ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
CHÂU VĂN ĐÔN
TÓM TẮT LUẬN ÁN
TÍCH HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG ĐA TRÍ TUỆ
ĐỂ DẠY KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH
CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH
HUẾ, 2019
Luận án này được hoàn thành tại Trường Đại học Ngoại ngữ Huế
Người hướng dẫn:
PGS.TS. TRƯƠNG VIÊN
Phản biện 1:
......................................................
......................................................
Phản biện 2:
......................................................
cấp thêm minh chứng liên quan đến ý kiến phản hồi của người học cũng được thực hiện
thông qua quá trình thu thập và xử lý dữ liệu từ các phiếu phản hồi thông tin của 30 sinh
viên thực nghiệm, cũng như các cuộc phỏng vấn chuyên sâu đối với 06 sinh viên thực
nghiệm được lựa chọn ngẫu nhiên theo kết quả điểm kiểm tra sau tác động ở các mức cao
nhất (02 sinh viên), trung bình (02) và thấp nhất (02).
Kết quả từ các bài kiểm tra trước và sau tác động cho thấy nhiều sự khác biệt thống
kê có ý nghĩa giữa kết quả kiểm tra đánh giá kỹ năng nói của sinh viên trước và sau khi
tham gia thực nghiệm. Kết quả phân tích dữ liệu kết quả kiểm tra cho thấy có sự khác biệt
có ý nghĩa (M = .43) nghiêng về phía bài kiểm tra sau tác động. Sự cải thiện đáng kể như
vậy về giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động cho thấy chương trình thực nghiệm
thật sự đã có ảnh hưởng tích cực cải thiện kỹ năng nói, cũng như tăng cường hứng thú học
tập của sinh viên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đa số các sinh viên tham gia thực
nghiệm đều ủng hộ và đánh giá tích cực quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ. Các
thông số ủng hộ được thống kê từ các dữ liệu liên quan đến mức độ nhận thức ngày càng
cao của sinh viên đối với hồ sơ trí tuệ của bản thân, nhìn nhận những lợi ích của các hoạt
động đa trí tuệ trong hỗ trợ kỹ năng nói, tăng cường hứng thú học tập, và tham gia tốt hơn
vào các hoạt động thảo luận và tương tác trong chương trình luyện nói thực nghiệm.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Bối cảnh nghiên cứu
Mục tiêu chủ yếu của việc học ngoại ngữ, theo Brown (2001), là năng lực thực hiện
các hoạt động giao tiếp, thông qua đó sử dụng ngôn ngữ đích. Các phương pháp dạy và học
ngôn ngữ truyền thống, mặc dù đã có rất nhiều cải tiến và chuyển biến đáng kể, vẫn còn
nhiều hạn chế để tạo lập một môi trường luyện nói hoàn toàn phù hợp với mọi sở thích và
năng lực sở trường của người học. Dorgham (2011) xác lập rằng đa phần mọi người học đều
sở hữu nhiều kiểu và nhiều mức độ trí tuệ khác nhau và khai thác những năng lực này theo
với các giảng viên năm học trước có tham gia dạy các học phần Tiếng Anh tổng hợp của lớp
này cho thấy đa số các sinh viên nói trên thường cảm thấy miễn cưỡng tham gia vào các
hoạt động luyện nói trên lớp, xuất phát từ nhiều lý do như vốn từ vựng hạn chế, thiếu tự tin,
trang thiết bị học tập không phù hợp, hạn chế sử dụng các nguồn dụng cụ trực quan, phương
pháp luyện nói chưa khuyến khích đúng mực hứng thú học tập của sinh viên...
Nhằm mục đích phát triển kỹ năng nói tốt hơn cho sinh viên chuyên ngữ, nghiên cứu
này được áp dụng với mô hình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói
thực nghiệm. Từ đó, trên cơ sở các kết quả thu được liên quan đến các các mức độ ảnh
hưởng có khả năng xảy ra từ việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ, nghiên cứu sẽ khảo sát
thông tin phản hồi của sinh viên đối với việc áp dụng chương trình thực nghiệm như vậy.
1.3. Mục đích nghiên cứu:
- Khảo nghiệm tính hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình
thực nghiệm phát triển kỹ năng nói cho sinh viên.
- Tìm hiểu mức độ đánh giá của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào
chương trình thực nghiệm.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
1. Việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ có những ảnh hưởng gì đến việc phát triển kỹ
năng nói của sinh viên chuyên ngữ?
