SỞ Y TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG HẠ ÁP
CỦA PHƯƠNG PHÁP NHĨ CHÂM
TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐỘ I - II
Mã số đề tài
:
Chủ đề tài
:
TPHCM - 2018
1
CHỮ VIẾT TẮT
ĐM
ESC (European Society of
: Động mạch
: Hội tim mạch châu âu
Cardiology)
ESH (European Society of
: Hội bệnh cao huyết áp Châu Âu
: Huyết áp tâm trương
: Huyết áp tâm thu
: Cholesterol có lipoprotein tỷ trọng cao
- Cholesterol)
HDL (High Density Lipoprotein)
: Lipoprotein tỷ trọng cao
JNC (Joint National Committee)
: Ủy ban quốc gia chung
LDL - C (Low Density Lipoprotein - : Cholesterol có lipoprotein tỷ trọng thấp
Cholesterol)
LDL (Low Density Lipoprotein)
THA
WHO (World Health Organization)
YHCT
YHHĐ
: Lipoprotein tỷ trọng thấp
: Tăng huyết áp
: Tổ chức y tế thế giới
: Y học cổ truyền
: Y học hiện đại
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................................... 1
2
Chương 1: TỔNG QUAN........................................................................................3
nay và phổ biến ở nhiều nước đang phát triển cũng như ở các nước phát triển
[22]. Ở Việt Nam, tăng huyết áp là một trong 10 bệnh thường gặp nhất nói chung và
ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng [18], hiện nay cũng có xu hướng gia tăng rõ rệt
từ 1,9% vào năm 1976 lên 27,2% năm 2010.
Tăng huyết áp là một bệnh tim mạch, mạn tính, phổ biến và nguy hiểm.
Những biến chứng của tăng huyết áp trên bệnh nhân là rất nặng nề và có thể dẩn
đến tử vong. Vì vậy, bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát cần được hướng dẩn sử
dụng thuốc hợp lý. Y học hiện đại ngày càng phát triển và đã tìm ra rất nhiều loại
thuốc có thể hạ huyết áp tốt và nhanh. Tuy vậy, trong những năm gần đây xu hướng
sử dụng phương pháp YHCT ngày càng trở nên phổ biến. Việc nghiên cứu bài bản,
khoa học các phương pháp Y học cổ truyền trong điều trị bệnh tăng huyết áp được
các cơ sở nghiên cứu tiến hành rất quy mô và cũng đã đạt được nhiều thành tựu, góp
phần làm phong phú thêm phương pháp điều trị bệnh tăng huyết áp, phòng ngừa biến
chứng, giảm các triệu chứng khó chịu của bệnh nhân [18].
Theo y học cổ truyền, các triệu chứng mô tả trong bệnh THA thuộc phạm trù
“huyễn vựng”, “đầu thống”, “tâm quý”, “thất miên”, “kiện vong”... Đã có rất nhiều
các nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp điều trị của YHCT (bao gồm biện
pháp không dùng thuốc và dùng thuốc) đối với bệnh tăng huyết áp đã đạt được
những hiệu quả nhất định và ít tác dụng phụ không mong muốn
4
5
Trong Nội kinh tố vấn có đề cập: tai không phải bộ phận cô lập mà có liên
quan mật thiết với toàn bộ cơ thể con người, với lục phủ ngũ tạng. Từ đó, Nhĩ châm
đã được lưu truyền và sử dụng để điều trị bệnh. Tại Việt Nam và thế giới, Nhĩ châm
cũng đã được sử dụng lâu đời trong phòng ngừa và điều trị bệnh lý. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu hiệu quả của nhĩ châm trong điều trị các bệnh lý.
Nhĩ châm tức là dùng kim châm, châm vào những điểm mẫn cảm trên loa tai,
125/85 mmHg (đo HA liên tục trong 24 giờ - Holter HA) [25].
1.1.1.2. Một số định nghĩa khác.
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: Khi trị số của HATT >140mmHg và HATTr
< 90mmHg, bệnh nhân được gọi là THA tâm thu đơn độc. Độ chênh HA (tâm thu tâm trương) và HATT dự báo nguy cơ và quyết định điều trị [8].
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc ở người trẻ tuổi: Trẻ em và người trẻ, thường
là nam giới, sự phối hợp của sự gia tăng nhanh chóng về chiều cao và sự rất đàn hồi
của mạch máu làm tăng sự khuếch đại bình thường của sóng áp lực giữa ĐM chủ và
ĐM cánh tay tạo nên HATT rất cao nhưng HATTr và HA trung bình bình thường.
