Nghiên cứu giải phẫu các vạt cân da cuống gần vùng cẳng chân sau và vạt mạch xuyên từ cơ bụng chân - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Tạo hình,
việc điều trị các khuyết hổng phần mềm hoặc thay thế các tổ chức phần mềm
kém chất lượng là một thách thức khó khăn. Trước đây, người bệnh thường
phải trải qua một quá trình điều trị rất dài và gian khổ bằng cách chờ cho tổ
chức tự biểu mô liền sẹo, ghép da rời, hoặc sử dụng các vạt ngẫu nhiên dưới
dạng tại chỗ hoặc bắt chéo chi. Sau một quá trình điều trị, nhiều khi các phẫu
thuật viên không tránh khỏi phải ra các quyết định cắt cụt chi thể. Trong bối
cảnh đó, việc phát hiện ra các vạt có cuống mạch đã thực sự trở thành một
cuộc cách mạng. Cho đến nay, nhiều vạt có cuống mạch đã được phát hiện, và
việc sử dụng các vạt cuống mạch liền đã dần trở thành thường qui. Nhiều bác
sỹ Chấn thương Chỉnh hình tại các tuyến cơ sở đã nắm bắt và áp dụng được
kỹ thuật này. Tuy nhiên những kiến thức giải phẫu về các vạt hiện có chưa
đáp ứng đầy đủ nhu cầu ứng dụng trong ngoại khoa.
Nước ta đang trên con đường phát triển công nghiệp hóa, tình trạng đô
thị hóa nhanh chóng và kéo theo nó là sự gia tăng của số vụ tai nạn giao
thông, tai nạn lao động. Các tổn thương ngày càng gặp nhiều hơn, và không ở
đâu trên cơ thể chúng ta, những tổn thương ở cẳng chân và vùng kế cận: mất
da, lộ xương, viêm xương v.v... lại hay gặp trong chấn thương và nhạy cảm
đến như vậy [5 ]. Các tổn thương này đã trở thành một thách thức thực sự với
các phẫu thuật viên. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các vạt vùng cẳng chân đã
trở thành vấn đề thời sự. Các vạt này đã được nhiều tác giả trên thế giới như:
Ponten [25] Masquelet [43], Cormack và Lamberty [15], Mc Craw [19], Casey
[42], Serafin [22], Amarante [23], Acland [46]… nghiên cứu và sử dụng từ
thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước.


2
Ở nước ta, ngay từ thập niên 90 của thế kỷ trước, các vạt vùng cẳng chân

xuyên cơ-da từ cơ bụng chân trong và cơ bụng chân ngoài. Trước khi phát
hiện ra các mạch trục da trực tiếp, thì các mạch xuyên từ cơ lên được hiểu là
nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho vùng da phủ trên cơ. Nhưng các vạt
mạch xuyên cơ-da nói chúng gần đây mới được ứng dụng rộng rãi do sự cấp
máu phong phú, ổn định của mạch và vạt dựa trên mạch xuyên cơ có lợi thế là
vạt mỏng, che phủ các vùng tổn khuyết nông mà không cần sử dụng cơ.
Một số câu hỏi được đặt ra: Vậy các vạt này có thể ứng dụng tin cậy
dưới dạng vạt tự do được hay không ? Sự chồng nhau về ranh giới giữa các
vạt dựa trên mạch da trực tiếp với các vạt mạch xuyên cơ bụng chân trong và
cơ bụng chân ngoài thì có mối tương quan gì ? Vị trí phân bố, sự nối tiếp của
các nguồn nuôi khác nhau (nhánh xuyên cơ-da và cuống dạng trục mạch của
vạt) trên cùng một diện tích vạt?... để có thể sử dụng tối đa nguồn cấp máu
cho vạt, và lấy vạt với kích thước lớn nhất. Cách bóc vạt như thế nào thuận lợi
và an toàn ?...
Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu giải phẫu các vạt cân-da cuống gần vùng cẳng chân sau và vạt mạch
xuyên từ cơ bụng chân”
Với mục tiêu:
1. Mô tả cuống mạch thần kinh vạt hiển và vạt cẳng chân sau.
2. Mô tả các vạt mạch xuyên cơ bụng chân.
3. Xác định mối tương quan giữa các vạt mạch xuyên và các vạt mạch
trục trên vùng da cẳng chân sau.


