ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG TÚ ANH
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG TÚ ANH
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆT NAM
Ngành: Địa lí học
Mã ngành: 8.31.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ NHƯ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2019
LỜI CAM ĐOAN
1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài...................................2
3. Tổng quan lịch sử nghiên cứu .........................................................................2
4. Quan điểm nghiên cứu.....................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................5
6. Đóng góp của đề tài .........................................................................................6
7. Kết cấu luận văn ..............................................................................................6
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CMCN 4.0 ..........................7
1.1. Cơ sở lí luận...............................................................................................7
1.1.1. Nhận thức chung........................................................................................7
1.1.2. Cách mạng công nghiệp trong tiến trình phát triển kinh tế của một
quốc gia....................................................................................................10
1.2. Cơ sở thực tiễn.........................................................................................13
1.2.1. CMCN 4.0 trong một thế giới thay đổi ...................................................13
1.2.2. Nhận diện các tiên đề vật chất để tiếp cận CMCN 4.0 ở Việt Nam........22
Tiểu kết Chương 1 .............................................................................................26
Chương 2. TÌNH HÌNH CMCN 4.0 MỘT SỐ NƯỚC VÀ KHU VỰC
TRÊN THẾ GIỚI ..................................................................................27
2.1. Châu Âu và cuộc CMCN 4.0...................................................................27
2.2. Một số nước đi tiên phong trong CMCN 4.0 ..........................................31
2.2.1. Hoa kì ......................................................................................................31
2.2.2. Đức...........................................................................................................33
2.2.3. Trung quốc...............................................................................................36
2.3. Một số nước tiêu biểu trong phát triển công nghiệp sáng tạo .................39
2.3.1. Công nghiệp sáng tạo - xu hướng tất yếu ................................................39
2.3.2. Anh - nơi khởi nguồn của công nghiệp sáng tạo .....................................40
2.3.3. Nhật Bản với chiến lược tập trung vào công nghiệp sáng tạo ................41
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt
Chữ viết tắt
Cụm từ đầy đủ
1
AI
2
BigData
Dữ liệu lớn
3
BigChain
Chuỗi số lớn / Sổ cái
4
CMCN 4.0
5
Chỉ số sáng tạo
11
WEF
Trí tuệ nhân tạo
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Công nghiệp hóa lần thứ tư
Diễn đàn kinh tế thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
DANH MỤC KÊNH HÌNH
Hình 1.1. Cuộc CMCN trong lịch sử..........................................................................14
Hình 1.2. Công xưởng tương lai, hay Công nghiệp 4.0 (CN4.0) ...............................20
Hình 1.3. Điểm số các trụ cột của Việt Nam..............................................................23
Hình 3.1. IoT & BigDa - biểu tượng của CMCN 4.0.................................................68
DANH MỤC KÊNH SỐ
Bảng 1.1.
Mục tiêu đến 2020 và kết quả chỉ số GII 2018 của Việt Nam.................24
tái tạo, hóa học và vật liệu. Cuối cùng là lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới,
máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ
nano. Hiện nay CMCN 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu
Âu, Đông Á. Bên cạnh những cơ hội mới, CMCN 4.0 đặt ra cho nhân loại
nhiều thách thức phải đối mặt.
CMCN 4.0 đang hiện hữu ở Việt Nam, tác động mạnh mẽ đến mọi
ngành, mọi lĩnh vực, mọi doanh nghiệp và người dân, đem lại cho chúng ta
nhiều cơ hội để nâng cao trình độ, năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi
giá trị toàn cầu, tạo ra sự thay đổi lớn về mô hình kinh doanh bền vững và là cơ
hội cho khởi nghiệp sáng tạo. CMCN 4.0 còn có thể rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá bằng cách phi truyền thống, phát triển nhảy vọt lên công nghệ cao.