2. Sinh viên chuyên ngữ đánh giá như thế nào về việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
vào chương trình thực nghiệm?
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào hai lĩnh vực chính: ảnh hưởng của việc tích hợp các
hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói cho sinh viên và đánh giá của sinh viên đối với
quá trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ nêu trên. Nghiên cứu này mô phỏng và áp dụng
Thuyết Đa trí tuệ của Gardner’s (1983, 1996); hướng dẫn thực hiện các hoạt động đa trí tuệ
của Armstrong (1993); khung đánh giá và phát triển năng lực đa trí tuệ (MIDAS) của
Shearer (2001).
3
Luận này gồm có 05 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan Luận án. Chương 2
trình bày lược sử nghiên cứu. Chương 3 bàn luận các phương pháp nghiên cứu. Chương 4
trình bày các kết quả và thảo luận. Chương 5 kết luận và đề xuất các khuyến nghị.
4
CHƯƠNG 2: LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày tóm lược các khái niệm và nghiên cứu trước đây liên quan đến
các nội dung của nghiên cứu này. (1) Các đặc trưng cá nhân của người học trong một lớp
luyện nói tiếng Anh; (2) Kỹ năng nói tiếng Anh: định nghĩa, các dạng hoạt động luyện nói,
và một số dạng bài tập luyện nói theo 03 giai đoạn áp dụng trong chương trình thực nghiệm
của nghiên cứu này; (3) Thuyết Đa trí tuệ của Gardner (1983): định nghĩa trí tuệ, một số
quan điểm ủng hộ và phê phán Thuyết Đa trí tuệ trong giao dục; (4) Một số nét đặc trưng
của người học tiếng Anh như một ngoại ngữ ở Việt Nam. Ngoài ra, chương này cũng nêu và
bàn luận đến một số nghiên cứu trước đây ở trong nước và trên thế giới liên quan đến nội
dung của nghiên cứu này, cũng như chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu mà các công trình
trước đây chưa khai thác nhằm nhấn mạnh các điểm đóng góp mới của nghiên cứu này.
2.1. Thuyết Đa Trí Tuệ
Thuyết Đa trí tuệ là một học thuyết tâm lý và giáo dục được phát triển và ngày càng
bổ sung hoàn thiện bởi tác giả Gardner (1983). Thuyết Đa trí tuệ đề xuất quan điểm mỗi cá
nhân người học có nhiều kiểu trí tuệ sở trường khác nhau, thay vì chỉ có 02 kiểu trí tuệ sử
dụng ngôn ngữ và suy luận lô gíc thường được đề cập và định nghĩa theo các quan điểm trí
tuệ truyền thống. Tác giả Gardner (1983) cho rằng mỗi cá nhân người học thường sở hữu
nhiều mức độ khác nhau của nhiều kiểu trí tuệ khác nhau, và do vậy, mỗi người học đều có
một “Hồ sơ đa trí tuệ tri nhận” đặc trưng riêng. 08 kiểu trí tuệ trong Thuyết Đa trí tuệ áp
dụng trong nghiên cứu này gồm trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ vận động cơ thể, trí tuệ giao tiếp
hướng ngoại, trí tuệ hướng nội, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ thị giác không gian, trí tuệ lô gíc
toán học, và trí tuệ yêu mến thiên nhiên.
2.2. Thuyết Tương tác xã hội, Phong cách học tập và Đặc trưng cá nhân
Vygotsky (1978) nhấn mạnh quan điểm “Mọi trẻ em đều là những người học tích
2.2.1.3. Đường hướng giao tiếp
Đường hướng giao tiếp được phát triển vào thập niên 1960 và đầu những năm 1970
phát xuất từ các khái niệm “ý niệm” (notions) và “chức năng” (functions) trong quá trình sử
dụng ngôn ngữ và năng lực giao tiếp (Nunan, 1991). Về mặt bản chất, đường hướng giao tiếp
có nhiều nét tương đồng với quan điểm người học định hướng quá trình học tập (learnerorientation). Nhu cầu giao tiếp của người học nhằm mục đích thu thập thông tin để cân bằng
các khoảng trống thông tin được xác lập làm nền tảng cho nhiều mục tiêu khác nhau trong các
hoạt động dạy và học.