Huyết áp ĐM chủ tuy vậy cũng bình thường. Điều này có thể dựa vào sự phân tích
sóng mạch [8].
Tăng huyết áp tâm trương đơn độc: Thường xảy ra ở người trung niên,
THATTr thường được định nghĩa khi HATT < 140 và HATTr > 90 mmHg. Mặc dù
HATTr thường được cho là yếu tố tiên lượng tốt nhất về nguy cơ ở bệnh nhân tuổi
6
7
- Phân loại Tăng huyết áp theoVSH/VNHA năm 2014.
Bảng 1.1. Phân loại tăng huyết áp theo VSH/VNHA
Tối ưu
Bình thường
Bình thường cao
THA độ 1 (nhẹ)
THA độ 2 (trung bình)
THA độ 3 (nặng)
THA tâm thu đơn độc
Đo tại Phòng Khám (mmHg)*
HA Tâm Thu
100 – 109
8
9
Tăng huyết áp độ 3 (nặng)
≥ 180
≥110
Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới và Hội Tăng huyết áp Thế giới [22].
-
Phân loại THA theo JNC VII: Áp dụng cho người trưởng thành (>18 tuổi) bị
THA, không dùng thuốc và không có bệnh cấp tính.
Bảng 1.3. Phân loại THA theo JNC VII
Phân loại
Bình thường
Tiền tăng huyết áp
Tăng huyết áp độ 1
Tăng huyết áp độ 2
Nguồn: JNC VII [19]
HA tâm thu (mmHg)
< 120
THA gây ra các thay đổi sau:
Giai đoạn III
Đột quỵ não, xuất huyết đáy mắt hoặc phù gai thị, nhồi máu cơ tim,
suy tim, suy thận, phình tách động mạch, tắc động mạch.
Nguồn: WHO [21]
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của THA
1.1.3.1. Vai trò của hệ thần kinh giao cảm
Sự gia tăng hoạt tính thần kinh giao cảm đã tác động lên sự phóng thích
renin, độ lọc cầu thận, sự tái hấp thu natri ở thận và nhịp tim, hậu quả sau cùng là
9
10
tăng trị số huyết áp [4], Stress cũng có thể gây THA thông qua việc kích thích hệ
thống thần kinh sản xuất lượng lớn hóc môn làm co mạch [23].
1.1.3.2. Vai trò của hệ Renin - Angiotensin – Aldosteron
THA vô căn với hàm lượng renin thấp: có khoảng 20 % bệnh nhân hay gặp ở
người da đen hơn người da trắng [24]. Mặc dù những bệnh nhân này không bị hạ
K+ máu nhưng thể tích dịch ngoài tế bào vẫn thấy tăng được giải thích bằng sự giữ
Na+ và giảm renin là do tăng tiết một loại corticoid khoáng chưa nhận dạng ra. Một
vài nghiên cứu cũng gợi ý rằng cơ chế cơ bản là vỏ thượng thận của bệnh nhân
trong số này tăng nhạy cảm với angiotensin II. Giả thiết này không chỉ có thể giải
thích sự giảm renin huyết thanh ở các bệnh nhân này mà còn gợi ý được nguyên
nhân THA của họ. Một chế độ ăn bình thường hoặc nhiều Na+ sẽ không ức chế sự
bài tiết aldosteron như thường lệ, dẫn đến cường độ aldosteron nhẹ làm tăng giữ
Na+, tăng thể tích dịch lưu thông và THA. Sự thay đổi tính nhạy cảm còn được thấy
theo kiểu đồng tâm, đặt trưng là tăng bề dày thành thất trái. Sau đó buồng tim giãn
ra và giảm chức năng, khi đó các triệu chứng và dấu hiệu suy tim xuất hiện. Đau
thắt ngực cũng có thể xãy ra do xơ vữa động mạch vành kết hợp với tăng nhu cầu
cơ tim do tăng khối lượng cơ tim. Về sau có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim
hay nhồi máu cơ tim. Tử vong do THA chủ yếu là vì nhồi máu cơ tim và suy tim
xung huyết.
