skkn Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975 ở trường THPT - Pdf 35

Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

VẬN DỤNG TRI THỨC LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀO DẠY ĐỌC
HIỂU CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 Ở TRƯỜNG
THPT
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng cho rằng: “Văn học, một hình thái ý thức
đặc biệt của xã hội, là nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình và sáng tạo để
nhận thức và phản ánh đời sống xã hội, để biểu hiện tâm tư con người. Văn học đã trở
thành công cụ để giáo dục con người, cải tạo xã hội rất mạnh mẽ, nó là thứ vũ khí tư
tưởng rất sắc bén có tác dụng to lớn, sâu rộng và bền bỉ mà lịch sử loài người từ trước
đến nay đã xác nhận”. Môn văn ngoài “dạy sống, dạy người, dạy mở mang trí tuệ”,
còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết một cách có hệ thống về lí
luận văn học. Đây là những tri thức khái quát rất quan trọng bởi lẽ dạy văn không chỉ
dừng lại ở chỗ giúp người học cảm thụ được vẻ đẹp của từng tác phẩm văn chương
(TPVC) cụ thể, mặt khác góp phần trang bị cho các em những kiến thức công cụ để
có thể tự mình tiếp nhận văn học một cách có lý luận, tiếp nhận văn học một cách văn
học.
Dạy học không phải là rót kiến thức vào cái bình chứa, hay nhồi nhét cho HS
một mớ kiến thức hỗn độn mà điều quan trọng là phải làm sao trang bị cho các em
phương pháp nghiên cứu, học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề. Để đọc hiểu
TPVC, đòi hỏi ở người đọc không chỉ là trực cảm thẩm mĩ, thưởng thức rung cảm mà
còn ở khả năng phân tích, lí giải, đánh giá. Trong dạy học tác phẩm, không thể đối
lập giữa cảm và hiểu, giữa khả năng cảm thụ thẩm mĩ và tri thức lí luận văn học.
Muốn vậy, “không thể không vũ trang cho HS một vốn liếng lí luận cần thiết”. Tri
thức lí luận văn học là tri thức công cụ, tri thức phương pháp, là kiến thức siêu kiến
thức, giúp cho việc đọc văn có phương pháp, phù hợp với bản chất đặc trưng của văn
học, đồng thời giúp phân tích, lí giải TPVC một cách đầy đủ và sâu sắc. Nếu không,
những kiến thức mà HS có được cũng chỉ là những kiến thức vụn vặt, cảm tính, mang
tính tư liệu.

nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi cái nhìn của nhà văn về hiện thực, về con
người. Thế giới bên trong của con người được chú trọng hơn với những diễn biến
phức tạp hơn, đa dạng hơn và nhân văn hơn mà trước đây văn học chưa có điều kiện
nói kĩ đến.
Thêm vào đó, trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, có những tác phẩm
sau năm 1975 được đưa vào trong chương trình đòi hỏi HS phải được trang bị những
hiểu biết về lí luận văn học hiện đại thì mới có thể giải mã, phát hiện, khám phá
những nét đặc sắc của nó. Vì thế, bản thân GV còn khá lúng túng trong việc tiếp cận
và tìm ra phương pháp thích hợp để tổ chức quá trình cảm thụ, tiếp nhận cho HS. Bởi
lẽ, để làm tốt công việc tổ chức cho HS chiếm lĩnh được các văn bản văn học Việt
Nam sau năm 1975 đòi hỏi ở người GV nhiều kiến thức về lí luận văn học cũng như
bản lĩnh và tài năng sư phạm.
Chính vì những lẽ trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng tri thức lí
luận về thể loại vào dạy học đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm
1975 ở trườngTHPT” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ
phận văn học này ở nhà trường phổ thông.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
a. Cơ sở lí luận.
1.a.1. Tri thức lí luận văn học là tri thức phương pháp, là “chìa khóa” để đọc
hiểu tác phẩm văn chương.
Tri thức lí luận văn học là hệ thống tri thức về toàn bộ những phương diện cơ
bản nhất của đời sống văn học. Hệ thống tri thức cơ bản đó được trình bày dưới dạng
những khái niệm, thuật ngữ nhằm giải thích đúng đắn bản chất, chức năng, đặc trưng
và quy luật của văn học. Dạy học văn học cũng là một khoa học, một nghệ thuật. Mà
đã là khoa học thì nó sẽ có hệ thống quan điểm, hệ thống phương pháp, hệ thống kiến
thức công cụ. Nếu sáng tác văn học là một dòng chảy liên tục thì lí luận văn học là
những khoảnh khắc văn học dừng lại để tự ý thức về chính mình. Không có sự tự ý
thức đó thì không thể có điều kiện để đúc rút kinh nghiệm nhằm tiến lên phía trước,
để chọn lọc những giá trị quý báu bồi đắp nên bề dày của văn hoá. Nếu không có tri