2.3. Kỹ năng nói tiếng Anh
2.3.1. Định nghĩa kỹ năng nói tiếng Anh
Trong nghiên cứu này, kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên chuyên ngữ được định
nghĩa là quá trình tương tác và giao tiếp sử dụng lời nói. Tuy nhiên, nhằm mục đích hình
6
thành và phát triển năng lực ngôn ngữ theo đó sinh viên phải có khả năng đáp ứng các yêu
cầu đặt ra của chương trình luyện nói, kỹ năng nói tiếng Anh được định nghĩa lại gồm 04
cức năng giao tiếp như sau: (1) trao đổi thông tin về một số chủ điểm thông dụng trong đời
sống hàng ngày; (2) so sánh các cặp tranh; (3) nhanh chóng đưa ra quyết định lựa chọn; và
(4) thuyết phục người khác đồng ý với quyết định của mình, theo yêu cầu chuẩn đầu ra của
chương trình thực nghiệm.
2.3.2. Các yếu tố cấu thành kỹ năng nói
Theo các tác giả McDonough và Shaw (2012), người học nếu muốn nói tiếng Anh
lưu loát, phải có khả năng sử dụng thông thạo tổng hợp nhiều thành phần kỹ năng nói khác
nhau. Simin và Tavakoli đã đề cập đến 03 yếu tố cấu thành kỹ năng nói sau đây: “Các yếu
tố cơ học (cách phát âm, ngữ pháp và từ vựng); các chức năng ngôn ngữ (giao dịch và tương
tác); và các quy chuẩn văn hóa và xã hội (tính luân phiên, tốc độ sử dụng ngôn ngữ nói, độ
dài các khoảng ngừng giữa những người nói, vai trò của các bên tham gia.”
2.3.3. Các hoạt động luyện nói theo nguyên lý tích hợp đa trí tuệ
Trong nghiên cứu này, một số hoạt động luyện nói theo quan điểm đa trí tuệ tích hợp
trong chương trình thực nghiệm có thể được liệt kê như sau: các hoạt động kể chuyện hoặc
nào cũng đều có đặc tính tương tự như vậy.
2.6. Một số nghiên cứu trước đây liên quan đến áp dụng Thuyết Đa trí tuệ
Phần này trình bày tóm lược một số nghiên cứu trước đây liên quan đến ứng dụng
Thuyết Đa trí tuệ vào thực tiễn dạy học ngoại ngữ. Nguyên lý ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ
trong dạy học ngoại ngữ nhìn chung là sự kết hợp của các công cụ như các hoạt động tích
hợp đa trí tuệ, nguồn đồ dùng trực quan đa trí tuệ và phương pháp kiểm tra đánh giá theo
quan điểm đa trí tuệ như đã được để cập và bàn luận bởi các nhà nghiên cứu Armstrong
(1993), Campbell (1994 & 2003), Christison (1996 & 1999), Hoerr (2002, 2014), Nolen
(2003), Arnold & Fonseca (2004), Hashemian & Adibpour (2012), Salem (2013), Hamidi &
Seifoori (2014), Koura & Hebaishi (2014), Younas & Subhani (2015), Orhan and Hasan
(2015), Neda & Rahanama (2015), Fauziah (2015), Adityas (2016), Gündüz & Ünal (2016),
Kentab (2016), Madkour & Mohamed (2016) và Beare (2016 & 2018).
Tuy nhiên, trong phần lớn các công trình nghiên cứu của những tác giả trên, mỗi hoạt
động đa trí tuệ đều có xu hướng được thiết kế và thực hiện để tập trung phát triển một kiểu
trí tuệ nhất định. Nghiên cứu này là một nỗ lực để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu như vậy
trong ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ bằng cách tích hợp các hoạt động đa trí tuệ với nguyên tắc
mỗi hoạt động dạy học đa trí tuệ có thể cùng một lúc phát huy và tăng cường nhiều kiểu trí
tuệ của sinh viên. Ngoài ra, nhằm mục đích thiết lập các hồ sơ đa trí tuệ của sinh viên để
thuận tiện tìm hiểu và nắm bắt các điểm mạnh và điểm yếu để phát kỹ năng nói, nghiên cứu
này mô phỏng phiên bản Khung đánh giá phát triển đa trí tuệ (MIDAS) và có thiết kế lại để
phù hợp với mục đích nghiên cứu là phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên.
8
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu. Trước hết, các phương pháp nghiên
cứu áp dụng cho nghiên cứu này được phân tích kỹ về tính hợp lý; tiếp theo thiết kế nghiên
cứu được mô tả và thực hiện liên quan đến các đối tượng tham gia thực nghiệm, các công cụ
nghiên cứu, quy trình thu thập và phân tích dữ liệu. Ngoài ra, độ tin cậy và tính hiệu lực của
nghiên cứu cũng được đề cập và bàn thảo.
