bảng chữ cái.
1) Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh.
2) Ngày Hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc.
3) Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính.
4) Tạm biệt Huế - Thu Bồn.
5) Vào chùa - Đồng Đức Bốn.

34) Cửu Long giang ta ơi - Nguyên Hồng.
35) Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ.
36) Nỗi niềm Thị Nở - Quang Huy.
37) Đường khuya trở bước - Đinh Hùng.
38) Người về - Hoàng Hưng.
39) Đồng chí - Chính Hữu.
40) Khi con tu hú - Tố Hữu.
41) Lên Cấm sơn - Thôi Hữu.
42) Lời nói dối nhân ái - Trang Thế Hy.
43) Gánh nước đêm - Á Nam Trần Tuấn Khải.
44) Tỳ bà - Bích Khê.
45) Gửi bác Trần Nhuận Minh - Trần Đăng Khoa.
46) Thu điếu - Nguyễn Khuyến.
47) Bến Mi Lăng - Yến Lan.
48) Tháp Chàm - Văn Lê.
49) Ông đồ - Vũ Đình Liên.
50) Đèo cả - Hữu Loan.
51) Viếng bạn - Hoàng Lộc.
3
52) Tiếng thu - Lưu Trọng Lư.
53) Nhớ rừng - Thế Lữ.
54) Một vị tướng về hưu - Nguyễn Đức Mậu.
55) Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây.
56) Dặn con - Trần Nhuận Minh.
57) Hội Lim - Vũ Đình Minh.
58) Khóc người vợ hiền - Tú Mỡ.
59) Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ.
60) Quê hương - Giang Nam.
61) Thị Màu - Anh Ngọc.
62) Nhớ - Hồng Nguyên.

92) Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ.
93) Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử.
94) Nhớ vợ - Cầm Vĩnh Ui.
95) Em tắm - Bạc Văn Ùi.
96) Một ngày ta ngoái lại - Đinh Thị Thu Vân.
97) Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên.
5
98) Bếp lửa - Bằng Việt.
99) Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ.
100) Thương vợ - Trần Tế Xương.
PHẦN I: TỪ bài 1 – 5 và tiểu sử các tác giả
1. Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh.
Nguyên Tiêu
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
1948
Dịch nghĩa:
Đêm rằm tháng riêng
Đêm nay, rằm tháng riêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xanh.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền.
1948
Dịch thơ:
Rằm tháng riêng
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,

dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và
bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người
bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng
Cộng sản Pháp. Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt
động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ
nghĩa cộng sản.
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa
và năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp. Tháng 6/1923,
Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới,
tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc
tế cộng sản. Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế
nông dân. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và
được cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam,
hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở
7
các nước Đông - Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệp
các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí
Hội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở
lớp huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động.
Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp
nhất tại Cửu Long (Hương Cảng) để thống
nhất các nhóm cộng sản trong nước thành
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở
nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế
Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào
cách mạng trong nước và có những chị thị
quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta.

chủ Cộng hòa. Trước tình hình ấy, tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng
lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân
Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954).
Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết.
Miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng một
nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành
thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với
Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước
đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã
họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm vụ chiến
lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
Ban chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh
đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương
đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng
chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống
nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp
của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh
hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc
tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và
hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân
dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc
lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và
công lý trên thế giới.

Ngày xưa,
Chỗ ướt mẹ nằm, sau mười năm
10
Vẫn chỗ mưa mẹ đứng
Mẹ trao cho anh chiếc đèn và bảo
Đừng để ngọn lửa rụng!
Mẹ xếp những thùng, chậu, nồi, xoong…
Khúc nhạc mưa nhà dột tấu lên
Ru êm cánh võng.
Người lính nằm im,
Nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng
Trong đêm hoà bình đầu tiên.

II

Không có trái bom nào rơi đúng nhà mẹ,
Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ
Chỉ có đứa con trai đi xa
Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống
Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau
Nắng mưa lọt vào sau
Xuyên
Xối
Những sợi nắng, những sợi mưa nếu có thể nối, cũng chỉ dài
Bằng một phần sự mong đợi
Và những hạt nắng, nhưĩng hạt mưa nếu đem xếp lại, có thể cao hơn
mọi trái núi.
11
Mười năm, cũng chỉ là thoáng qua,
Vì tuổi mẹ sáu bẩy lần hơn,