nhận rằng, kiến thức lí luận đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp độc giả
đọc, cảm thụ, đánh giá và phê bình một tác phẩm văn chương cụ thể.
Với học sinh THPT, yêu cầu được đặt ra cho việc cung cấp kiến thức lí luận văn
học “không phải là để bồi duỡng tư duy lý luận mà là để tiếp nhận văn học một cách
có lý luận, tiếp nhận văn học một cách văn học”. Như vậy, có thể thấy những kiến
thức lí luận là những kiến thức cơ bản, giúp cho HS tìm hiểu, phân tích những TPVC
cụ thể. Có thể xem đây là kiến thức nhập môn có tính chất mở đường hướng dẫn HS
tiếp cận tác phẩm một cách hiệu quả. Từ đó, HS mới khám phá được vẻ đẹp riêng của
từng tác phẩm cũng như tài năng của nhà văn. Việc giúp HS vận dụng tri thức lí luận
sẽ tạo cho các em tiếp cận giải mã tác phẩm một cách khoa học.
1. a. 2. Khái niệm.
1.a. 2.1. Thể loại văn học.
a. Khái niệm 1: Thể loại của tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các
yếu tố đề tài, chủ đề, tư tưởng, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn. Nhưng sự thống
nhất ấy lại được thực hiện theo những quy luật nhất định. Thể loại tác phẩm văn học
là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại hình nội
dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn
tại chỉnh thể. (Lí luận văn học – Phương Lựu (chủ biên) – NXB Giáo Dục)
b. Khái niệm 2: Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình
thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể
hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện
tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các
hiện tượng đời sống ấy … Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh
hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại để
giữ gìn, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang3


thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tác phẩm cho tới những chính kiến, những tư
tưởng triết học. (Từ điển Thuật ngữ văn học).
1.a.2.4. Khái niệm Truyện:
Truyện – tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức
khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại các tác phẩm văn học.
Truyện là phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi
con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về cái gì
đó. Cho nên tác ophaamr tự sự bao giờ cũng có cốt truyện… cốt truyện được khắc
họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồm chi tiết, sự
kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách… đời sống,
văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng, hoang đường
mà không nghệ thuật nào tái hiện được…(Từ điển Thuật ngữ văn học).
1.a.2.5. Khái niệm Kí:
Kí là một loại hình văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều
thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự.
Tính xác thực là đặc trưng cơ bản của thể kí, Kí phản ánh hiện thực khách quan.
Những sự kiện, con người đều mang tính xác thực. Kí cũng có khả năng hư cấu
nhưng liều lượng hư cấu có giới hạn và không thể xa rời thực tiễn.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang4


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Kí là thể loại in đậm dấu ấn hình tượng tác giả. Người viết kí không ẩn mình mà
trực tiếp viết ra những gì mình chứng kiến, quan sát. Cái tôi tác giả kể, thông tin,
miêu tả hoặc dẫn dắt người đọc tiếp cận cuộc sống, con người

12 ở trường THPT Sông Ray
* Về phía GV:
Qua kết quả dự giờ của một số giáo viên dạy khối 12 ở tổ Văn, tôi nhận thấy ở
một bộ phận GV, việc đổi mới phương pháp dạy học đôi khi chỉ đơn thuần mang tính
hình thức. Do đó, hiệu quả các giờ học chưa cao. Giờ văn nhiều khi vẫn “thiên về
rung cảm xúc động trong HS mà coi nhẹ khái quát...”. Thêm vào đó, nhiều GV vẫn
chưa ý thức đúng mức về tầm quan trọng của tri thức lí luận văn học trong quá trình
dạy học tác phẩm văn chương. Vì thế, vấn đề làm thế nào để hình thành kiến thức lí
luận cho HS, giúp các em vận dụng những kiến thức công cụ này vào khám phá tác
phẩm cũng không được chú ý đến. Rất nhiều GV chưa thực sự chú trọng trang bị,
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang5