- Biến chứng ở não
Rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương cũng thường xảy ra ở bệnh nhân
THA. Bệnh sinh của tắc nghẽn mạch máu não và xuất huyết não hoàn toàn khác
nhau. Nhồi máu não là thứ phát do xơ vữa động mạch não nặng gặp trong THA,
trong khi xuất huyết não là hậu quả của tăng áp lực mạch máu não và phình động
mạch não nhỏ (phình mạch Charcot – Bouchard) [24]. Yếu tố tuổi tác và áp lực là
yếu tố thúc đẩy hình thành các phình mạch này. Vì thế, sự liên quan giữa THA và
xuất huyết não là chặt chẽ hơn so với nhồi máu não và nhồi máu cơ tim.
- Biến chứng ở mắt
Độ nặng của THA tăng lên thì tiểu động mạch ở mắt có dấu hiệu co thắt tại
chỗ và dần bị hẹp lại, xuất hiện chảy máu, xuất tiết và phù gai thị. Những tổn
thương ở võng mạc này thường gây điểm tối, nhìn mờ và thậm chí mù, nhất là nếu
có phù gai thị và chảy máu ở vùng điểm vàng.
- Biến chứng ở thận
Các tổn thương xơ cứng của các động mạch đến, động mạch đi và bó mao
mạch cầu thận là những tổn thương mạch máu thận hay gặp nhất trong bệnh THA,
11
12
làm mức lọc cầu thận giảm và rối loạn chức năng ống thận. Protein niệu và đái máu
vi thể xảy ra vì có tổn thương cầu thận, và có khoảng 10% tử vong do THA là do
suy thận [24].
+ Tác dụng tương tác thuốc.
+ Giá thành thuốc.
+ Ưu thế thuốc có tác dụng 24 giờ với liều duy nhất trong ngày.
+ Các tác dụng phụ của thuốc.
Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam và ESC/ESH vẫn duy trì chọn
lựa chẹn beta cùng các nhóm thuốc khác [8]. Việc chỉ định chẹn beta chỉ hạn chế
khi bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường có nguy cơ cao. Sự phối
hợp thuốc được khuyến khích và chú ý vì những công trình nghiên cứu cho thấy hầu
hết bệnh nhân cần ít nhất hai loại phối hợp nhất là khi HA ở mức 2 và 3 hoặc có
nguy cơ cao hoặc rất cao.
+ Lợi tiểu thiazide + ức chế men chuyển.
+ Lợi tiểu thiazide + ức chế thụ thể.
+ Lợi tiểu thiazide + chẹn beta.
+ Ức chế canxi + ức chế men chuyển.
+ Ức chế canxi + ức chế thụ thể.
+ Ức chế canxi + lợi tiểu.
+ Ức chế canxi + chẹn beta.
1.1.6.3. Một số quan điểm mới trong điều trị tăng huyết áp- JNC 8
JNC 8 (Joint Nationnal Committee) là báo cáo lần thứ 8 của Ủy ban liên hiệp
quốc gia Hoa Kỳ về THA. JNC 8 cho rằng, (1) những JNC trước chỉ là tài liệu tham
khảo và hướng dẫn, giúp bác sĩ quyết định tốt hơn trong điều trị. (2) nên dùng kết
hợp nhiều thuốc cho điều trị? (3) Huyết áp mục tiêu của người cao tuổi là
- Nhân tố ăn uống: Thói quen hay ăn nhiều chất béo, ngọt hoặc uống quá
nhiều bia, rượu làm tổn thương tỳ vị, tỳ mất kiện vận làm thấp trọc nội sinh, hóa
đàm, hóa hỏa, đàm trọc nhiễu loạn phía trên trệ tắc kinh mạch gây bệnh.
14
15
- Nhân tố lao dục: Lao động quá sức, dục vọng quá nhiều làm hao thương khí
âm hoặc tuổi cao, thận hao hư, âm tinh bất túc làm thủy không hàm mộc gây âm hư
dương cang, nội phong nhiễu loạn gây nên bệnh.
1.2.3. Cơ chế bệnh sinh các thể bệnh tăng huyết áp trong chứng huyễn vựng
Huyễn vựng là triệu chứng chủ yếu của bệnh THA. Cơ chế chủ yếu là Can
Thận âm hư. Can chủ sơ tiết, căng thẳng nhiều làm khí uất, khí uất hóa hỏa, can âm
hao hư, can dương thượng cang, thượng nhiễu thanh dương gây huyễn vựng. Thận
tàng tinh, thận âm bất túc không dưỡng can làm can âm bất túc, can dương thượng
cang cũng phát sinh huyễn vựng. Tỳ chủ vận hóa, ăn nhiều chất béo ngọt, uống
rượu quá độ, lao động quá sức, tổn thương tỳ vị. Tỳ mất kiện vận, tụ thấp sinh đàm,
đàm trọc trung trở, thanh dương bất thăng, trọc âm bất giáng đều phát sinh huyễn
vựng [13].
