Các tác giả văn 6 - Pdf 56

Tô Hoài
T
Tô Hoài, tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ngày 7 tháng 9 năm 1920 ở quê ngoại tại làng Nghĩa Đô, huyện
Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) trong một
gia đình thợ thủ công.
Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu
buôn,... và nhiều khi thất nghiệp.
Đến với văn chương rất sớm, ông nhanh chóng gây được sự chú ý, nhất là với truyện Dế Mèn phiêu lưu
ký dành cho trẻ em, sau này đã dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn
hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn
có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ về sau được đưa vào
sách giáo khoa và dựng thành phim.
Hòa bình năm 1954 ông trở về Hà Nội và có điều kiện tập trung vào sáng tác, mặc dù vẫn đảm nhiệm
nhiều chức vụ lãnh đạo giới văn nghệ. Tính đến nay, sau 64 năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100
tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và
kinh nghiệm sáng tác.
Các bút danh: Tô Hoài, Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Duy Phương, Hồng Hoa.
Quá trình hoạt động:
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam có bằng Cao đẳng tiểu học, Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam
1957.
Tô Hoài tham gia cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám ( 1945) trong Hội ái hữu công nhân, Hội Văn
hoá Cứu quốc.
Từ 1945 - 1958: làm phóng viên rồi Chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc.
Từ 1957 - 1958 : Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ 1958 - 1980 : Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ 1986 - 1996 : Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội.
Các tác phẩm chính:
1. Dế Mèn phiêu lưu kí (1941)
2. O chuột (1942)
3. Nhà nghèo (1944)
4. Truyện Tây Bắc (1953)

cuốn gì đấy! Với lại số đầu sách xuất bản lại không ứng vào số tác phẩm mình viết, có nhiều cuốn tái bản riêng, lại
có những cuốn tái bản in gồm cả mấy tác phẩm làm một đầu sách.
Tiện tay, cụ rút mấy cuốn đang đặt trên bàn làm ví dụ.
Ba pho sách kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội
Thì ra, từ nay đến kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội 2010, cụ có đến 3 pho sách dày dặn gồm toàn những
cuốn tái bản mà in gộp theo thể loại:
Cuốn thứ nhất, NXB Kim Đồng đang in ghép 3 tiểu thuyết lịch sử: Nhà Chử, Đảo Hoang và Chuyện nỏ thần,
khoảng hơn 700 trang, gợi người đọc nhớ đến vùng đất cổ Phong Châu, Cổ Loa với những truyền thuyết vừa mang
tính huyền thoại vừa đậm màu sắc dân gian.
Cuốn thứ hai NXB Đà Nẵng đang in: Miếu Đồng Cổ gồm 62 truyện ngắn viết từ 40 năm trở lại đây, khoảng 700
trang, hầu hết là phản ảnh, ghi nhận cuộc sống ngoại thành Hà Nội mà nay đã thuộc địa phận Hà Nội mới.
Cuốn thứ ba in ghép 3 tiểu thuyết: Quê nhà, Quê người và Mười năm, 860 trang, có thể nói đó là bộ ba tiểu thuyết
cụ viết về cái làng thợ dệt ngoại ô Hà Nội: làng Nghĩa Đô, nơi cụ được sinh ra và lớn lên. Quê nội thì ở làng Cát
Động - Thanh Oai - Hà Đông, 20 tuổi cụ mới về quê nội. Đọc chúng, ta sẽ hình dung được những năm sôi nổi của
phong trào dân chủ và tiền khởi nghĩa cùng với những tư tưởng mới mẻ tràn đến với nhà văn trẻ đang hăng hái hoạt
động Văn hóa cứu quốc (1943), viết báo bí mật, tuyên truyền cách mạng và đau xót chứng kiến nạn đói khủng khiếp
năm Ất Dậu, càng thảm khốc với làng Nghĩa Đô của cụ chỉ cách Thụy Khuê bên kia con đường Bưởi mà Thụy Khuê
được phát bông gạo, Nghĩa Đô là ngoại tỉnh (lúc đó thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông) thì gần như cả làng chết đói.