Các đối tượng tham gia nghiên cứu này bao gồm 60 sinh viên chuyên ngữ, chuyên
ngành Sư phạm tiếng Anh, chia đều số lượng cho 02 nhóm đối chứng và thực nghiệm trên
cơ sở tự nguyện đăng ký tham gia vào chương trình luyện nói thực nghiệm.
3.4. Công cụ nghiên cứu
Công cụ
Chức năng
Phương
pháp phân
tích dữ liệu
Bảng khảo
sát trí tuệ
Thiết lập hồ
sơ trí tuệ,
thiết kế và
thực hiện các
hoạt động đa
trí tuệ
Mô tả định
lượng
Bảng
khảo
sát
trắc
nghiệm với 5
sự lựa chọn
đối với mỗi
Cambridge
Vấn đáp
Bảng câu hỏi
trước và sau
thực nghiệm
Khảo sát ý
kiến phản hồi
của người học
đối với quan
điểm tích hợp
các hoạt động
đa trí tuệ
Kết hợp mô tả
định lượng và
định tính
02 bảng khảo
sát
trắc
nghiệm với 5
sự lựa chọn
đối với mỗi
câu hỏi
Viết
Phiếu đánh
giá thông tin
phản hồi
Điều chỉnh kế
tính
Các câu hỏi
có hướng dẫn
Vấn đáp
3.5. Lịch trình nghiên cứu
Thời gian
Trước thực
nghiệm
Tuần 1 – 14
Tuần 15 và sau
thực nghiệm
Hoạt động nghiên cứu
- Bảng câu hỏi trước thực nghiệm để người học
đánh giá và khái quát thông tin về các chương
trình luyện nói trước đây;
- Bài kiểm tra trước tác động
- Thực hiện chương trình luyện nói thực nghiệm
- Thực hiện chương trình luyện nói thông thường
- Bảng câu hỏi sau thực nghiệm lấy thông tin phản
hồi của người học về quan điểm tích hợp các hoạt
động đa trí tuệ;
- Bài kiểm tra sau tác động
- Phỏng vấn
Nhóm liên quan
Nhóm thực nghiệm
tượng tham gia nghiên cứu phải tuyệt đối trung thực, chính xác và được minh chứng tốt từ
các nguồn trích dữ liệu phù hợp.
3.8. Vai trò của tác giả nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả đóng vai trò vừa là người nghiên cứu, vừa là giảng
viên thực hiện chương trình luyện nói thực nghiệm. Vài trò trực tiếp giảng dạy giúp tác giả
tiếp cận tốt với cơ sở thực hiện nghiên cứu và hiểu rõ các điều kiện thực hiện nghiên cứu.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các bài kiểm tra trước và sau tác động, 02 giảng viên
luyện nói khác được mời để chấm điểm trực tiếp cho các sinh viên để có được kết quả điểm
số đánh giá khách quan đối với kỹ năng nói của sinh viên, điều này thật sự đã giúp tác giả
rất nhiều trong lĩnh vực thiết lập nguồn dữ liệu khách quan và đáng tin cậy.
3.9. Các vấn đề đạo đức nghiên cứu
Để tránh tạo ra các ảnh hưởng không tốt cho các sinh viên tham gia vào nghiên cứu
này, tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được thông báo kỹ rằng danh tính và
thông tin phản hồi từ các đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật. Mục đích của nghiên cứu
này cũng được miêu tả cụ thể và rõ ràng. Tất cả mọi đóng góp và tham gia điền vào bảng
câu hỏi khảo sát, hoàn thành các bài kiểm tra trước và sau tác động, trả lời phỏng vấn, điền
vào phiếu phản hồi thông tin, đều thực hiện trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện.
11
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Trong chương này, các kết quả nghiên cứu được trình bày, bắt đầu từ thông tin so
sánh điểm số kiểm tra nói của sinh viên trước và sau khi tham gia chương trình luyện nói
thực nghiệm. Sau đó, kết quả phân tích thông tin phản hồi của sinh viên đối với quan điểm
tích hợp các hoạt động đa trí tuệ sẽ được nêu và phân tích. Trong Chương 5 của tóm tắt này,
các kết quả chính của nghiên cứu này sẽ được mô tả tóm lược, nên trong phần này, các kết
quả nghiên cứu sẽ chỉ được đề cập và bàn luận ngắn gọn dưới dạng các bảng biểu thống kê.