1.2.4. Biện chứng luận trị
1.2.4.1 Biện chứng quá trình tiến triển của bệnh
Do nhân tố thể chất hoặc do tác động lẫn nhau của các nguyên nhân trên làm
rối loạn cân bằng âm dương, trong đó chủ yếu tác động đến hai kinh Can và Thận.
Nói chung, thường thấy chứng Thận âm bất túc, Can dương thượng cang, hình
thành bệnh lý thượng thịnh hạ hư với các biểu hiện: đau đầu, chóng mặt, ù tai, mất
ngủ. Thận âm hao hư làm cho tâm thận bất giao, Tâm mất đi sự nuôi dưỡng nên
xuất hiện chứng hồi hộp trống ngực và hay quên. Bệnh lâu ngày, âm tổn cập dương
làm thận dương bất túc, xuất hiện chứng dương hư như sợ lạnh, chân tay lạnh, liệt
dương, đái đêm nhiều lần.
bẩn nhớp, mạch hoạt.
+ Pháp điều trị: hóa đàm trừ thấp [13], [26].
1.2.4.3 Nguyên tắc điều trị
Nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị chứng bệnh này là điều chỉnh cân
bằng chức năng của Can Thận và âm dương, hạ huyết áp hợp lý, chú trọng đến cải
thiện triệu chứng.
- Đối với thể Can dương thượng cang, dùng pháp tiềm giáng bình Can,
không nên dùng các vị thuốc có tính vị khổ hàn làm tổn thương Can.
- Đối với thể Can Thận âm hư nên dùng pháp tư âm bổ Can Thận nhưng
không nên quá lạm dụng các vị thuốc nê trệ làm tổn thương Tỳ.
- Đối với thể âm dương lưỡng hư nên dùng pháp dục âm hỗ trợ dương, âm
dương cùng điều trị.
16
17
- Trường hợp kiêm huyết ứ, đàm trọc nên gia các vị thuốc hoạt huyết thông
lạc, hóa đàm trừ thấp.
Trong quá trình sử dụng thuốc nên lưu ý: dùng thuốc tiềm giáng không được
làm tổn thương khí, thuốc tư bổ không để tổn thương Can Tỳ để đạt mục đích cân
bằng âm dương.
1.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CỦA YHCT ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
1.3.1. Phương pháp điều trị Tăng huyết áp bằng châm cứu
Đổng Nhan Bằng, Vương Hiếu Bình nghiên cứu Ấn day huyệt tai điều trị cao
huyết áp và kinh nghiệm chăm sóc. Phương pháp: 60 ca cao huyết áp chia làm 2 tổ.
Tổ điều trị dùng thuốc Benazepril 10mg, 1 viên/ngày, uống sáng, phối hợp ấn day
huyệt tai, liên tục 8 tuần. Các huyệt tai chủ yếu Thần Môn, Rãnh Hạ Áp, Nội Tiết,
Tam Tiêu, Giao Cảm. Căn cứ vào nguyên tắc biện chứng luận trị gia thêm các
huyệt. Tổ đối chiếu: dùng thuốc Benazepril 10mg, mỗi ngày 1 viên uống sáng.
Theo nghiên cứu của Giáo sư Đỗ Tất Lợi [5] thì tại Việt Nam có một số cây
thuốc và vị thuốc có tác dụng hạ huyết áp mà điển hình trong nhóm thuốc này có
một số vị thuốc như: Hoa hòe, Ba kích, Câu đằng, Cây nhàu …
- Lục vị địa hoàng hoàn
Theo Lê Mỹ Lương nghiên cứu bài Lục vị địa hoàng hoàn cho thấy: 45 ca
can thận âm hư trong đó có 15 ca tăng huyết áp, 17 ca đái tháo đường, viêm thận
mạn 13. Dùng thuốc trong 7- 14 ngày thấy cải thiện lâm sàng, huyết áp từ
(158±14)mmHg/(113±7)mmHg xuống (125±18)mmHg/(81±9)mmHg.
