trao đổi về việc giảng dạy các tác phẩm văn học sau 1975 - Pdf 55

Vài trao đổi về cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng
dạy(*) (hay góp lời bàn về thơ cách tân đương đại)
Bài viết được đăng lúc 4:53:36 PM, 12.05.2009

HOÀNG ĐĂNG KHOA
Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa
dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những
vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh
giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời
của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.
Cuốn sách tập hợp những bài viết của nhiều tác giả tên tuổi, về những vấn đề nổi cộm của văn
học Việt Nam sau 1975, từ lý luận, nghiên cứu đến sáng tác, tiếp nhận - phê bình với những cách
tiếp cận, những góc nhìn đa dạng, nhiều phát hiện và đánh giá mới, cả trên phương diện tổng quát
cũng như trên những vấn đề và sự kiện văn học cụ thể được dư luận đặc biệt quan tâm.
Có thể khẳng định, đây là một cuốn sách quý, chất lượng, đặc biệt hữu ích cho việc nghiên cứu,
giảng dạy văn học Việt Nam sau 1975 trong nhà trường, từ phổ thông đến đại học. Những ai quan
tâm nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề liên quan đến văn học Việt Nam sau 1975 đều có thể tìm gặp
trong cuốn sách này nhiều gợi mở quý báu, ít nhất là về mặt phương pháp luận.
Tuy nhiên, đây đó trong một số ít bài viết, có luận điểm, cách diễn đạt chưa thật sự làm bằng lòng
người đọc khó tính.
Trong bài: "Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ sau
1975", tác giả Nguyễn Văn Long khi bàn về sự đổi mới và những đặc điểm của thể loại thơ, sau
khi cho rằng thơ từ sau 1975 “xuất hiện nhiều dạng thức mới của cái tôi”, đó là “cái tôi thế sự với
những cảm xúc khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa, day dứt trước hiện trạng xã hội,
nhân thế”, đó là cái tôi “đào xới tận cùng bản thể”, cái tôi “được khai thác ở mọi bình diện, tầng
bậc, trong mọi mối quan hệ”, đã viết: “Trong những xu hướng hiện đại chủ nghĩa, lại xuất hiện
quan niệm khác về cái tôi, về chủ thể. Khi đề cao lối viết tự động, quan niệm “làm thơ là làm chữ”,
cái tôi cũng bị xóa mờ đi, để vai trò của chữ nổi bật lên và các chữ trong bài thơ như là tự nó tạo ra
mọi tác động đến độc giả” (tr.24).
Theo tôi, viết như vậy là chưa thỏa đáng.
Thứ nhất, ở đây, Nguyễn Văn Long đã “hẹp hóa” nội hàm của khái niệm cái tôi. Cái tôi, trong sáng

cùng sản sinh nghĩa.
Trong bài “Đôi điều suy nghĩ về văn hóa đọc thơ hôm nay” của tác giả Đặng Thu Thủy cũng có
nhiều đoạn lập luận, diễn đạt, theo tôi là không thỏa đáng.
Ở tr.431, tác giả viết: “...Thực tế đã cho thấy, sự cố gắng, thậm chí xả thân vì nghệ thuật của anh
rồi cũng chẳng ích gì nếu anh một mình đơn độc. Anh không thể thay thế độc giả mà quyết định
vận mệnh của thơ mình”. Đúng, sáng tạo nên tác phẩm là việc của cá nhân mỗi nhà thơ, nhưng
ngoài giá trị tự thân của tác phẩm, độc giả là người có vai trò quyết định giá trị đích thực của tác
phẩm đó. Nhưng tôi nghĩ, nhà thơ “chỉ một mình đơn độc" khi anh bất tài, khi sự cố gắng, xả thân
của anh rốt cục chỉ cho ra những thứ phi nghệ thuật, phản thơ mà thôi. Nghĩa là, ví như nói như
Nguyễn Đăng Điệp, thơ anh chỉ đi ra từ cái tôi bé nhỏ, dị biệt của anh mà không đủ sức cộng
hưởng với khách tri âm, không ôm chứa được hơi thở của thời đại; ví như anh cứ lai căng tiếp
nhận tùy tiện những thứ bên ngoài mà không có màng lọc văn hóa, màng lọc tinh thần dân tộc để
tinh tuyển; ví như anh cứ hô hào làm chữ để chỉ cho ra những chữ rỗng nghĩa, vô hồn... Độc giả
của một tác phẩm văn học luôn ở số đông với đủ mọi tầm đón nhận, cách đọc, vì thế không việc gì
phải nơm nớp sợ họ bỏ sót những tác phẩm của mình, nếu nó hay thực sự. Nói như Trần Mạnh
Hảo, thơ ca, khi nó đã đạt được đến cái hay, nó còn lại, đến thời gian mà nó còn không sợ nữa,
huống hồ vài ba lời phủ định vu vơ.
Cũng ở tr.431, tác giả viết: “Những thử nghiệm tìm tòi của nhóm Xuân Thu nhã tập, của Trần Dần,
Lê Đạt, của Nguyễn Đình Thi,... đều trở thành lạc lõng và nhanh chóng đi đến hồi kết thúc bởi
thiếu một văn hóa đọc thơ tương ứng. Để rồi mấy chục năm sau, nó lại được thử nghiệm lại.
Nhưng rồi cái chung cục của nó có khác xưa?”. Không phải những thử nghiệm tìm tòi thơ rốt cục
đều “trở thành lạc lõng và nhanh chóng đi đến hồi kết thúc bởi một văn hóa đọc thơ tương ứng”
như tác giả viết. Những thủ lĩnh cách tân thơ như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... không
hẳn “lạc lõng” vì bên cạnh họ vẫn có những bạn đọc ghi nhận những thành công nhất định của họ.
Những thử nghiệm của họ trên thực tế cũng không có chuyện “nhanh chóng đi đến hồi kết thúc”.
Sau sự cố “Nhân văn giai phẩm”, họ chỉ tạm ngừng quyền công bố tác phẩm mà thôi chứ quyền
sáng tạo của họ, tư cách nghệ sĩ của họ thì không có thế lực nào có thể tước đoạt nổi. Họ vẫn cứ
đi tận cùng con đường mình đã đi, và ý thức cách tân của họ, những thành công nhất định của họ
đã và đang được thừa nhận. Trần Dần, Lê Đạt đã được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn
học nghệ thuật đó thôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status