Những con đường sang lên như nắng
Và mỗi người là hạt bụi lung linh.
Mẹ vẫn lên nhà xuống bếp một mình,
Chiến thắng của mẹ là anh
Niềm vui của mẹ là anh.
Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh…
Njhững sợi nắng xuyên qua nhà mình
Thành những mũi tên
Thành những viên đạn,
Bắn tiếp vào anh không gì che chắn
Phải nhận tất cả,
Vẫn anh.
Hôm qua chưa nhận một viên đạn
Hâm nay nhận những lỗ thủng
Anh về quê không mang súng
Vũ khí lúc này
13
Hai bàn tay.
Mẹ giục:
- Ăn cơm, con!
Hoà bình trong canh cua, mồng tơi, cà

Mùi ổ rơm
1985
Tiểu sử Phùng Khắc Bắc :
Tên thật: Phùng Khắc Toàn
Sinh năm: 1944
Mất năm: 1990
Bút danh: Phùng Khắc Bắc
Nơi sinh: Thạch Thất - Hà Tây

Lúc này thì ta nhận được ra nhưng nó chỉ
chợt hiện và chính ta cũng tắt trước nó
Đứng trước biển
Ta như bị tan biến ra và bay lãng đãng qua bờ qua bến
Nhưng không, biển mênh mông
và biển cũng đẹp vô cùng
Biển không bằng một nhánh suối nhỏ, một dòng sông
Bởi biển không hề cạn, vì chỉ nhận
mà chẳng cho ai dòng chảy
Biển nói rằng: biển còn biết chảy vào đâu
Bởi vậy suốt tháng, suốt năm, phải vật lộn với những nghĩ suy trên những
ngọn sóng bạc đầu
Nước đấy, nước vô tận mà đời nghèo lênh đênh cứ khát
Ta mới hiểu tự do khó thật
Nhưng vẫn có
Và có hai con đường đi tới nó
Con đường đi vào cõi Chúa
Con đường đi trong nhân gian
Ta chọn con đường thứ hai
Dù gian nan
Dù chỉ một lần
Một lần thôi cũng đủ
Dù một giờ, một phút, một lời hay một chữ
Nhưng đích thực là tự do.
12-1984
Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005 15
3.Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính.

Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này
Tôi đã từng chờ những chuyến xe
Đã từng đưa đón kẻ đi về
Sao nhà ga ấy sân ga ấy
Chỉ để cho lòng dấu biệt ly
Hà Nội 1937
Tiểu sử Nguyễn Bính
Nguyễn Bính sinh vào năm 1918 với tên thật Nguyễn Trọng Bính tại
xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội
(nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản,
tỉnh Hà Nam Ninh (nay là tỉnhNam Định).
[2]
Theo tài liệu được Hội Nhà Văn ở Hà
Nội công bố về tiểu sử của ông: thuở nhỏ
Nguyễn Bính không được đi học ở nhà
trường mà chỉ được học ở nhà với cha là
ông đồ nhoNguyễn Đạo Bình và đồng thời
17
cũng được người cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm dạy kèm. Ông mồ côi mẹ
rất sớm, cha đi bước nữa, gia đình túng quẫn, nên khi lên 10 tuổi đã phải
theo anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống. Thời gian này
ông được người anh dạy học ở nhà. Năm 13 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ
và năm 1937 được giải khuyến khích về thơ của nhóm Tự lực văn
đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi. Những năm đầu thập niên 1940, Nguyễn
Bính nhiều lần lưu lạc vào miền Nam. Lúc này ông đổi tên là Nguyễn
Bính Thuyết. Năm 1943, Nguyễn Bính lại đi vào miền Nam lần thứ ba
và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên

 Tương tư
 Chân quê (Thơ 1940)
 Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)
 Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)
 Hương Cố Nhân (Thơ 1941)
 Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)
 Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)
 Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)
 Mây Tần (Thơ 1942)
 Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)
 Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)
 Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)
 Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)
 Trả Ta Về (Thơ 1955)
 Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)
 Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)
 Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)
 Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)
 Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)
 Cô Son (Chèo cổ 1961)
 Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)
 Người Lái Đò Sông Vỹ (Chèo 1964)
Ngoài những tác phẩm kể trên, còn một số bài thơ viết trong
năm 1964, 1965 và 1966 chưa kịp xuất bản.
Đánh giá
Các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng "lãng mạn" và
"cách mạng" mà dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về
Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt nam.
Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng
của thơ phương Tây, Nguyễn Bính lại gắn bó và hấp thụ tinh hoa ca

Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn
Chống lại ngày ngày quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu
Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô
20
Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế mà đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng
Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
Con sông dùng dằng con sông chảy ngược
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hoá đá phía bên kia”.
(Huế, 1980)
Tiểu sử Thu Bồn
Nhà thơ Thu Bồn, tên thật là Hà Đức Trọng (sinh ngày 1 tháng
12 năm 1935 tại Quảng Nam, mất ngày 17 tháng 6 năm 2003), là một nhà
thơ, nhà văn Việt nam
Thu Bồn sinh tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vào
bộ đội năm mười một tuổi và là thiếu sinh quân ở đơn vị biệt động chiến
đấu. Trong thời gian chiến tranh Việt nam, ông làm phóng viên chiến
trường Liên khu V sau đó về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ quân

 Giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969)
 Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
Bài thơ này được Thu Bồn viết sau chuyến đi Huế (đã được nhạc sĩ Nhạc
Xuân An phổ nhạc) bằng giọng địa phương truyền cảm “rượu hồng đào
chưa nhấm đã say”.
Với chỉ chừng hai mươi câu và một trăm sáu mươi âm tiết, thi sĩ đã là
một họa sĩ phác họa cả bức tranh thủy mặc về Huế vừa hữu tình chất chứa
vừa hữu duyên mà mở đầu bài thơ thi sĩ đã có cái cớ “Bởi vì em dắt anh”
mà cảnh và tình ở đây nhập vào làm một. Con người Thu Bồn là sự kết
hợp của những gì tưởng chừng khó kết hợp, vừa hào sảng vừa nhiệt tình,
vừa đa tình vừa thật tính, anh có cái chất của người rất Quảng Nam nên
tình yêu cũng rất tinh tế, nhịp nhàng.
22
Thơ kết hợp với hiện thực vì trong đó chất
chứa tình cảm của một người luôn nghĩ tới
tình yêu, đa tình đa sầu đa cảm như vậy nên
Thu Bồn đã chỉ có thể “Tạm biệt Huế với em
là tiễn biệt”. Hình ảnh của người đi và người
ở lại, người ra đi vì một lý do khách quan nào
đó còn người ở lại trong hoài cảm “minh
mang” chứ không là “mênh mông”, “tiễn
biệt” chứ không là “ly biệt”, “tạm biệt”,
“vĩnh biệt” - một vị từ thật đắt chỉ có Thu
Bồn vì yêu quá mới có cái dùng từ vi diệu
như thế. Chỉ “một lần đến” vậy mà “ngàn lần nhớ trong mơ”. So sánh như
thế không gì là khập khiễng vì “Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô”.
Cố đô Huế là vẻ đẹp của “lăng tẩm” trầm lặng và là của thiên nhiên ban
tặng cho đất thần kinh nhưng với em là vẻ đẹp của “áo trắng” thướt tha
cầu Tràng Tiền trong cái gió lộng tư bề. Cổ kính như Huế nhưng với em

Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.
Tiểu sử Đồng Đức Bốn
Đồng Đức Bốn(30 tháng 3, 1948 - 14 tháng 2, 2006) được sinh ra trong
một gia đình lao động nghèo ở ngoại ô Hải Phòng. Năm 1966, ông gia
nhập lực lượng Thanh niên xung phong. Sau đó, ông làm thợ cơ khí (bậc
6 trên 7) tại Xí nghiệp Cơ giới của Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng
(Hải Phòng), Xí nghiệp Cơ khí 20-7 rồi Công ty Xuất nhập khẩu gia cầm
Hải phòng. Ông được làm đại diện cho công ty này tại Hà nội và bắt đầu
sáng tác thơ vào cuối những năm 1980.
Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đồng Đức Bốn mất ngày 14
tháng 2 năm 2006 tại nhà riêng ở thôn Song mai, xã An hồng, huyện An
Hải, Thành phố Hải phòng khi ông 58 tuổi bởi bệnh ung thư phổi.
Các tác phẩm
 Con ngựa trắng và rừng quả đắng. NXB Văn học, 1992
 Chăn trâu đốt lửa. NXB Lao động, 1993
 Trở về với mẹ ta thôi. NXB Hội nhà văn, 2000
 Cuối cùng vẫn còn dòng sông. NXB Hội nhà văn, 2000
 Chuông chùa kêu trong mưa 2002
 Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc. NXB Hội nhà văn 2006 (tập thơ cuối
cùng, dày 1.108 trang)
24
Đánh giá
Đồng Đức Bốn có nhiều đóng góp quan trọng trong thể loại thơ lục bát.
Thơ lục bát của ông với cách ngắt nhịp, dùng từ và rất giàu hình ảnh với
tứ thơ sâu sắc đã chinh phục được bạn đọc. Nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp nhận xét về thơ của ông là trong khoảng 80 bài thơ, có khoảng 15
bài thơ cực hay, tài tử vô địch
6. Sư đoàn - Phạm Ngọc Cảnh.

Trích đoạn Sư đoà n Phạm Ngọc Cảnh. Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạ c Văn Cao.
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status