Nhắc đến cụm tác phẩm này và thời kỳ đó, cụ bảo:
- Ấy! Ở làng Vạn Phúc - thị xã Hà Đông, có cái bia đá ghi công các nhà hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa, có cả
tên tôi. Nhưng như vậy không có nghĩa là họ tin tưởng tuyệt đối ở anh nhà văn hay rắc rối này (cụ cười hóm hỉnh).
- Có lần mấy đồng chí Tỉnh ủy Hà Đông về Hội Văn nghệ 51 Trần Hưng Đạo để phản ứng với Hội về nhân vật Hai
Tâm trong tiểu thuyết Mười năm, một nữ cán bộ cách mạng xinh đẹp mà lại lẳng lơ. Dân làng gặp tôi cũng phê bình:
"Làng chúng tôi không có kiểu cán bộ cách mạng lẳng lơ như vậy!".
Tô Hoài thủng thẳng với nụ cười hóm hỉnh thường trực, đôi mắt nheo lại càng tinh quái hơn:
- Ấy! Tự truyện và hồi ký đều ở 3 cuốn đó! Tác giả cũng phải được ký thác một chút vào nhân vật chứ! Cách mạng
thì vẫn cách mạng! Lẳng lơ thì vẫn lẳng lơ!... Cát bụi chân ai bị cấm, lại được ra, lại Chiều chiều... Tôi hơi ngạc
nhiên, khi Tô Hoài cho biết: nhân vật Hai Tâm là ký thác con người tác giả Tô Hoài.
Tôi nhớ đến nhận định về nhà văn Tô Hoài của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: ... nhất là sau 1986, (Tô Hoài) mới thực
sự là Tô Hoài với Chiều chiều, Cát bụi chân ai, Ba người khác, Giấc mơ ông thợ dìu...

Tôi nhớ có lần kể với cụ cuộc hội thảo văn ở Hải Phòng, có nhiều tác giả nói phương pháp hiện thực xã hội chủ
nghĩa không đủ để các nhà văn sáng tạo và dẫn chứng tác phẩm này, tác giả hoàn toàn
“bịa” ra truyện. Nhà văn Tô Hoài cười: Ông Xécvăngtét có được Đôn Kihôtê cũng nhờ làm nghề thu thuế đi khắp đất
nước, ông Cao Hành Kiện có Linh Sơn cũng nhờ chuyến về thăm vùng phía Bắc Trung Hoa. Có ngồi một chỗ mà bịa
được đâu! Hiện thực bao giờ chẳng là cái gốc của đời sống.
Rõ ràng là cả đời văn của Tô Hoài đều bám rất sát những chuyện đời thường. Qua việc thường, người thường,
chuyện vặt vãnh đời thường mà tìm ra cái lạ, cái mới của đời sống, của văn học. Tự ông cũng luôn tạo điều kiện để
mình được dấn sâu thêm vào đời sống, làm cán bộ đường phố, làm cán bộ cải cách ruộng đất, hết tổng kết cải cách
ở Thái Bình, Thanh Hóa lại về làm đội phó phụ trách tòa án ở Hải Dương...
Nay, cụ chọn căn buồng làm việc yên tĩnh, khi đóng cửa thì kín bưng như cái lô cốt, nhưng chỉ cần đẩy nhẹ cánh
cửa sổ phía sau: bên ngoài đã là một con phố nhỏ, bên kia đường có cái quán nước, có mấy công nhân xây dựng
lấm láp vôi vữa đang tranh luận sôi nổi... Đúng là cụ vẫn đặt bàn viết giữa cuộc đời như Vương Trí Nhàn đã viết...
Vân Long
Đoàn Giỏi
“Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng
của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng bao người... "
TIỂU SỬ
Đoàn Giỏi sinh ngày 17.5.1925 tại Tân Hiệp - Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Ông xuất thân từ một gia đình
địa chủ lớn, có hàng trăm mẫu ruộng màu mỡ ven sông Tiền. Nhà ông xưa toà ngang dãy dọc, nơi mà bây
giờ trở thành trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành. Tất cả nhà và đất gia đình ông đã tự nguyện
hiến cho kháng chiến ngay từ đầu. Sau ngày thống nhất đất nước, nhà văn Đoàn Giỏi ra vào Nam – Bắc
như cánh chim trời. Ở Hà Nội thì ông ở trụ sở Hội Nhà văn, vào Mỹ Tho thì ở cơ quan Hội Văn Nghệ, còn
ở Sài Gòn ông tá túc tại nhà một người bạn trên đường Võ Văn Tần. Cho đến khi qua đời ở tuổi 65 (1989),
ông vẫn chưa có một mái nhà riêng. Đoàn Giỏi là con đẻ và là kết tinh của nền văn hoá phương Nam, ông
đã hiến trọn của cải vật chất và tinh thần của mình cho những người dân phương Nam khẳng khái khai
phá, sáng tạo!
Để có được một miền đất phương Nam trù phú với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những cánh chim
tung trời, tiếng vó ngựa reo vui trên đường làng, tiếng mái chèo trên sông nước… chúng ta không thể quên
được công lao to lớn của ông cha ta hơn 300 năm về trước xuôi thuyền vô phương Nam đi mở đất – qua
bao cuộc bể dâu, qua bao cuộc đổi thay, qua bao gian khổ hy sinh với một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc

Đoàn Giỏi sinh ở quê tại thị xã Mỹ Tho, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành,
tỉnh Tiền Giang), trong một gia đình địa chủ. Ông từng theo học tại trường Mỹ thuật Gia Định
trong những năm 1939-1940. Khi Cách mạng tháng Tám thành công và toàn quốc kháng chiến
bùng nổ, gia đình ông đã tự nguyện hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính quyền Việt Minh.
Trong những năm Việt Nam chống Pháp, Đoàn Giỏi công tác trong ngành an ninh, rồi làm công
tác thông tin, văn nghệ, từng giữ chức Phó trưởng Ty thông tin Rạch Giá (1949). Từ năm 1949 đến
năm 1954, ông công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ, viết bài cho tạp chí Lá Lúa, rồi tạp chí Văn
nghệ Miền Nam.
Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, đến năm 1955 ông chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, công
tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông là ủy viên Ban chấp hành Hội
Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đoàn Giỏi còn
có các bút danh khác: Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư.
Ngoài truyện, truyện ngắn, ký, Đoàn Giỏi còn sáng tác thơ. Đất rừng phương Nam là truyện viết
cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng
nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản
Kim Đồng.
Ông mất ngày 2 tháng 4 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh ung thư. Ngày 7 tháng 4
năm 2000, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đặt tên ông cho một phố thuộc
Quận Tân Phú.
Thành tựu nghệ thuật
Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng yêu đối với độc
giả, không chỉ là độc giả nhỏ tuổi. Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước,
rừng cây, những câu chuyện cả thực cả kỳ bí của thiên nhiên Nam bộ hoang sơ và truyền được hơi
thở ấy cho độc giả. Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông đối với miền đất Nam
bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỷ mỷ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trong tác phẩm của
mình.
Ngoài lề
Gia đình Đoàn Giỏi đã hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính phủ và, trụ sở của Uỷ ban nhân
dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang hiện nay chính là nhà của gia đình ông. Sau khi Việt nam
thống nhất năm 1975 Đoàn Giỏi đi lại rất nhiều giữa hai miền Nam, Bắc nhưng không có nhà

(TT&VH) - Ban đầu khi nghe chúng tôi “alô” xin được hỏi chuyện về văn chương nhà trường cũng
như tác phẩm Bức tranh của em gái tôi, nhà văn Tạ Duy Anh “viện cớ” đã, đang “ở ẩn” nên không
muốn nói gì thêm về văn chương, đặc biệt là văn chương trong nhà trường. Nhưng rồi, đề tài giáo
dục như hoặc đã chạm vào nỗi niềm của một con người tâm huyết, trách nhiệm với thế hệ tương
lại của đất nước... nên ông lại “lai rai với chúng tôi về những vấn đề ấy không biết chán!
Đang biến trẻ con thành những ông già!