- Năm 2009, tại Khoa Y học cổ truyền Bệnh Viện 103, Nguyễn Viết Thắng
cũng đã tiến hành nghiên cứu bài thuốc Giáng áp - 08 [12] gồm các thành phần như:
câu đằng, hạ khô thảo, thạch quyết minh, đan sâm, ngưu tất, đan bì, trạch tả, đương
quy, bạch thược, đại hoàng, chỉ xác, qua lâu nhân, hoàng kỳ, đỗ trọng. Hiệu quả
điều trị của bài thuốc Giáng áp - 08 này đạt 95,35% trên các bệnh nhân tăng huyết
áp độ 1 và 2, giai đoạn 1 và 2, nhìn chung không thấy được tác dụng phụ của bài
thuốc này trên lâm sàng.
Ngoài ra còn có khá nhiều đề tài nghiên cứu tác dụng hạ áp dựa vào các bài
thuốc cổ phương của Y học cổ truyền có tính thực tiễn khác phải kể đến như bài
“Thiên ma câu đằng ẩm” của tác giả Hoàng Văn Thành [15] thực hiện năm 2011 để
điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 và độ 2, hay tác dụng điều trị bệnh tăng
18
19
huyết áp của cây “chè HHA” được tác giả Đỗ Linh Quyên nghiên cứu thành công
[10]. Tất cả các đề tài trên cho thấy tác dụng hạ áp của các bài thuốc cổ phương là
có cơ sở thực tiển cao và phù hợp với người Việt Nam.
1.4. TỔNG QUAN VỀ NHĨ CHÂM
1.4.1. Lịch sử phát triển nhĩ châm
Nhĩ châm có một lịch sử phát triển lâu đời. Vào những năm 430 TCN,
dương ở chân từ sau tai đi vào trong tai, rồi ra trước tai”, “Kinh thái dương ở tay có
nhánh đến đuôi mắt, rồi vào trong tai...”, “Kinh thái dương ở chân có nhánh đi từ
đỉnh đầu tới tai”, “Kinh dương minh ở chân đi qua giáp xa để đến trước tai”, “Kinh
20
21
nhánh của quyết âm Tâm bào ở tay đi ra sau tai hợp với thiếu dương Tam tiêu ở
Hoàn cốt”, “Kinh cân thiếu dương ở chân vòng ra sau tai ở góc trán...”, “Nhánh của
kinh cân dương minh ở chân kết ở trước tai”. Như vậy tất cả các kinh âm và kinh
dương chính đều thông với nhau qua kinh nhánh của chúng và hầu hết các kinh âm
và dương chính đều có liên quan đến tai [15].
b. Mối liên quan giữa tai và các tạng phủ
Những đoạn kinh văn sau đây trong Linh Khu và Tố Vấn và các tài liệu kinh
điển cho thấy rõ mối quan hệ giữa tai với các tạng phủ trong cơ thể: “Thận khí
thông ra tai. Thận hóa thì tai nghe được...”, “Tâm khai khiếu ra tai ”, “Tỳ không đầy
đủ thì 9 khiếu không thông”, “Tủy hải không đủ thì tai ù”, “Bệnh ở can hư thì tai
không nghe được, khí nghịch thì đau đầu, điếc tai”, “Phế khí hư thì khí ít tai điếc”,
“Phế chủ âm thanh, làm tai nghe được âm thanh”. Những ghi chép nêu trên cho
thấy tai có quan hệ với tất cả các tạng phủ và 12 kinh mạch. Đây cũng chính là cơ
sở lý luận về YHCT của phương pháp châm này [14].
1.4.2.2. Theo YHHĐ
a. Phân bố thần kinh ở loa tai [1], [15]
Loa tai là ngã rẽ của nhiều đường thần kinh làm cho nó gắn liền mật thiết với
toàn thân. Nhờ sự phân bố thần kinh cảm giác của nó, loa tai được liên hệ với:
- Các đường tủy: nhờ vào đám rối cổ nông là nơi đã phát ra dây thần kinh
tai to.
- Não bộ: chủ yếu dựa vào dây thần kinh sinh ba, thứ đến nhờ dây trung gian
Wrisberg và dây lưỡi hầu.
không châm xuyên qua lớp da dưới sụn. Tùy theo bệnh có thể lưu kim 30-60 phút,
một số trường hợp viêm cấp có thể lưu kim 1, 2 giờ đồng hồ. Trong quá trình lưu
kim sau 5 đến 10 phút thì vê kim 1 lần.