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

hình thành cho HS những kiến thức lí luận văn học một cách trực tiếp bên cạnh việc
bồi dưỡng tri thức lí luận cho HS thông qua việc dạy tác phẩm.
Văn học Việt Nam sau năm 1975 với sự nở rộ của các phong cách, bút pháp,
bộc lộ hết mình các cá tính sáng tạo của nhà văn cùng với việc ra sức tìm kiếm, thể
nghiệm nhiều hình thức và thủ pháp mới thực sự là những “thách thức” đối với GV
trong việc tổ chức quá trình đọc hiểu ở HS. Để giờ học đạt hiệu quả như mong muốn,
GV cần phải nhận thức được vai trò quan trọng của tri thức lí luận văn học đối với
việc đọc hiểu tác phẩm. Trên cơ sở đó, có những định hướng giúp HS vận dụng
những tri thức mang tính công cụ này vào quá trình tiếp nhận tác phẩm. Thông qua
từng bài học cụ thể, giúp HS tích luỹ, củng cố và khắc sâu tri thức lí luận văn học. Có
như vậy, mới khắc phục nguy cơ những tri thức lí luận văn học đang biến thành

mới có thể khám phá các lớp ý nghĩa của những tác phẩm văn học Việt Nam sau năm
1975 ở chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang6


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tri thức lí luận văn học trong dạy học
đọc hiểu TPVC. Đặc biệt, bộ phận văn học Việt Nam sau năm 1975 với nhiều tác
phẩm mới, nhiều hướng tiếp cận, nếu như không vận dụng những tri thức mang tính
công cụ vào việc tổ chức quá trình đọc hiểu để khám phá tác phẩm là điều khó khăn.
Vận dụng tri thức về thể loại văn học vào quá trình dạy học đọc hiểu văn bản là nhằm
góp phần nâng cao trình độ quan niệm trong tiếp nhận văn học, phát triển năng lực, kĩ
năng đọc văn cho HS.
2. VẬN DỤNG TRI THỨC LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀO DẠY
HỌC ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 Ở
TRƯỜNG THPT
2.1. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca – Thanh
Thảo theo hướng vận dụng tri thức lí luận về thể loại thơ hiện đại.
a. Thơ:
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm
trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có
nhịp điệu. Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh
vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng.
Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình
cảm và lí trí ấy được diễn tả bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

ngôn ngữ lắng đọng và ngân vang, nên khi dạy thơ, GV cần lưu ý đến khâu đọc diễn
cảm. “Khi đọc thơ, phải làm cho mỗi tiếng trong thơ sáng hết hình và ngân hết nhạc”.
Khi tổ chức quá trình dạy đọc hiểu các tác phẩm thơ hiện đại, GV cần hướng dẫn HS
tìm hiểu về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ. Nếu trong thơ trung đại, thường
không có sự hiện diện trực tiếp của cái tôi chủ thể trữ tình thì trong thơ hiện đại, cái
tôi của chủ thể trữ tình thường công khai và có ý thức mạnh mẽ tự biểu hiện, không
chỉ xúc cảm, quan niệm về thế giới mà còn cả những điều thầm kín riêng tư nhất.
Tìm hiểu nội dung của bài thơ nhất thiết phải hướng dẫn HS tìm ra được mạch
diễn biến, triển khai của tâm trạng, cảm xúc, suy tư của chủ thể trữ tình. Điều này có
nghĩa là phải tìm cho được cách kết cấu của bài thơ. “Mỗi tác phẩm là một cấu trúc
bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, thành phần phức tạp. Toàn bộ những yếu tố,
thành phần đó sắp xếp, gắn với nhau theo một kiểu gọi là kết cấu của tác phẩm”. Kết
cấu chi phối việc tổ chức mọi yếu tố của bài thơ như: ngôn từ, chất liệu, hình ảnh,
hình tượng, giọng điệu, cảm xúc, ý tưởng, nhưng yếu tố cơ bản quy định nên kết cấu
của bài thơ chính là mạch diễn biến của cảm xúc và ý tưởng. Kết cấu bộc lộ tài năng
và tính sáng tạo của người nghệ sĩ, đồng thời phản ánh được quy luật vận động và
phát triển của đời sống. Đời sống thì đa dạng, luôn vận động tiến hoá, điều đó dẫn
đến sự đa dạng và luôn biến hoá của hình thức kết cấu.
M.Gorki từng nói: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”. Ngôn ngữ là
chất liệu để người nghệ sĩ vẽ nên bức tranh đời sống và truyền đạt những thông điệp
tư tưởng – thẩm mĩ đến người đọc. Ngôn từ tác phẩm chính là chiếc cầu nối giữa nhà
văn và người đọc. Như vậy, ngôn ngữ chính là công cụ, chất liệu cơ bản của văn học,
được chọn lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ. Ngôn ngữ là một
trong những yếu tố quan trọng thể hiện các tính sáng tạo, phong cách, tài năng của
người cầm bút. Đặc biệt trong thơ, mọi khả năng biểu đạt, sức mạnh và vẻ đẹp của
ngôn ngữ văn học được thể hiện đầy đủ hơn cả. Ngôn ngữ thơ gắn chặt với đặc điểm

thực trong Đàn ghi ta của Lorca – Thanh Thảo.
Trước hết, thơ hiện đại dòng tượng trưng, siêu thực tạo nên sự khác biệt với thơ
cổ điển và lãng mạn ở việc thể hiện vai trò “cái tôi”. Nếu trong thơ cổ điển, cái tôi bị
phủ định, trong thơ lãng mạn, cái tôi lại được đưa lên vị trí độc tôn thì đối với các nhà
thơ tượng trưng và siêu thực, cái tôi đã mất vị trí độc tôn, bị lu mờ, thậm chí trở thành
cái tôi đa ngã. Chủ nghĩa siêu thực đề ra một hệ thống quan điểm mỹ học, gồm: Đề
cao và chú trọng khai thác cái ngẫu hứng, cái bất ngờ trong thế giới vô thức; đề cao
vai trò của cái hỗn độn, phi logic, phi luận lí; phá vỡ sự ngăn cách giữa chủ thể và
khách thể.
Bản thân HS sẽ khó hiểu những lí thuyết mà GV cung cấp. Vì vậy, những kiến
thức trừu tượng này cần được chứng minh cụ thể qua từng hình ảnh, chi tiết trong tác
phẩm. GV có thể gợi ý để HS hiểu những ảnh hưởng của dòng thơ tượng trưng, siêu
thực thể hiện trong văn bản này. Hình ảnh đầu tiên được Thanh Thảo gợi ra là
“những tiếng đàn bọt nước”. Người đọc có thể hiểu tiếng đàn đó không chỉ có chức
năng tạo ra âm thanh, thành bản nhạc mà nó còn mang tính tạo hình qua hình ảnh
“bọt nước”. Đây là hình ảnh đem lại sự thụ cảm vừa bằng thính giác vừa bằng thị
giác, mà sáng tạo ra các hình ảnh thị giác là điều mà các nhà thơ siêu thực thường
quan tâm. Hình ảnh “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” lại có sự kết hợp giữa cái thực
là truyền thống đấu bò tót của Tây Ban Nha và ám chỉ tình hình chính trị với những
cuộc đàn áp khốc liệt của chính quyền độc tài nơi đây. Như vậy, có thể hiểu cả Tây
Ban Nha đang trở thành một đấu trường, không phải giữa người đấu với bò mà giữa
người với người, giữa dân chủ và độc tài, giữa tự do bị bóp nghẹt và thể chế chính trị
hà khắc.
Bài thơ dẫu có chịu ảnh hưởng của bút pháp ấn tượng, tượng trưng nhưng kĩ
thuật siêu thực mới thực sự quyết định giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Nghệ thuật siêu thực tập trung ở cái nhìn, một cái nhìn đặc biệt, không phân
biệt sự vật hiện tượng trong không gian thời gian, không phân biệt yếu tố trừu tượng
hay cụ thể. Chiếc áo choàng đỏ gắt gợi vẻ ngang tàng, khí phách của Lorca và của
nền văn hóa đấu bò Tây Ban Nha, đồng thời gợi cái chết bi thảm của người nghệ sĩ
khao khát tự do, khao khát cách tân nghệ thuật.

Tất cả những dụng công nghệ thuật trên nhằm để bày tỏ nỗi xót xa trước cái
chết của Lorca. Khẳng định tầm vóc thiên tài và sự bất tử của nghệ sĩ, khẳng định sứ
mạng nghệ thuật, và đề cao khả năng nhận thức và tái tạo vô hạn của nghệ sĩ, của
ngôn từ trên cuộc đời.
Rõ ràng kiến thức lí luận văn học thuần túy sẽ trở nên dễ hiểu thông qua sự vận
dụng những kiến thức ấy vào những chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm. Nói cách khác,
những khái niệm lí luận cũng sẽ trở nên sinh động hơn, dễ hiểu hơn, dễ nhận diện
hơn từ những dẫn chứng cụ thể. Từ những tri thức lí thuyết văn học được cung cấp,
HS sẽ vận dụng để chiếm lĩnh những tác phẩm mới. Như vậy, khi vận dụng tri thức lí
luận văn học vào dạy học đọc hiểu tác phẩm, GV cần phải biết cách làm “mềm” kiến
thức lí luận vốn khô khan, trừu tượng ấy bằng những chi tiết cụ thể trong bài học. Có
làm được như thế thì HS mới có một vốn tri thức toàn diện, giúp các em sử dụng và
phát huy tốt những đơn vị kiến thức đã được học cũng như tạo cho các em tâm thế
chủ động, tích cực, nhanh nhạy trong việc tiếp thu những đơn vị kiến thức mới.
Thơ ngày nay khó nhớ, khó thuộc hơn so với thơ ca giai đoạn trước. Điều này
là một thực tế. Nó cho thấy sự vận động khá rõ trong tư duy thơ. Trước đây, các nhà
thơ chủ yếu tập trung xây dựng những câu thơ ám ảnh, cấu trúc thơ chủ yếu xoay
quanh nghệ thuật lập tứ và nghệ thuật dùng từ, xây dựng tính nhạc nhằm tạo nên sức
mê hoặc khiến cho thơ dễ ru người đọc. Hiện nay, các nhà thơ lại tập trung vào tổ
chức cấu trúc chỉnh thể, xây dựng hàng chuỗi biểu tượng và các biểu tượng ấy nhiều
khi không dễ nhận ra bằng sự cảm nhận thông thường. Nó đòi hỏi người tiếp nhận
vừa giàu trải nghiệm vừa phải có khả năng tiếp nhận cái siêu nghiệm trong thơ. Đọc
thơ, suy cho cùng cũng là một cách tiếp cận kinh nghiệm sống, tiếp cận những giá trị
tinh thần do nhà thơ sáng tạo nên. Nhưng mỗi nhà thơ đều phải sống trong một thời
đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể. Vì thế, thơ họ, một mặt, thể hiện
những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác, những suy tư ấy phải thể hiện được
tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại mình. Rõ ràng, để giúp HS khám phá được
ý nghĩa của những bài thơ hiện đại là việc làm không hề đơn giản. Bởi lẽ, ở nhiều tác
phẩm, nhà thơ không đứng ra làm nhiệm vụ giải thích, thuyết minh mà để cho người
đọc tự khám phá những bí mật sau những cách nói ngỡ như không ăn nhập gì với