Nhà văn Tạ Duy Anh tâm sự: “Sau khi viết khá nhiều cho trẻ con thì tôi nhận thấy một điều, ấy là thế giới
trẻ con phức tạp vô cùng, nhưng cũng vô cùng công minh (hơn thế giới người lớn rất nhiều). Nó phán xét
tất cả mọi thứ bằng trực quan nhạy cảm của nó, mà dường như trực quan ấy mất dần khi chúng thành
người lớn. Một đứa trẻ chỉ vài tháng tuổi có thể hớn hở với người này nhưng lại khóc thét lên với người
khác. Đó như là sự nhạy cảm trời đất ban tặng. Vì vậy, không thể yêu giả vờ với trẻ. Nó sẽ phản ứng rất
chuẩn xác thậm chí làm cho chúng ta phát ngượng”.
Khi được hỏi về chất lượng của nền giáo dục nước mình hiện nay, ông thẳng thắn nói: “Khô cứng, áp đặt,
dù SGK hiện nay đã khắc phục được một vài nhược điểm, đang có xu hướng cho trẻ con tiếp cận với
những giá trị mang tính nhân bản hơn và đã tiến gần hơn tới cái bản chất giáo dục - giáo dục về lòng thiện
cho con người - đặt cơ sở để từ đó làm nảy sinh những tình cảm tốt đẹp hơn.
Chúng ta cũng nên biết và nên nhớ rằng tâm hồn đứa trẻ là nơi mọi thứ có thể sinh ra thì giáo dục ban đầu
phải làm sao hạn chế tối đa sự nảy ra “những cái cây có hại”, mà cần tạo ra những cây đẹp, khu vườn
đẹp. Bạn sẽ rất buồn nếu như thấy một đứa trẻ bước ra khỏi lớp học với một bộ mặt buồn rầu, mệt mỏi,
già nua.
Tôi không nói giáo dục nước mình làm hại đến trẻ mà chỉ thấy rằng nền giáo dục hiện nay đang biến trẻ
con thành những ông già sớm và những ông già khó tính, mất đi tính hồn nhiên và sớm nghi ngờ tương lai,
thay thế giới mơ mộng thần tiên của trẻ bằng thế giới trần trụi mà nổi bật lên là những hành động vụ lợi
của người lớn. Khi trong cặp của trẻ bao gồm cả bảng cửu chương, những kiến thức lịch sử hào hùng của
dân tộc, lẫn những tờ đơn viết sền sẵn của cô giáo để dạy thêm và tiền bạc…thì làm sao không khiến
chúng trở nên nghi kỵ thế giới chung quanh, chống lại những điều đó bằng việc khẳng định mình và điều
đó rất nguy hiểm. Nếu cứ như vậy mãi thì người ta sẽ không còn tin vào nền giáo dục quốc gia mà sẽ rút
lui về giáo dục gia đình...”

Bắt hàng triệu học sinh hiểu như nhau về một tác phẩm

Tiểu sử
Tên khai sinh: Võ Quảng, sinh ngày 1.3.1920. Quê ở Đại Hòa huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Hiện nghỉ hưu ở Hà Nội. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Trình độ Đại học. Hội viên Hội
Nhà văn Việt Nam (1965).
* Võ Quảng tham gia cách mạng từ năm 1935, chính thức gia nhập tổ chức Thanh niên Dân chủ ở
Huế. năm 1939 làm tổ trưởng tổ Thanh niên Phản đế ở Huế. Tháng 9 năm 1941 bị Pháp bắt giam ở
nhà lao Thừa Phủ. Sau đó bị đưa đi quản thúc vô thời hạn ở xã Đại Hòa. Năm 1945 làm ủy viên
Tư pháp thành phố Đà Nẵng. Sau đó làm Phó Chủ tịch UB Kháng chiến hành chính Đà Nẵng.
Năm 1947 làm Hội thẩm chính trị (tức là Phó Chánh án) tòa án quân sự miền Nam Việt Nam. Từ
1948 đến 1955 làm ủy viên Ban Thiếu niên Nhi đồng Trung ương, đồng thời lần lượt phụ trách
Nhà xuất bản Kim Đồng và xưởng phim hoạt hình. Năm 1971 về Hội Nhà văn Việt Nam, phụ
trách Văn học thiếu nhi.
* Tác phẩm đã xuất bản:
Cái Thăng (truyện, 1961);
Chỗ cây đa làng (1964);
Cái Mai (1967);
Những chiếc áo ấm (truyện, 1970);
Quê nội, Tảng sáng (truyện, 1973);
Bài học tốt (truyện, 1975);
Vượn hú (truyện, 1993);
kinh tuyến vĩ tuyến (truyện, 1995);
Gà mái hoa (thơ, 1957);
“Một nhà sư phạm thực sự thì phải
biết cách truyền được đam mê, khao
khát cho trẻ. Trước đây tôi từng được
học cô giáo như thế. Về mặt kiến
thức, có thể sau này tôi nhận ra ở cô
quá nhiều khiếm khuyết nhưng quan
trọng là cô đã tạo dựng được lòng tin
trong lòng chúng tôi. Những khi máy

mươi năm, những nỗi đau xót nảy sinh từ cuộc chiến tranh ở Đông Dương chưa xoá hết được.
Trong truyện, người Pháp hiện diện như kẻ áp bức, như những kẻ thù. Tác giả không nhào nặn lại
lịch sử, nhưng ở đây trong mọi thể hiện đều có mức độ. Có một tí gì mỉa mai nhẹ nhàng và thân ái
trong khi tác giả nhắc lại bài diễn thuyết có phần khoa trương của một cán bộ cơ sở. Nhưng chúng
ta không thể nào nhầm, vì đây không phải là những lời trống rỗng. Chú Năm Mùi không hề thủ
đoạn, không đầu cơ chính trị. Chú đấu tranh cho cách mạng, chú hiểu rõ bà con trong làng xóm
của mình. Những lời nói của chú không phải là những câu châm ngôn sách vở, chú cũng không
phải là kẻ khoe khoang. Trái lại, trong nhiều trường hợp chú tỏ ra biết nhiều kinh nghiệm, có
những hiểu biết sâu sắc về cuộc sống và con người. Ngoài ra chú không phải không biết hóm hỉnh.
Ở Việt Nam, Võ Quảng được công nhận là một trong những nhà văn ưu tú viết cho thiếu nhi. Mặc
dù sự khan hiếm về giấy đã hạn chế gay gắt số lượng bản in, tác phẩm của Võ Quảng được tái bản
nhiều lần và nhanh chóng được tiêu thụ.
Trước kia trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, ông hoạt động cách mạng chống Pháp. Năm 1941
ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau Cách mạng tháng Tám, ông phụ trách chính quyền Đà Nẵng,
phụ trách việc xét xử ở các toà án miền Trung. Từ năm 1957, ông chăm lo công việc giáo dục
thiếu nhi bằng các phương tiện văn học nghệ thuật.
Sự đồng cảm về ngôn ngữ có phần hạn chế nhưng bản dịch ít nhiều cũng gợi lên được phong cảnh,
những công việc làm ăn hàng ngày ở một vùng quê Việt Nam. Chúng ta hi vọng tài năng của tác
giả trong việc sáng tạo những hình tượng văn học, trong việc tạo ra sự sống động của các nhân vật.
Không phải không được cảm nhận ở đây. Làm sao người ta có thể quên được quang cảnh những
ngọn đèn trôi dọc bờ rào của những người đi học lớp xoá nạn mù chữ trong đêm tối, quên được
những con gà trống ở Hoà Phước, con trâu Bỉnh bước giữa ngàn sao, quên bà Hiến… Chúng ta hi
vọng tính chất kín đáo rất mực tinh vi của những tình cảm bộc lộ trong câu văn được truyền qua
bạn đọc. Chú Hai Quân bị lí trưởng đánh đòn buộc phải bỏ làng ra đi. Trước khi đi chú sửa lại tao
nôi của đứa bé gái con chú. Những lời từ biệt của Cục và Cù lao được thể hiện qua tiếng hát của
các cô lái đò xuôi Hội An. Lần chia tay thứ hai trái lại là một sự rứt ra đột ngột vào lúc bến đò Hoà
Phước nhốn nháo giữa chiến tranh. Và câu chuyện của Cục và Cù Lao cũng kết thúc ở đấy.
Các độc giả phương Tây có lẽ sẽ ngạc nhiên trước bao nhiêu khía cạnh dân tộc của người Việt
Nam. Chẳng hạn sự say mê xem hát tuồng của dân làng và vai trò quan trọng của sân khấu trong
đời sống của họ, cảnh chạy trốn chiến tranh hay chạy trốn đói nghèo kéo dài suốt lịch sử đất nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status