Khi châm, người bệnh sẽ có cảm giác nóng, tê vùng loa toa, vị trí châm biểu
hiện nóng, đỏ hoặc có thể sưng nhẹ.
Châm loa tai nên chọn ít huyệt, có thể chọn 1 bên và châm luân phiên. Theo
nhiều nghiên cứu, châm cả 2 tai cùng lúc thì hiệu quả cũng không tăng lên.
Nhĩ châm cũng có thể kết hợp với điện châm. Tùy tình trạng bệnh cấp hay
mạn, nặng hay nhẹ mà thời gian kích thích điện có thể kéo dài từ 15 đến 30 phút.
Cảm giác đắc khí là người bệnh thấy nóng tai nhưng chịu được. Thường được áp
dụng để cắt giảm triệu chứng đau, nhất là đau do thần kinh ngoại biên.
Ngoài ra ở loa tai, còn có thể áp dụng phương pháp gài kim, ôn châm, thủy
châm và chích huyết.
22
23
Trong quá trình châm, vị trí châm có thể tức nặng, sung huyết thì hiệu quả
điều trị thường tốt hơn và ngược lại nếu người bệnh không có phản ứng trên thì hiệu
quả thường sẽ thấp.
1.4.4. Những nghiên cứu về Nhĩ châm và phạm vi áp dụng
1.4.4.1. Thế giới
Từ năm 1962, khi trường phái nhĩ châm Nogier ra đời đã tập hợp được nhiều
nhà nghiên cứu có tên tuổi như Jarricot, Pellin... Với nhiều công trình nghiên cứu
trên thực nghiệm và trên người đã chứng minh được sự ánh xạ của thân thể và phủ
tạng trên loa tai. Những nghiên cứu cơ bản này đã làm cho nhĩ châm phát triển rất
mạnh trong 30 năm sau đó. Tại các Hội nghị Châm cứu quốc tế trong những năm
70, người ta đã dành một nửa thời gian của Hội nghị cho nhĩ châm và châm tê.
Tại Liên Xô cũ, tiếp theo Vogralick, cũng có nhiều nhà nghiên cứu Liên Xô
dừng nghiên cứu đề tài này.
Năm 1969, Nhà xuất bản Y học và Thể dục thể thao xuất bản cuốn Nhĩ châm,
Thủy châm, Mai hoa châm. Tuy nhiên tài liệu về nhĩ châm vẫn chỉ dừng lại ở mức
độ phổ biến một số kiến thức chung nhất. Trong những năm 1981 - 1984, Bộ môn
YHDT Trường Đại học Y khoa Hà Nội có thông báo về kết quả nghiên cứu ứng
dụng châm loa tai (trên 1000 ca theo dõi) như sau:
+ Châm loa tai có hiệu lực điều trị rõ rệt nhiều loại chứng bệnh, chủ yếu là
bệnh về đau như: đau dạ dày, đại tràng, đau đầu, bệnh về khớp, HC đau thần kinh
hông, thần kinh liên sườn, rối loạn thần kinh thực vật.
+ Số ngày điều trị không kéo dài, rất ít tai biến.
1.4.5. Giới thiệu 2 huyệt Hạ áp và Thần môn
Thần môn: có vị trí tại 1/3 trên của đỉnh hố tam giác. Theo GS Trần Thúy,
huyệt Thần môn có tác dụng điều tiết sự hưng phấn, ức chế của vỏ đại não, có tác
dụng an thần, giảm đau, điều chỉnh rối loạn thần kinh thực vật, chống dị ứng. Dùng
điều trị các bệnh thuộc hệ thần kinh như hội chứng suy nhược thần kinh, tâm thần
phân liệt, cũng có thể điều trị tăng huyết áp, hen suyễn, dị ứng [11].
Rãnh hạ áp (Rãnh nhĩ bối): Nằm sau tai gồm rãnh đối vành tai và rãnh
chân trên đối vành tai, chân dưới đối vành tai.
Điểm hạ áp: là giao điểm của 3 rãnh đối vành tai và rãnh chân trên đối vành
tai, chân dưới đối vành tai. Điều trị cao huyết áp, ngứa da.
24
25
Hình 1.2: Vị trí Điểm hạ áp và huyệt Thần môn ở loa tai
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU