Cơ sở lý luận thư mục học
CƠ SỞ LÍ LUẬN THƯ MỤC HỌC
1. Thuật ngữ “thư mục”
Thuật ngữ thư mục xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại bắt nguồn từ
2 chữ biblion: Sách,grapho: chép và bibliographo: chép sách.
Khoảng thế kỉ thứ V trước công nguyên, ở Hi Lạp từ “nhà thư mục”
được dùng để chỉ những người chép sách. Trong thời cổ đại, nghề
chép sách là nghề được tôn vinh vì nghệ thuật chép sách đòi hỏi
trình độ học vấn và khả năng bút pháp nghệ thuật. Người có được
những đòi hỏi vậy không nhiều. Sau sự sụp đổ của thế giới cổ đại,
thuật ngữ này cũng không được sử dụng nữa.
Thế kỉ thứ XV, ngành in ra đời tạo nhân tố thúc đẩy cho các
ngành khoa học phát triển và đặc biệt sự kiện này có ảnh hưởng rõ
rệt đối với lĩnh vực thông tin thư mục. Từ khi ngành in ra đời sách
được nhân bản nhiều, nhanh hơn và được phổ biến rộng rãi hơn
trong xã hội, do đó thông tin thư mục cũng trở nên thông dụng hơn.
Trong giai đoạn này, xuất hiện thuật ngữ “catalogue” hoặc
“catalogus” để chỉ những danh mục tài liệu, ví dụ:
“Catalogus illustrium virorum Germaniae”(Mục lục tranh Đức)
(1946) của J.Tritheim.
Thế kỉ thứ XVI, ở Đức quê hương của ngành in, hàng năm cứ
vào mùa xuân và mùa thu lại tổ chức hội chợ sách. Ở hội chợ đã sử
dụng thư mục quảng cáo, áp phích với tên là “messkataloge”được
dùng phổ biến hơn, cùng với thuật ngữ “bibliothéca”, ví dụ:
“Bibliothéca universalis sive catalogus omnium seriptorum
locupletissimus in tribus linguis Latina, Graeca et Hebraica” (Thư
mục tổng quát hay mục lục tất cả các tài liệu bằng ba ngôn ngữ
Latinh, Hi Lạp và Do Thái) của Conrad Gesner (Thuỵ sĩ)-(1545-
1555)
“Bibliothéque Française”(Pháp) (1584-1585)
“Catalogus of English printed books” của A.Maunsell (Anh)
nghĩa của thuật ngữ “Thư mục”. Trong “A dictionary of book
history”, J.Fearther viết: “A much abused word”, but it has come to
mean “writing about books”, and by extension “the compiling of
lists of books” and “lists of books” themselves. Theo ông “thư
mục” là một từ bị lạm dụng, thư mục vừa là việc biên soạn danh
mục sách nhưng thư mục cũng chính là danh mục sách.
Trong tài liệu “General introduction to the techniques of
information and documentation work”của Claire Guinchat và
2
Cơ sở lý luận thư mục học
Michel Menou có đoạn viết: “The term “bibliography” has several
meanings:
“ The science of book.
An exhaustive or selective list of documents on a subject.
A periodical list of newly published documents”.
Như vậy theo các nhà nghiên cứu phương Tây thì thuật ngữ thư
mục có 3 nghĩa:
Là một danh mục tài liệu
Là một lĩnh vực hoạt động
Là một khoa học
Hiện tượng đa nghĩa của thuật ngữ là 1 hiện tượng thông thường
trong lĩnh vực khoa học xã hội, ví dụ như thuật ngữ “văn hoá”. Bởi
vì “khái niệm phát triển cùng với hiện tượng mà nó phản ánh”
Ở Nga, để thống nhất việc sử dụng thuật ngữ thư mục, uỷ ban
tiêu chuẩn và đo lường của hội đồng bộ trưởng Liên Xô (cũ) đã
xuất bản những tiêu chuẩn quốc gia về công tác thư viện- thư mục.
Ở phương Đông tài liệu thư mục phát hiện từ rất sớm, tài liệu
thư mục đầu tiên được biết đến là “Biệt lục”của Lưu Hướng có từ
thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, dưới triều Hán (Trung Quốc).
Sau Biệt Lục là Thất Lược cũng của Lưu Hướng và con là Lưu
Xuất phát từ nhu cầu khách quan, con người đã hình thành chữ
viết, một phương tiện để ghi lại tri thức, kinh nghiệm, tình cảm…
của mình. Sự xuất hiện của sách chép tay và người đọc cũng là sự
xuất hiện hệ thống giao tiếp tài liệu. Tuy nhiên, sách chép tay rất ít
ỏi, nên chỉ thực hiện chức năng nguồn tri thức trong phạm vi rất
hẹp.
Sự phát minh ra ngành in đã tạo được một bước ngoặc quan
trọng trong hệ thống giao tiếp tài liệu.
Ngày nay, với những kỹ thuật mới, tinh vi, sách in tuy đóng vai
trò dẫn đầu nhưng không còn là duy nhất trong hệ thống giao tiếp
tài liệu. Ngoài sách thông tin xã hội còn được ghi lại, lưu giữ lại
bằng nhiều hình thức khác nhau. Do đó hệ thống giao tiếp tài liệu
hiện nay là hệ thống rộng lớn về qui mô và phức tạp về cấu trúc.
Vậy hệ thống giao tiếp tài liệu là gì?
Hệ thống giao tiếp tài liệu là tiểu hệ thống trong hệ thống giao
tiếp thông tin lớn hơn. Hệ thống này đảm bảo thu nhập, xử lý, lưu
4
Cơ sở lý luận thư mục học
giữ, phổ biến và sử dụng tài liệu như một vật mang thông tin xã hội.
Trong hệ thống giao tiếp tài liệu bao gồm:
Tài liệu: là bất kỳ một vật liệu nào mà trong đó con người ghi
lại những thông tin xã hội.
Người sử dụng tài liệu: là cá nhân hay tập thể sử dụng những
nguồn thông tin khác nhau, được ghi lại trong tài liệu với bất kỳ
mục đích gì (khoa học, sản xuất, sáng tạo, học tập…)
Giao tiếp tài liệu: Là quá trình hay phương thức phổ biến
(truyền) thông tin trong xã hội bằng tài liệu (khác với với giao tiếp
thông tin bằng những hình thức khác, ví dụ như bằng miệng)
Như vậy, hệ thống giao tiếp tài liệu là toàn bộ tài liệu, toàn bộ
người sử dụng tài liệu và tất cả những mối quan hệ giữa tài liệu