Xuất phát từ những vấn đề lí luận và thực tiễn chúng tôi chọn hướng
nghiên cứu của luận văn với đề tài: “Cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội và
thách thức với Việt Nam”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
2. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và ý nghĩa thực tiễn của cuộc CMCN 4.0. Phân
tích kinh nghiệm một số nước đi tiên phong trong CMCN 4.0, những cơ hội và
thách thức của CMCN 4.0 đối với Việt Nam, đề xuất các định hướng và giải
pháp thúc đẩy cuộc cách mạng này trong điều kiện Việt Nam
2.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn CMCN 4.0
Thu thập, xử lí số liệu, tiến hành lập biểu đồ, bản đồ
Phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu về CMCN 4.0
điều đặc biệt quan trọng là hệ thống giáo dục, hướng tới việc phát triển khả
năng kĩ thuật số mà còn nên bổ sung các tiêu chuẩn đạo đức và giáo dục, đào
tạo nguồn lao động chất lượng cao..." [12 /13].
Trước sức lan tỏa và hấp dẫn của CMCN 4.0, nhiều hội thảo quốc tế và
quốc gia được tổ chức ở Việt Nam với sự tham gia của các nhà khoa học trong
nước và quốc tế. Sự kiện lớn nhất trên tầm quốc tế là WEF mà người đứng đầu
là GS Klaus Schwab chính là người khai sinh ra khái niệm CMCN 4.0.
Trong số các xuất bản ấn phẩm tiếng Việt Nạm "Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm" do TSKH Phan Xuân
Dũng (chủ biên soạn) / CMCN 4.0 và KTXH, con người Việt Nam / "CMCN 4.).
"Vấn đề đặt ra cho phát triển Con người" của Lương Đình Hải (2018) /."Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư" của Cục Thông tin KHCN quốc gia / "CMCN 4.0
ở châu Âu..." của Nguyễn An Hà. [5] / [9] / [10] / [11] / vv... Nhiều phát biểu
có giá trị của ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ TT&TT và ông Bùi Tiến
Dũng, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Việt Nam. [26(iii)]
Giới địa lí Việt Nam phản ứng tích cực với CMCN 4, 0 bằng Hội thảo
khoa họa Địa lí toàn quốc với tiêu đề "Khoa học Địa lý Việt Nam phục vụ phát
triển bền vững trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0” tại Tp Huế, 4/2019.
Kỉ yếu Hội nghị được sự hưởng hứng của các nhà địa lí, trong đó, đáng chú ý là
báo cáo " Địa lí Việt Nam chuyển đổi mô hình tư duy Địa lí Việt Nam thời đại
CMCN 4.0 (ĐỊA LÍ VIỆT NAM PARADIGM 4.0). Tác giả báo này cho rằng
cuộc CMCN 4.0 diễn ra với chức năng kép đối với Địa lí Việt Nam: (i) kích
thích sự khám phá tìm tòi khung lí thuyết mới, (ii) khuyến khích đi vào thực
tiễn với tư tưởng sáng tạo trong sự dẫn dắt của paradigm 4.0; điều đó dẫn tới sự
chuyển đổi khung tư duy, theo ngôn ngữ học thuật, là cuộc cách mạng chuyển
đổi hệ thống tư duy (paradigm) [24].
Ngoài ra, còn có nhiều khá nhiều bài viết về CMCN 4.0 đã công bố dưới
dạng online, dựng nên bức tranh chung về thành tựu và diễn biến sôi động
tài còn sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây:
5.1. Phương pháp thu thập, phân tích tư liệu nguồn
Mặc dù có cảm giác khái niệm CMCN 4.0 khá mới mẻ đối với Việt
Nam. Điều này về cơ bản là đúng do tác động của hai ấn phẩm Cách mạng
công nghiệp lần thứ Tư. (The Fourth Industrial Revolution) của Klaus Schwab
(2016) (Bộ Ngoại giao Việt Nam biên dịch và hiệu đính, NXB Thế giới, Hà
Nội, 2016). Đề tài cần sử dụng nhiều nguồn tài liệu, số liệu khác nhau, đặc biệt
từ nguồn tư liệu truy cập trên mạng internet và nguồn tài liệu xuất bản đang
phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng.Từ nguồn thông tin thứ cấp
của các cơ quan nhà nước, các tài liệu và báo cáo của cơ quan chức năng, các
công trình nghiên cứu đã công bố, các số liệu mới cập nhật. Từ đó có thể đánh
giá thực trạng nền kinh tế và định hướng cũng như giải pháp đột phá cho sự
phát triển KTXH Việt Nam trong giai đoạn mới.
5.2. Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp thu thập xử lí những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp
và tham khảo ý kiến các chuyên gia thuộc lĩnh vực kinh tế về vấn đề nghiên
cứu hoặc định hướng cho người nghiên cứu. Sử dụng phương pháp này giúp
đưa ra được những kết luận chính xác và khách quan về cách mạng công
nghiệp 4.0.
5.3. Phương pháp phân tích SWOT
Đây là một công cụ nghiên cứu đem lại hiệu quả trong nghiên cứu với
mục đích cuối cùng là hoạch định chiến lược, chính sách và giải pháp thúc đẩy
CMCN 4.0. Chúng tôi cho rằng phương pháp SWOT nhằm xác định ưu tiên hai
cặp mạnh - yếu / cơ hội - thách thức trong điều kiện cuộc CMCN 4.0. Do đó,
nhiều khái niệm mới cần được làm rõ trước khi đi vào phân tích chiến lược với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CMCN 4.0
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhận thức chung
Từ khái niệm ban đầu Công nghiệp 4.0 (CN 4.0) đến Cách mạng công
nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) là một khoảnh khắc lịch sử vĩ đại của loài người, bắt
đầu từ điện thoại thông minh đến tủ lạnh thông minh, phổ dụng trong cuộc sống
hàng ngày của chúng ta. Công nghệ mới trên nền tảng kĩ thuật thông minh và
khác biệt đang thay đổi thế giới. CN 4.0 là nhãn hiệu Đức, với sự kết hợp dần
dần giữa thực hành sản xuất và công nghiệp truyền thống với thế giới công
nghệ ngày càng phát triển xung quanh chúng ta. Điều này bao gồm sử dụng các
triển khai M2M và Internet of Things (IoT) với quy mô lớn giúp các nhà sản
xuất và người tiêu dùng cung cấp tự động hóa tăng cường, cải thiện giao tiếp và
giám sát, cùng với tự chuẩn đoán và phân tích cấp độ mới để cung cấp một
tương lai thực sự hiệu quả. Các nhà máy, xí nghiệp tự động hóa sản xuất được
giám sát và kết nối với nhau: máy/máy; người/người; người/máy và được quản
trị liên tục, tức thời và ổn định.
Theo Gartner, trong một Báo cáo của chính phủ Đức năm 2013, CMCN
4.0 xuất phát từ khái niệm "Industrie 4.0" là "... sự kết nối các hệ thống nhúng
và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kĩ thuật số giữa công nghiệp,
kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong...".Klaus Schwab, người sáng lập
và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới cho rằng: "Cách mạng công
nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất.
Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt.
Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa
sản xuất" [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
`
quốc gia. Tại WEF tại Davos - Kloster, Thụy Sĩ lần thứ 46 người ta chính thức
bàn tới chủ đề mới mẻ "Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư" (CMCN 4.0).
Loài người được báo trước bước ngoặt vĩ đại, hoàn toàn khác về chất với các
cuộc cách mạng công nghiệp từng diễn ra trước đây, trong đó người ta hứa hẹn
thay đổi cả chuỗi giá trị dịch vụ, gọi là internet kết nối - IoT / dịch vụ kết nối IoS. Vậy là từ trong khuôn khổ một dự án riêng, nước Đức đã thu hút / lôi kéo
vào cuộc các nước công nghiệp phát triển Nhật Bản, Hàn Quốc… và trở thành
một quốc gia đầu tầu / quốc gia dẫn dắt (leader - state quốc gia có sức lan tỏa)
quan trọng của cuộc cách mạng này. Với tầm nhìn rộng lớn và với khung kiến
trúc tham chiếu rõ ràng, Công nghiệp 4.0 chủ yếu đặc trưng bởi sự kết nối các
tài sản công nghiệp vật lí và công nghệ kĩ thuật số trong một hệ thống vật lý không gian mạng.
IoT đóng vai trò quan trọng trong phạm vi của IoT công nghiệp 4.0 với
nhiều thành phần, từ nền tảng IoT đến cổng IoT công nghiệp, thiết bị và nhiều
hơn nữa. Tất nhiên không chỉ là IoT: điện toán đám mây (và nền tảng đám
mây), dữ liệu lớn (phân tích dữ liệu tiên tiến, hồ sơ dữ liệu, trí thông minh
biên) với trí tuệ nhân tạo (có liên quan), phân tích dữ liệu ở rìa mạng (điện toán
sương mù và điện toán biên), điện thoại di động, truyền thông dữ liệu / công
nghệ mạng, thay đổi ở hệ thống sản xuất, lập kế hoạch nguồn lực doanh
nghiệp (ERP / iERP), bộ điều khiển logic lập trình (PLC), cảm biến và bộ
truyền động, MEMS và bộ chuyển đổi (cảm biến thứ cấp) và các mô hình trao
đổi dữ liệu sáng tạo.
Ngoài ra, các công nghệ tương tự, chẳng hạn như robot tự động hóa quá
trình (RPA), AI (động cơ AI, học máy), hội tụ của cả hai và cứ thế xuất hiện /
tiếp cận với tất cả các lĩnh vực phần mềm như quản lí thông tin doanh
nghiệp, quản lí quy trình kinh doanh và các ứng dụng trong thị trường tìm
nguồn cung ứng, được hiển thị trong các ứng dụng công nghiệp/sản xuất hỗ
với đồ thị tăng ngược. Chính trong giai đoạn này, một số nước đã thành công,
một số khác thất bại vì hiệu ứng phát triển "luẩn quẩn", càng bán tài nguyên
càng cạn kiệt, càng kêu gọi đầu tư bên ngoài (FDI/ODA), gánh nặng nợ công
tăng đến mức không thể trả nổi. Nhiều nước, điển hình là Brazin, Achentina,
Hy Lạp, Bô Đào Nha... đã trở thành con nợ của các nước phát triển, của IMF.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
Hiện tượng này dẫn tới hậu quả nghiêm trọng, đó là cuộc khủng hoảng kinh tế
năm 2008. Việt Nam may mắn không bị tác động quá nặng nề do hậu quả các
cuộc khủng hoảng đó nhờ phát triển nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản, đã giải quyết được vấn đề tự túc lương thực, nhiều tài nguyên nhiệt đới trở
thành mặt hàng xuất khẩu hàng đầu thế giới như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu,
điều, rau quả...
Thuyết tăng trưởng cất cánh / ổn định / tăng trưởng tiếp như nói trên tỏ
ra không phù hợp trước các tiến bộ mới của CMCN 3.0 / CMCN 4.0. Về mặt lí
thuyết, trong điều kiện CMCN 4.0 người ta nhận ra tầm quan trọng của việc
khai thác các thành tựu công nghệ mới do CMCN 4.0 đem lại, tùy thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể một quốc gia / lãnh thổ hiện đang ở thời điểm trong 3 giai
đoạn phát triển sau đây:
Giai đoạn I: Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn lực nội tại, trước hết là
tài nguyên, lao động, kể cả vị trí và vị thể địa lí đem lại. Ngay ở giai đoạn đầu
cũng có thể đạt năng lực cạnh tranh ở mức độ cao. VD: sản xuất lúa gạo, thủy
sản, cây công nghiệp nhiệt đới được tổ chức khai thác và tiêu thụ theo chuỗi
cung ứng toàn cầu, được điều hành trên nền tảng IoT / IoS / BigData.
Giai đoạn II: Khác biệt với giai đoạn I là giai đoạn tăng trưởng dựa trên
nguồn đầu tư. Có hai hiện tượng phải chú ý: (i) Việt Nam kêu gọi đầu tư để
nội đô ở Giacacta.
Các nước có trình độ kinh tế hiện nay như của Việt Nam có thể giải
quyết một số nhiệm vụ cấp bách bằng công nghệ số. Ví dụ đó là việc trang bị
máy định vị GPS cho các tầu đánh cá trên Biển Đông nhằm đáp ứng điều kiện
của EU trong việc xóa thẻ vàng cảnh báo nhập khẩu cá biển Việt Nam sang thị
trường EU trong thời gian sớm nhất. Các lĩnh vực khác như kinh tế số, lập bản
đồ số đang được Việt Nam khẩn trương triển khai trong các năm 2019 - 2020
vv và vv... Việt Nam đề nghị Tổ chức Davos thành lập Trung tâm hỗ trợ Khởi
nghiệp 4.0 tại Việt Nam theo hướng đi ngay vào Chương trình quốc gia khởi
nghiệp cho Việt Nam.
Những tín hiệu nói trên cho thấy Chính phủ và các doanh nghiệp Việt
Nam cũng "sốt ruột" đi ngay vào 5G. Nếu 2G/3G/4G kết nối 7 tỷ người thì 5G
sẽ kết nối hàng ngàn tỷ thiết bị, chuyển tải toàn bộ thế giới vật lý vào thế giới
ảo. Các nước ASEAN đang có cơ hội bứt phá với 5G nhưng phải với một tư
duy mới, không truyền thống, không tuần tự.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
Chúng ta đều có một nhận thức chung là Kinh tế số, 5G sẽ giúp ASEAN
tiếp tục là một khu vực năng động, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng. Công nghệ
2G là công nghệ điện thoại thuần tuý. Công nghệ 3G là nửa điện thoại, nửa
data. Công nghệ 4G là thuần túy data, nhưng là cho người với người. Công
nghệ 5G là công nghệ data, nhưng là công nghệ đầu tiên được thiết kế cho kết
nối vạn vật, với một loạt tính năng mới, như độ trễ thấp, tiêu thụ nguồn nhỏ.
Công nghệ 5G sẽ tạo ra một cuộc cách mạng về kết nối. 2G/3G/4G kết nối 7 tỷ
người thì 5G sẽ kết nối hàng ngàn tỷ thiết bị, chuyển tải toàn bộ thế giới vật lý
vào thế giới ảo. Từ đó, thay đổi cơ bản cuộc sống loài người.
/ IoT/ BigData...
Tiêu chí quan trọng hàng đầu để xác định tính cách mạng của một cuộc
cách mạng là tính thay đổi đột ngột và triệt để về cơ cấu và động lực cũng như
các mối liên hệ bên trong và bên ngoài hệ thống.
CMCN 1.0 diễn ra cách đây hơn hai trăm năm, khoảng 1784, nhờ phát
minh máy hơi nước của J.Watt (công bố bản quyền phát minh trong năm 1785)
mở đầu kỉ nguyên sản xuất cơ khí trong lịch sử tiến bộ của nhân loại. Trên đất
Anh và Tây Âu đã xuất hiện hệ thống đường sắt chạy bằng máy hơi nước; các
nhà máy sản xuất bông vải được trang bị bằng động cơ hơi nước với năng suất
cao, nhiều sản phẩm cung vượt cầu trong nước, dẫn tới mở rộng lãnh thổ thuộc
địa tại các châu lục khác trên thế giới. Thành công vang dội của máy hơi nước
là niềm kiêu hãnh của người Anh trong câu nói "Mặt trời không bao giờ lặn
trên quốc kì nước Anh" (!).