4
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu giải phẫu mạch máu nuôi da.
Từ lâu đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu giải phẫu tuần hoàn của da.

làm 4 loại [15]:

A: Động mạch da trực tiếp

C: Động mạch cân da

B: Động mạch cơ da

D: Động mạch thần kinh da

Hình 1.1. Phân loại mạch máu nuôi da theo Cormack và Lamberty.
- Động mạch da trực tiếp: động mạch này có đường kính lớn, được tách
ra từ thân động mạch chính của vùng, chúng có áp lực tưới máu ngang bằng
với áp lực của động mạch chính. Các động mạch này nối thông với nhau. Loại
này có nhiều ở bàn chân.


6
- Động mạch cơ-da: được tách da từ các động mạch nuôi cơ. Loại này
có nhiều ở 1/3 trên cẳng chân.
- Động mạch cân-da: động mạch đi trong vách gian cơ trước khi đến
làm giàu đám rối mạch máu ở lớp cân. Loại này có nhiều ở 1/3 giữa và 1/3
dưới cẳng chân.
- Động mạch thần kinh-da: mỗi thần kinh cảm giác thường có hệ thống
mạch máu đi cùng, chúng có nguồn gốc khác nhau. Loại mạch máu này đóng vai
trò quan trọng đối với sự cấp máu bổ sung cho da, nhưng còn ít được biết đến.
Năm 1986, Nakajima H. và cộng sự [17] đã nghiên cứu chi tiết về mạch
máu nuôi da, mô tả chi tiết về các mạch xuyên, cách phân loại mạch xuyên, tác
giả đã phân chia mạch xuyên thành hai nhóm: các mạch xuyên da trực tiếp và
các mạch xuyên da gián tiếp, trong mỗi nhóm lại chia thành các loại dưới đây:

từ trong cơ lên da. Mỗi một nhánh xuyên cơ-da chỉ cung cấp cho
một vùng da nhỏ, một động mạch nuôi cơ có thể cho ra vài
nhánh xuyên cơ-da, tập hợp các nhánh này cung cấp máu cho
một phần da nằm trên cơ.
• Loại F: các nhánh xuyên cơ-da nhưng không phân nhánh nuôi
cơ: Các nhánh xuyên da này có thể được nối thông với các nhánh
xuyên da của các cơ lân cận hoặc với nhánh da trực tiếp của
chính động mạch cơ sinh ra chúng. Động mạch nuôi cơ có thể
chỉ có nhánh da trực tiếp hoặc các nhánh xuyên da, nhưng có thể
có đồng thời hai lọai mạch máu này. Dựa vào loại này có thể
thiết kế vạt da-cơ mà cơ đó không nằm sát dưới da.
Năm 2003, Blondeel và cộng sự [27] đã phân chia mạch xuyên theo 5 loại:
+ Loại 1: Các mạch xuyên da trực tiếp.


8
+ Loại 2: Các mạch xuyên cơ-da phân nhánh nuôi cả cơ và da
trong đó nhánh nhỏ nuôi cơ và nhánh lớn nuôi da.
+ Loại 3: Các mạch xuyên cơ-da phân nhánh nuôi cả cơ và da giống
như loại 2 nhưng nhánh lớn nuôi cơ và nhánh nhỏ nuôi da.
+ Loại 4: Các mạch xuyên cơ - da nhưng không phân nhánh nuôi cơ.
+ Loại 5: Các mạch xuyên vách - da.
Năm 2005, Mathes và cộng sự [29] đã nêu ra 3 loại mạch xuyên cấp
máu cho da:
+ Loại 1: các nhánh động mạch da trực tiếp
+ Loại 2: các nhánh động mạch vách-da
+ Loại 3: các nhánh động mạch cơ-da

1.2. Lịch sử phát triển của vạt cân - da
Người đầu tiên giới thiệu kinh nghiệm sử dụng vạt cân - da trên

sợi collagen xếp chủ yếu theo hai hướng dọc và ngang, bao bọc các cơ nông
và liên tiếp với các vách gian cơ.

Hình 1.2: Các sợi Collagen của cân sâu cẳng chân [16]
Theo Cormack và Lamberty [16], các sợi collagen của cân sâu cẳng
chân xếp thành 2 lá nông và sâu (hình 1.3). Lá sâu gồm các bó sợi
collagen xuất phát từ chỏm xương mác. Từ đây, các bó sợi ở phía trước
chỏm mác chạy thẳng xuống dưới trong khi các sợi ở phía sau chỏm mác


10
chạy xuống dưới và vào trong để bám tận vào bờ trong xương chày. Các
bó sợi collagen của lá nông xuất phát từ lồi cầu trong xương chày. Từ
đây, chúng chạy ra sau và xuống dưới, lướt trên bề mặt cơ bụng chân, cơ
khu cẳng chân ngoài, cơ khu trước để cuối cùng bám tận vào xương chày.
Nhìn chung, các sợi của hai lá chạy theo hướng từ trước ra sau, từ trên
xuống dưới. Từ nguyên uỷ chúng toả ra trên hai đầu cơ bụng chân như
các nan quạt và bắt chéo qua đường dọc giữa bắp chân. Sợi của 2 lá đan
với nhau tạo nên các lỗ hình trám không đồng nhất. Đại đa số các sợi
collagen nằm gần trục dọc của cẳng chân hơn so với trục ngang, hướng
cấu trúc trên đây của lá cân cẳng chân cho phép phần bắp chân ở phía
trên có thể nở rộng và phần dưới cẳng chân thu nhỏ lại trong lúc co cơ
tam đầu.
1.3.2. Hệ thống mạch quanh cân cẳng chân
Theo Cormack và Lamberty [16] thì ngay sau báo cáo lâm sàng
của Ponten, Haertsch (1981) và Barclay (1982) đã nghiên cứu chi tiết cơ
sở giải phẫu của các "siêu vạt". Các tác giả này đã xác định vị trí phát
sinh của các nhánh xiên cân - da và mặt phẳng bóc vạt (dưới cân sâu).
Đồng thời họ cũng phát hiện sự tồn tại của đám rối cân (fascial plexus)
do các nhánh xiên từ ĐM chày trước, ĐM chày sau và ĐM mác tạo nên.

12
tạo nên đám rối cân.
Nghiên cứu góc tách và hướng đi của các tiểu ĐM lớn hơn 0,1 mm
(chủ yếu có ở trên cân), Cormack và Lamberty thấy rằng số trung bình
cộng của các góc mà những nhánh mạch tạo với trục ngang cẳng chân
xấp xỉ 90°, tức là các nhánh mạch có xu hướng nằm dọc theo trục dọc của
cẳng chân. Như vậy, hướng trội của các nhánh mạch trùng với hướng
trội của các sợi collagen vì cùng chạy dọc theo trục dọc cẳng chân. Họ gọi
đặc điểm này là tính định hướng (directionality) hay tính hướng trục
(axiality) của đám rối cân. Liên hệ với lâm sàng, các tác giả cho rằng nhờ
có đám rối cân sâu mà một vạt cân - da cẳng chân có độ an toàn và tỷ lệ
dài/rộng lớn hơn một vạt da - mỡ đơn thuần lấy ở cùng vị trí, và giải
thích rằng sở dĩ "siêu vạt" của Ponten có độ tin cậy cao vì hướng lấy vạt
trùng với hướng trội của các nhánh mạch trong đám rối cân. Độ tin cậy
của vạt sẽ giảm đi khi bóc vạt theo hướng chếch hoặc ngang.
Về phân bố các ĐM xiên trên da, các tác giả nhận xét rằng vùng da
phủ trên các cơ thon, dài được nuôi dưỡng chủ yếu bởi các nhánh xiên
cân - da trong khi vùng da phủ trên các cơ rộng, dẹt thường do các
nhánh xiên cơ - da nuôi dưỡng.
Khi mô tả cơ sở giải phẫu của các vạt cân - da ở cẳng chân, Casey
[42] đã gọi đám rối cân ở đây là hệ thống quanh cân (système périaponevrotique). Hộ thống này gồm các mạng lưới nối tiếp dưới và trên
cân, (Hình 1.5), trong đó mạng lưới trên cân là mạng lưới giàu mạch máu
nhất và đóng vai trò chính trong việc nuôi vạt cân - da. Hệ thống mạch
quanh cân hay đám rối cân cẳng chân là một lá mạch (lame vasculaire)
thực thụ góp phần quan trọng vào sự cấp máu da.


13

Hình 1.4: Mạng lưới động mạch da [42]

1. Động mạch xiên

3. Thần kinh

2. Động mạch thần kinh - da

4. Tĩnh mạch

1.4. Phân loại các dạng vạt cân - da ở cẳng chân [16] (H.1.7).
Về cơ sở giải phẫu mạch máu, một vạt cân - da phải có đủ 3 tiêu
chuẩn:
- Có một đám rối cân đáng kể tại vị trí lấy vạt cân - da
- Vị trí các mạch xiên cân - da phải được định rõ.
- Phải biết rõ hướng trội của những nhánh mạch tạo thành đám rối
cân.
Kết hợp những tiêu chuẩn trên với kinh nghiệm lâm sàng, các tác
giả đã chia các vạt cân - da ở cẳng chân thành 4 loại.
* Vạt loại A: Vạt loại A tương ứng với vạt cân - da cẳng chân cuống
gần do Ponten mô tả. Một vạt loại A được nuôi dưỡng bởi nhiều mạch
cân - da đi vào nền vạt. Trục dọc của vạt nằm song song với hướng trội
của các nhánh ĐM trong đám rối cân.
* Vạt loại B: Vạt loại B là vạt dựa trên một nhánh xiên cân - da


15
duy nhất có kích thước trung bình, hằng định cả về vị trí và sự có mặt.
Có thể được sử dụng vạt như một vạt tại chỗ có cuống hoặc như một vạt
tự do vi phẫu dựa trên phạm vi cấp máu của ĐM xiên này. Máu TM của
vạt được dẫn lưu bởi hệ thống TM dưới da hoặc bởi các TM tuỳ hành
động mạch xiên, tuỳ theo vị trí lấy vạt và cách sử dụng vạt. Vạt ĐM dựa

xuyên sau đây được nhắc đến nhiều hơn cả [14].


17
- Vạt mạch xuyên thực thụ: các vạt loại này được nuôi dưỡng bằng các
mạch xuyên cơ- da, đó là loại D và F trong cách phân loại của Nakajima, loại
3 theo Mathes, loại 2, 3, 4 của Blondeel.
- Vạt mạch xuyên thuần túy: trong nhóm này là các vạt được cấp máu
bởi các mạch xuyên da trực tiếp hoặc các mạch xuyên vách-da. Trong loại vạt
này có các mạch xuyên loại A, B, C, E theo phân loại của Nakajima, mạch
xuyên loại 1 và 2 của Mathes, mạch xuyên loại 1 và 5 của Blondeel.
1.6. Vạt mạch xuyên cơ -da từ cơ bụng chân trong.
Vạt cân-da bụng chân trong được nuôi dưỡng bởi các nhánh xuyên qua cơ
của động mạch bụng chân trong, động mạch này là nhánh bên của động mạch
khoeo, nó chạy vào trong cơ bụng chân và tách ra các nhánh nuôi cơ rồi cho các
nhánh xuyên qua cơ bụng chân lên cho da ở phía sau trong vùng bắp chân.
Năm 1978 Feldman J.J. và cộng sự […] đã sử dụng vạt da- cơ bụng chân
trong để che phủ những khuyết hổng phần mềm vùng quanh gối và 1/3 trên
cẳng chân. Tiếp theo, McCraw J.B, Dibell D.G […]. Nhưng các tác giả này chỉ
sử dụng vạt dưới dạng da- cơ mà chưa mô tả về các nhánh xuyên lên nuôi da.
Năm 1996, Montegut W.J và Allen R.J[36] nghiên cứu khá đầy đủ về
giải phẫu mạch xuyên vạt bụng chân trong.
Năm 2001 Cavadas M.D. và cộng sự [33] đã sử dụng vạt này dưới dạng
cuống tự do cho kết quả rất khả quan và nơi cho vạt đều có thể đóng da trực
tiếp được. Tác giả đã nghiên cứu trên xác và thấy rằng có trung bình 2,2
nhánh xuyên, số lượng các nhánh xuyên dao động từ 1 đến 4 nhánh xuyên. Vị
trí mạch xuyên cách nếp lằn khoeo từ 9 đến 18cm, thường gặp nhất là 2 nhánh
xuyên, vị trí trung bình là 11.8cm (trong khoảng 8.5 đến 15cm) và 17cm
(trong khoảng 15 đến 19cm).
Năm 2005 Shao - Liang - Chen và cộng sự [35] công bố trong tạp chí

vạt tự do. Vì những lý do này, nên kinh nghiệm sử dụng vạt nhánh xuyên
động mạch bụng chân ngoài còn nhiều hạn chế.


19
Nghiên cứu của Kosutic D [39] năm 2012, bằng phương pháp phẫu tích
trên 16 cẳng chân tử thi được bảo quản, kết quả là có 64 nhánh xuyên của
động mạch cơ bụng chân ngoài. Số lượng trung bình của các nhánh xuyên
động mạch cơ bụng chân ngoài được xác định trên mỗi cẳng chân là 3. Có 6
nhánh xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài chủ đạo. Một nhánh xuyên động
mạch cơ bụng chân ngoài chủ đạo được phát hiện ở 9,4% tổng số các nhánh
xuyên động mạch bụng chân ngoài.
Các nhánh xuyên chủ đạo được chọn trên cơ sở đường kính của chúng
khi xuyên qua cân ≥0,5 mm. Đường kính trung bình của các nhánh xuyên chủ
đạo là 1,45 mm (từ 0,7 - 2,5 mm). Các nhánh xuyên động mạch bụng chân
ngoài chủ đạo nằm cách mắt cá ngoài trung bình 28,5 cm.
Các nhánh xuyên nằm ở mức ngang với 1/3 dưới của cơ bụng chân bị
loại khỏi nghiên cứu do các nhánh này thuộc hệ thống động mạch mác và
chày sau và không thuộc các hệ thống động mạch cơ bụng chân.
Với những nghiên cứu còn khiêm tốn nêu trên, cũng đã chỉ ra sự đa dạng
của các mạch xuyên cơ-da từ động mạch cơ bụng chân ngoài, hơn nữa trên
cùng một cá thể, tần số xuất hiện và kích thước của các nhánh mạch xuyên
của các động mạch cơ bụng chân ngoài cũng khác nhau. Do vậy những
nghiên cứu tiếp theo về mạch xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài là cần
thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
1.8. Vạt hiển (Saphenous flap)
Vạt hiển được Acland [46] công bố năm 1981. Vạt được lấy ở mặt
trong cẳng chân dựa trên sự cấp máu của ĐM hiển. Sau Acland nhiều tác
giả đã nghiên cứu về vạt này như các nghiên cứu của Masquelet [44], [45],
Serafin [22], Strauch [24] và Regnard [46].

chạy kèm theo TK hiển. Ở trường hợp không có một ĐM thực thụ chạy
theo TK hiển, vẫn có một mạng lưới tiếp nối của các ĐM da bao quanh
TK hiển và mạng lưới này vẫn có giá trị như một mạch trục. Ngoài ĐM
hiển, da mặt trong cẳng chân còn được cấp máu bởi hai nguồn khác. Đó
là:
- Các nhánh xiên cân - da từ ĐM chày sau chạy qua khoảng kẽ
giữa hai lớp cơ nông và sâu của cẳng chân sau;
- Các nhánh xiên cơ - da đến từ cơ bụng chân trong.
Hai nguồn mạch nói trên sẽ cùng ĐM hiển tạo nên mạng lưới mạch
trên cân. Mạng lưới này và ĐM hiển là yếu tố đảm bảo sự cấp máu cho vạt.
Nhờ có mạng lưới trên cân, có thể mở rộng phạm vi lấy vạt vượt quá phạm
vi giải phẫu của trục mạch; có thể lấy vạt với kích thước 24 x 6cm (tỉ lệ


22
dài/rộng đạt tới 4/1).
Masquelet [30] cũng là tác giả đưa ra các giới hạn cụ thể của vạt
hiển. Tác giả cho rằng, các giới hạn dọc là: ở phía trước, một đường ở
sau bờ trong xương chày 1-2 cm, ở phía sau đường dọc giữa mặt sau bắp
chân hoặc vượt quá ra ngoài. Đường rạch ở phía trước phải đảm bảo để
tĩnh mạch hiển lớn nằm trong vạt và hơi mở rộng ra ở nền vạt. Các giới
hạn ngang là: nền vạt nằm ở phần thấp của hố khoeo, đầu dưới của vạt có
thể cách mắt cá trong 5 cm. Như vậy các giới hạn của vạt hiển giống với
phạm vi da của vạt da - cơ bụng chân trong. Ở người lớn có tầm vóc trung
bình, chiều dài của vạt từ 22 - 28 cm, rộng từ 6 - 8 cm.
1.8.2. Tĩnh mạch của vạt
Có hai hệ thống TM nông và TM tuỳ hành cùng dẫn lưu máu cho phạm
vi da của vạt hiển.
Hệ thống nông [22]
TM hiển lớn (vena saphena magna) đi qua mô dưới da của vạt, song

1.8.4. Các nghiên cứu trong nước về vạt hiển.
Ở Việt nam, kết quả sử dụng các vạt cân - da bụng chân cuống gần
lấy ở mặt trong bắp chân, có sự tham gia cấp máu của ĐM hiển đã được
trình bày trong các luận án của Nguyễn Văn Tín [12], Nguyễn Xuân Thu
[10]. Tuy nhiên đây chưa phải là dạng vạt hiển điển hình.
Nghiên cứu của tác giả Ngô Xuân Khoa [5]bằng phương pháp phẫu
tích kinh điển trên 52 tiêu bản chi dưới ở tử thi người việt trưởng thành cho
thấy:
ĐM gối xuống có mặt ở 52/52 tiêu bản (100%) số tiêu bản phẫu tích.
ĐM gối xuống luôn tách ra từ mặt trong ĐM đùi, ở phần dưới của ống cơ
khép và ngay trên lỗ gân cơ khép. Điểm nguyên uỷ của ĐM gối xuống ở trên
đường khớp gối từ 12,5 tới 14,5cm và luôn ở thấp hơn điểm mà TK hiển
xuyên qua mạc rộng khép để đi ra nông


24
ĐM chạy xuống trong ống cơ khép trên một đoạn rất ngắn < 2,0 cm và
chia ra nhiều nhánh gồm các nhánh nhỏ cho cơ may, nhánh cho cơ rộng trong
và khớp gối, và nhánh da (ĐM hiển). ĐM hiển tiếp tục chạy xuống một đoạn
ngắn trong ống cơ khép theo hướng đi của ĐM gối xuống. ĐM hiển xuyên
qua mạc rộng - khép ở dưới nguyên uỷ của nó từ 1,0 tới 2,0cm, rồi tiếp tục đi
xuống ở dưới cơ may. Khi xuống tới gần chỗ bám tận của cơ may vào xương
chày, dưới nguyên uỷ từ 12,0 tới 13,0cm, ĐM hiển thoát khỏi mặt sâu cơ may
để đi vào cẳng chân.
Tuy nhiên chỉ có 40/52 tiêu bản cho nhánh ĐM hiển điển hình, 12/52
tiêu bản ĐM hiển không điển hình (nhỏ và tận hết nhanh chóng ở bờ dưới cơ
may). Ở 40 tiêu bản có ĐM hiển điển hình thì bên cạnh sự phân nhánh cho da,
ĐM hiển luôn tùy hành cùng TM và TK hiển để tạo nên hình thái bó mạch
thần kinh rõ rệt.
Tác giả đã nghiên cứu phạm vi cấp máu của động mạch hiển bằng

trong khe giữa hai đầu cơ bụng chân. Thống kê của Serafin [22] cho thấy ĐM
này tách ra từ ĐM khoeo ở 50% số trường hợp, từ ĐM cơ bụng chân ngoài ở
45% số trường hợp. Trong khi đó, Strauch [101] lại mô tả tới 4 dạng nguyên
uỷ của ĐM bì khoeo ngoài: từ ĐM khoeo (65%), từ ĐM cơ bụng chân ngoài
(10%), từ ĐM cơ bụng chân trong (15%) và từ các ĐM da khác (10%).
Từ nguyên uỷ, ĐM bì khoeo ngoài chạy xuống dưới và ra ngoài để tuỳ
hành TK bì bắp chân ngoài. Đường kính của ĐM biến thiên từ 1,0 tới l,7mm
(trung bình l,2mm). Chiều dài của cuống mạch có thể đạt 8 - l0cm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status