4.1. Ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
4.1.1. Hồ sơ trí tuệ của sinh viên tham gia nghiên cứu
Trước hết, sinh viên được yêu cầu điền vào bảng khảo sát hồ sơ trí tuệ để tìm hiểu
12
Maximum
8.50
9.00
Phép phân tích phương sai ANOVA được áp dụng để kiểm tra mức độ khác biệt giữa
các giá trị trung bình của kết quả kiểm tra kỹ năng nói trước và sau tác động.
ANOVA
MEANPOST
Sum of Squares
4.320
3.522
Between Groups
Within Groups
Total
df
5
24
7.842
Mean Square
.864
.147
F
6.68333
95% Confidence Interval of the
Difference
Lower
Upper
6.4407
6.9259
Bảng 4.3: Trị số trung bình của điểm kiểm tra trước tác động so với trị số trung bình chuẩn
Bảng 4.3 cho thấy trị số trung bình của điểm kiểm tra trước tác động khác biệt có ý
nghĩa so với trị số 0.5. Có thể kết luận rằng trị số trung bình của điểm kiểm tra trước tác
động hơi cao hơn một ít (6.68) so với trị số trung bình chuẩn. Phép kiểm định One-sample ttest cũng được thực hiện đối với điểm kiểm tra kỹ năng nói sau tác động để xác định liệu trị
số trung bình này có khác biệt ý nghĩa so với chuẩn giá trị 0.7 (trị số trung bình chuẩn đối
với kết quả điểm kiểm tra nói sau tác động) hay không.
One-Sample Test
Test Value = 0.7
MEANPOST
t
72.854
df
29
Sig. (2-tailed)
.000
Hình 4.2 cho thấy chỉ có rất ít thay đổi ở năng lực diễn đạt nói của các sinh viên ở
nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm, trong khi đó có sự khác biệt có ý nghĩa ở năng
lực diễn đạt nói của sinh viên nhóm thực nghiệm: Mức độ năng lực nói của sinh viên sau
thực nghiệm cao hơn mức độ ban đầu trước khi tham gia thực nghiệm.
4.1.2.2. Khảo sát thêm: Tương quan giữa các kết quả kiểm tra trước và sau tác động
Để khảo sát mối tương quan giữa kết quả kiểm tra trước và sau tác động của sinh
viên nhóm thực nghiệm, công thức the Independent Samples T- test được áp dụng.
Bảng 4.6: Mối tương quan giữa kết quả kiểm tra trước và sau tác động
Independent Samples Test
Levene's Test for
Equality of Variances
t-test for Equality of Means
95% Confidence
Interval of the
Difference
TOTAL
Equal variances
assumed
Equal variances
not assumed
F
Sig.
7,090 ,010
t
kể so với bài kiểm tra trước tác động.
14
4.2. Bàn luận về ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Kết quả nghiên cứu thu được từ điểm kiểm tra nói trước và sau tác động đã chứng
minh năng lực diễn đạt nói của sinh viên đã thực sự có được sự cải thiện đáng kể. Kết quả
này đồng nhất với các nghiên cứu thực hiện bởi các tác giả Salem (2013a & 2013b), Hamidi
và cộng sự., (2014), Fauziah (2015), Gündüz & Ünal (2016), Kentab (2016), Madkour &
Mohamed (2016). Một lý do giải thích cho những kết quả kiểm tra nói của sinh viên thực
nghiệm ở bài kiểm tra sau tác động có thể xuất phát từ thực tế là các hoạt động cộng tác ở
các nhóm trí tuệ suốt trong các bài luyện nói thực nghiệm có thể đã làm tăng mức độ hứng
thú học tập của sinh viên, từ đó sinh viên quan tâm nhiều hơn đến bài học và tham gia tích
cực hơn vào các hoạt động thảo luận nhóm và phát triển năng lực diễn đạt nói.
4.3. Thông tin đánh giá của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai nhằm tìm hiểu thông tin đánh giá của sinh viên đối với
việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ. Để trả lời câu hỏi nghiên cứu này, dữ liệu thu thập từ
thông tin trả lời của sinh viên qua các bảng câu hỏi khảo sát, phiếu đánh giá thông tin và
phỏng vấn sẽ được phân tích và đối sánh để xác định và kết luận nội dung.
4.3.1. Đánh giá của sinh viên qua các bảng câu hỏi khảo sát
Bảng 4.7. Trị số trung bình thông tin đánh giá của sinh viên thực nghiệm đối với các bảng câu hỏi
thực hiện trước và sau nghiên cứu
Nhóm thực nghiệm
(n=30)
Trị số TB
Độ lệch chuẩn
3.90
.137
4.32
.142
Std. Deviation
.13728
Bảng 4.9: Trị số trung bình của bảng câu hỏi khảo sát trước nghiên cứu
15
Theo số liệu trình bày ở Bảng 4.9, kết quả thống kê mô tả cho thấy trị số trung bình
của bảng câu hỏi khảo sát trước nghiên cứu và độ lệch chuẩn là M = 3.90, SD = .137. Điều
này xác nhận rằng các sinh viên tham gia thực nghiệm thường trải qua những khó khăn thật
sự liên quan đến các yếu tố như đã nêu trong bảng câu hỏi. Kết quả phân tích dữ liệu thể
hiện trong Bảng 4.10 như sau:
One-Sample Test
Test Value = 3
MEANPRE
t
35.909
df
29
Sig. (2-tailed)
.000
95% Confidence Interval of
the Difference
Mean Difference
3, 4, 5, 6, và 7
Đánh giá của sinh viên về việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ: Câu 8, 9,
4.40
.239
10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, và 17
Lợi ích của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ: Câu 18, 19, 20, 21, 22,
4.39
.246
23, 24, 25, 26, 27, và 28
Những khó khăn của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ: Câu 29, 30, 31,
4.14
.230
32, 33, 34, 35, 36, và 37
Các hoạt động đa trí tuệ được sinh viên yêu thích và ủng hộ: Câu 47, 48,
4.18
.172
49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, và 62
Tần suất sử dụng đồ dung trực quan của giáo viên trên lớp: Câu 38, 39, 40,
4.47
.225
41, 42, 43, 44, 45, và 46
Kết quả phân tích dữ liệu từ Bảng 4.11 cho thấy sau khi học xong chương trình luyện
nói, các sinh viên nhóm thực nghiệm tỏ ra rất ủng hộ việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
để phát triển kỹ năng nói.
Descriptive Statistics
n
MEANPOST
Valid N (listwise)
df
29
Sig. (2-tailed)
.000
Mean Difference
.32634
95% Confidence Interval of the
Difference
Lower
Upper
.2731
.3796
Bảng 4.13: So sánh trị số trung bình của bảng câu hỏi sau thực nghiệm và Thang 4 (“Đồng ý”)
Kết quả thống kê từ Bảng 4.13 cho thấy trị số trung bình của bảng câu hỏi khảo sát
sau tác động (M = 4.32, SD = .142) là khác biệt thật sự so với Thang 4 (t = 12.5, df = 29, p
= .000). Do vậy, các kết quả này khẳng định kết luận rằng đa số sinh viên tham gia nghiên
cứu này đều ủng hộ mạnh mẽ việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ.
Nhận thức của sinh viên về việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Theo số liệu thống kê ở Bảng 4.11, trị số trung bình cao nhất ở bảng câu hỏi khảo sát
sau thực nghiệm thuộc Nhóm câu hỏi 1 (M = 4.51). Kết quả này khẳng định đây là nhân tố
chính tác động đến việc phát triển kỹ năng nói của sinh viên trong nghiên cứu này.
Sự ủng hộ của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Theo Bảng 4.11, Nhóm 2 có trị số trung bình thống kê ở mức cao thứ ba (M = 4.40).
Đối với các câu hỏi 8, 9, 10, 11, và 12 liên quan đến hứng thú học tập của sinh viên đối với
giác không gian, giao tiếp hướng ngoại và hướng nội để đáp ứng chương trình luyện nói.
4.3.4. Ảnh hưởng từ các hoạt động luyện nói ngoài chương trình thực nghiệm
Thông tin phản hồi của sinh viên từ Phần mở đầu của mẫu phiếu đánh giá cho thấy
đa số các đối tượng tham gia nghiên cứu này đều không trải nghiệm các hoạt động luyện nói
ngoài chương trình thực nghiệm để cải thiện kỹ năng nói.
4.4. Bàn luận các kết quả liên quan đến thông tin phản hồi của sinh viên
Nhận thức của sinh viên về việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Kết quả nghiên cứu thu được về xu hướng nhận thức ngày càng gia tăng của sinh
viên về ưu điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ nhìn chung trùng khớp với các nghiên cứu
thực hiện trước đây như xác nhận của tác giả Boonma & Phaiboonnugulkij (2014) về mối
quan hệ giữa bản chất các hoạt động luyện nói và phương pháp phát triển kỹ năng nói. Một
trong những lý do chính để sinh viên nhìn nhận tích cực việc tích hợp các hoạt động đa trrí
tuệ xuất phát từ thực tế rằng phương pháp đa trí tuệ ngày càng chứng tỏ tính ưu việt.
Lợi ích của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Kết quả đánh giá của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ phù hợp
với các kết quả nghiên cứu và kết luận về những ưu điểm của việc áp dụng Thuyết Đa trí tuệ
thực hiện bởi tác giả Christison (1996 & 1999) và Kentab (2016). Những đánh giá tích cực
của sinh viên đối với các ưu điểm của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ có thể được lý
giải từ thực tế nhìn nhận tính nhân văn cũng như các thuận lợi mà phương pháp này đã tạo
18
điều kiện cho các bạn nhận thức được các thế mạnh và điểm yếu của mình để phát huy và
khắc phục trong quá trình rèn luyện phát triển kỹ năng nói.
Sự hỗ trợ của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Một lý do có thể hiểu được đối với việc sinh viên ủng hộ mạnh mẽ việc tích hợp các
hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói có thể xuất phát từ việc nhìn nhận các lợi
ích, ưu điểm mà phương pháp tích hợp các hoạt động đa trí tuệ đã mang lại cho người học.
Một lý do khác nữa đối với sự yêu thích của các bạn sinh viên dành cho các hoạt động đa trí
tuệ có thể được lý giải thông qua những ưu điểm của các hoạt động chia sẻ và tiếp thu các
Năng lực diễn đạt nói có gia
Gia tăng nhẹ
Không áp dụng
tăng nhưng ít hơn so với
nhóm thực nghiệm
Gia tăng tích cực và Năng lực diễn đạt nói gia
Gia tăng một cách
theo chiều hướng có tăng nhiều hơn so với nhóm
đáng kể
lợi
đối chứng
Bảng 4.16. Tóm lược các kết quả nghiên cứu
19
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trong bối cảnh tiếng Anh được dạy và học như một ngoại ngữ với phương pháp rèn
luyện kỹ năng nói chỉ chú trọng đặc biệt đến 02 năng lực suy luận lô gíc và sử dụng ngôn
ngữ, quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói tiếng Anh đã
đem lại nhiều cải thiện đáng kể đối với năng lực diễn đạt nói cũng như thông tin phản hồi
tích cực từ phía sinh viên. Nghiên cứu này nhằm khảo nghiệm hiệu quả của việc tích hợp
các hoạt động đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói của sinh viên chuyên ngữ, đồng thời tìm
hiểu thông tin phản hồi của người học đối với quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ.
Để tìm ra giải pháp khả thi cho các câu hỏi nêu trên, nghiên cứu này vận dụng tổng hợp 02
phương pháp định lượng và định tính, với các công cụ nghiên cứu bao gồm 01 bảng khảo
sát đa trí tuệ, bài kiểm tra trước và sau tác động, bảng câu hỏi khảo sát trước và sau chương
trình thực nghiệm, mẫu phiếu đánh giá thông tin của người học và một số cuộc phỏng vấn
chuyên sâu với các đối tượng có chọn lọc.
năng lực diễn đạt nói so với các bạn học cùng chương trình ở nhóm đối chứng. Ngoài ra,
phép so sánh nội nhóm đối với năng lực diễn đạt nói, với thuật toán Descriptive Statistics
Test và Paired Sample T-Test cũng cho thấy rằng mặc dù các sinh viên ở nhóm đối chứng
cũng đã thực sự đạt được tiến bộ đáng kể ở bài kiểm tra sau tác động (MD = .17), nhưng kết
quả như vậy cũng mang tính không có ý nghĩa về mặt thống kê so với sự tiến bộ đạt được
bởi các sinh viên thuộc nhóm thực nghiệm (MD = .43), được xem là có ý nghĩa về mặt
thống kê. Thuật toán Pearson Correlation Test cũng cho thấy kết quả rằng có mối quan hệ
nội nhóm rất gần gũi giữa điểm kiểm tra trước và sau tác động của nhóm thực nghiệm. Theo
các kết quả thống kê từ quá trình phân tích dữ liệu, đa số các sinh viên thuộc nhóm thực
nghiệm có điểm cao trong bài kiểm tra nói trước tác động đều đạt được điểm cao hơn trong
bài kiểm tra nói sau tác động. Hệ số tương quan (Pearson Correlation) trong nghiên cứu này
đã chỉ ra rằng có mức độ chắc chắn rất cao để kết luận rằng việc tích hợp các hoạt động đa
trí tuệ vào chương trình luyện nói thực nghiệm đã thật sự có ý nghĩa đối với một nhóm đối
tượng nghiên cứu nhất định. Nói cách khác, sự so sánh điểm số kiểm tra trước và sau tác
động đã cho thấy rằng việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ thật sự đã đem lại đóng góp có
ý nghĩa trong lĩnh vực phát triển kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngữ.
Những kết quả nghiên cứu nêu trên liên quan đến ảnh hưởng tích hợp các hoạt động
đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói của sinh viên chuyên ngữ đều phản ánh nội dung tương
đồng với các nghiên cứu của các tác giả Boonma & Salem (2013a & 2013b),
Phaiboonnugulkij (2014), Hamidi và cộng sự, (2014), Fauziah (2015), Gündüz and Ünal
(2016), Kentab (2016), Madkour & Mohamed (2016). Theo các tác giả này, năng lực diễn
21
đạt nói của các đối tượng nghiên cứu đều đạt được những tiến bộ đáng kể nhờ ứng dụng
Thuyết Đa trí tuệ nói chung và các hoạt động đa trí tuệ nói riêng.
Để hạn chế ảnh hưởng của một số yếu tố bên ngoài tác động và có khả năng gây ảnh
hưởng đến thành quả cải thiện điểm kiểm tra nói của các sinh viên theo quan điểm tích hợp
các hoạt động đa trí tuệ, nghiên cứu này cũng đã tiến hành một chuyên mục khảo sát khả
Boonma & Phaiboonnugulkij (2014), Samira (2014), Rahanama (2015), Younas and
Subhani (2015), Kentab (2016), Nakhalah (2016), và Armstrong (2017).
5.2. Hàm ý sư phạm
Các kết quả khái lược từ nghiên cứu này hàm ý rằng việc tích hợp các hoạt động đa
trí tuệ vào chương trình luyện nói tiếng Anh có thể được xem là một trong những phương
pháp hiệu quả nhằm cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ ở bậc đại học
trong bối cảnh dạy và học tiếng Anh như một ngoại ngữ ở Việt Nam hiện nay. Do vậy, xuất
phát từ các kết quả đáng khích lệ của nghiên cứu này liên quan đến ảnh hưởng tích cực của
việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên
ngữ, các giáo viên ngoại ngữ nên chú trọng đến kỹ năng tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
vào các chương trình dạy học ngoại ngữ để phát triển kỹ năng giao tiếp cho người học.
5.3. Một số điểm hạn chế
Nghiên cứu này, cũng như bất kỳ nghiên cứu nào khác, đều tồn tại một số điểm hạn
chế. Trước hết, số lượng sinh viên tham gia thực nghiệm trong nghiên cứu này chỉ có 60
sinh viên chuyên ngữ. Con số này tương đối nhỏ để khái quát hóa phạm vi nghiên cứu thành
các đối tượng sinh viên chuyên ngữ ở Việt Nam. Thứ đến, nghiên cứu này chỉ giới hạn tích
hợp các hoạt động đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói, chứ không phải là năng lực giao tiếp
toàn diện gồm cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc và viết. Và cuối cùng, các kết quả nghiên cứu
này chỉ thu hẹp trong bối cảnh văn hóa và xã hội của các sinh viên chuyên ngữ ở địa điểm
nghiên cứu thuộc khu vực nam Trung bộ của Việt Nam. Mặc dù vẫn còn một số tồn tại và
hạn chế như đã nêu trên, nghiên cứu này vẫn có thể được xem là đã đem lại một số đóng
góp nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan và vẫn truyền tải được một số điểm cần
lưu ý cho các giảng viên và sinh viên, cũng như các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục,
những người có nhu cầu chia sẻ cùng mối quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu này.
5.4. Giới thiệu các nghiên cứu chuyên sâu
Từ những kết quả đạt được của nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số hướng nghiên
cứu chuyên sâu sau đây: Các hoạt động đa trí tuệ nên được tích hợp vào các chương trình
luyện nói dành cho sinh viên chuyên ngữ để hỗ trợ phát triển hiệu quả năng lực sử dụng
ngôn ngữ chính xác và lưu loát cũng như tăng cường hứng thú học tập trên lớp. Do vậy, tác
giả đề xuất nên có thêm các nghiên cứu về lĩnh vực này để mở rộng phạm vi kết quả nghiên