Hình 1.1. Cuộc CMCN trong lịch sử: (1) Cơ giới hóa, năng lượng nước,
năng lượng hơi nước. (2) Động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt.
(3) Máy tính và tự động hóa. (4) Các hệ thống liên kết thực - ảo.
Nguồn: [26 (i)]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`
Trước CMCN 1.0 sinh kế của loài người chủ yếu bằng sản xuất nông
nghiệp, thủ công nghiệp dựa trên các nguồn gỗ, than củi, sức mạnh cơ bắp, sức
nước, sức gió với điển hình là cối xay gió và sử dụng sức nước. Người dân
miền núi Việt Nam sử dụng năng lượng dòng sông suối để giã gạo (cối nước)
và vận chuyển nước lên cao (cọn). Vậy là sự thống trị hàng ngàn năm của nền
văn minh nông nghiệp được thay thế bởi máy hơi nước, các loại vật liệu mới là
CMCN 3.0, máy móc tự động trong một dây chuyền / một công đoạn sản xuất
đòi hỏi hàm lương trí tuệ cao, ít có sự can thiệp của lao động chân tay / cơ bắp.
Nhiều xí nghiệp trước đây cần nhiều lao động chân tay nay được tự động hóa
một phần hay toàn phần, thì giờ đây người ta chỉ thấy sự vận hành liên tục các
dây chuyền sản xuất. Nhờ đó năng suất lao động được nâng lên đáng kể, giá
thành giảm tới mức thấp bất ngờ với sự can thiệp thông minh người điều hành
và các nhà quản trị sản xuất và phân phối. Một điều bất ngờ nữa trong CMCN
3.0 là các nhà vật lí khám phá nguồn năng lượng tổng hợp nhiệt hạch, hệ quả
cuối cùng là tìm ra nguồn năng lượng sạch lí tưởng năng lượng nhiệt hạch. Sự
cố Tsecnobưn là một điển hình cảnh báo loài người trước nguy cơ rò rỉ phóng
xạ từ các lò phản ứng hạt nhân. Việc khắc phục hậu quả rất tốn kém và lâu
dài...ở Fukushima Nhật Bản là một ví dụ điển hình.
Khác với các cuộc cách mạng trước đó, CMCN 2.0 / CMCN 3.0 diễn ra
chủ yếu ở Anh và Mĩ, cuộc CMCN 4.0 lại nổ ra ở Đức. Sự kiện này bắt nguồn
từ Chiến lược phát triển công nghiệp của Chính phủ Đức với tên gọi Công
nghiệp 4.0 mà sau này sức lan tỏa của nó dẫn tới sự ra đời của khái niệm
CMCN 4.0 Khái niệm mới này được công bố tại Hội chợ Hannover, nhằm
giới thiệu chương trình hiện đại hóa nền công nghiệp Đức trên cơ sở đổi mới
căn bản nền công nghiệp truyền thống (CN 3.0). Tham vọng Đức là đưa ra
một khuôn mẫu mới nhằm tạo lập cách tiếp cận mới trong nền kinh tế. Và ai
muốn, xin mời đến nhận sự trợ giúp của Đức. Nền kinh tế Đức dẫn đầu thế
giới về điều kiện đầu tư và cung cấp kĩ thuật / công nghệ hiện đại cho cuộc
cách mạng này.
Nước Đức tổ chức hàng loạt hội thảo hấp dẫn để thu hút CMCN 4,0
nhằm quảng bá các nhà máy "thông minh". Trên phạm vi toàn cầu với những
tùy biến sản phẩm theo nhu cầu khách hàng chứ không bị áp đặt bởi người vận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
`