truyện ký, tiểu thuyết), mặt khác, lại có lối dùng nó như một thuật ngữ trỏ dung lượng
tác phẩm tự sự (“truyện dài”, “truyện vừa”, “truyện ngắn”). Theo tác giả Trần Thanh
Đạm, “truyện là một khái niệm rộng bao gồm các thể tài chủ yếu thuộc loại hình tự
sự. Tự sự có nghĩa là kể chuyện. Và có kể chuyện ắt là có truyện”.
Về các yếu tố cơ bản của truyện, có: cốt truyện, nhân vật, trần thuật, thời gian,
không gian trong truyện và lời văn của truyện. Ở thể loại truyện hiện đại, về trần
thuật, nhiều tác giả sử dụng cách trần thuật nhập vai nhân vật, hoặc xen kẽ, hoà nhập
lời của người trần thuật khách quan với lời của nhân vật, tạo thành cách trần thuật
song trùng chủ thể. Thời gian trong truyện hiện đại thường có sự thay đổi trình tự kể
so với trình tự diễn ra của các sự kiện. Truyện thường ít khi bắt đầu trần thuật từ sự
việc khởi đầu, mà có thể từ một thời điểm sau sự khởi đầu, hoặc ở thời điểm kết thúc
câu chuyện, rồi mới quay ngược thời gian của các sự kiện đã diễn ra trước đó. Lời
văn trong truyện hiện đại giàu tính sinh động, trực tiếp, sát với tiếng nói hằng ngày,
mang đậm phong cách cá nhân và đa giọng điệu. Các thể chính của truyện hiện đại:
tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.
*Từ việc nắm được những đặc trưng của thể loại truyện hiện đại, khi tổ chức
quá trình đọc hiểu cho HS, trước hết, GV cần lưu ý hướng dẫn các em tìm hiểu những
phương diện chung như đề tài, bố cục, cốt truyện...Sau đó, tùy theo đặc điểm của
từng tác phẩm mà đi vào các bình diện khác. Ví dụ: có những truyện không thể
không quan tâm đến tình huống truyện, nhân vật, xung đột, có những truyện lại phải
đặc biệt chú ý đến không gian, thời gian...Thông qua việc phân tích nhân vật, hình
ảnh, các lớp ngôn từ, chi tiết nghệ thuật đặc sắc mà nhà văn đã xây dựng để khám
phá, đúc kết những khái quát về tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.
c. Cách thực hiện.
Để giúp HS nắm được sự phát triển của tình tiết trong tác phẩm (tức là nắm
được cốt truyện), GV có thể yêu cầu HS kể lại tác phẩm sau khi đã đọc. Thao tác này,
không những có tác dụng củng cố tri thức văn học mà còn có tác dụng trau dồi tư duy
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray

“Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in
một nét mơ hồ, loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng
hồng do ánh mặt trời chiếu vào...Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều
hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở
nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó đã lần đầu phát
hiện ra cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng mình vừa khám
phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của
tâm hồn”. Nhưng mọi chuyện lại bắt đầu từ cái ngã rẽ bất ngờ này. Ngay sau sự phát
hiện thứ nhất về cái đẹp, cái lãng mạn của đời sống là sự phát hiện thứ hai đầy trớ
trêu đến tàn nhẫn để lộ ra cái mặt trái của cuộc đời và con người nhiều “đa sự, đa
đoan”. Ám ảnh không rời khi đọc xong tác phẩm chính là bi kịch của cặp vợ chồng
hàng chài. Hình ảnh người đàn bà khốn khổ với cặp mắt mệt mỏi vì thiếu ngủ, bàn
chân nhợt trắng vì ngâm nước đang trần tấm lưng áo ướt sũng và bạc phếch vì muối
mặn hứng chịu một cách nhẫn nhục cơn thịnh nộ của chồng. Và hình ảnh lão đàn ông
độc ác, vũ phu đang nghiến răng nghiến lợi trút những uất ức, cay cực, bức xúc của
cuộc đời thường nhật lên đôi vai vốn đã nặng trĩu gánh nặng đời sống của người vợ
đang cùng mình chung lưng đấu cật để tồn tại trong cuộc sống. Cần lưu ý rằng:
truyện ngắn hiện đại không hướng đến sự kết thúc mà hướng vào sự mở đầu. Vấn đề
căn bản không phải là “kết thúc bằng cách nào” mà là “mọi chuyện bắt đầu từ đâu”.
Đưa kết thúc vào thì truyện ngắn hiện đại lại trở nên không trọn vẹn.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang12


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Trong truyện, trần thuật là một phương diện không thể thiếu. Cần lưu ý đến

Hoàng Phủ Ngọc Tường theo hướng vận dụng tri thức về thể loại kí.
a. Về thể loại Bút kí :
Bút kí là thể loại thuộc loại hình kí thường có quy mô tương ứng với truyện
ngắn. Bút kí khác với truyện ngắn ở chỗ tác giả bút kí không sử dụng hư cấu vào việc
phản ánh hiện thực.
b. Đặc điểm của bút kí.
Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên
cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thề hiện một tư tưởng nào đó. Sức hấp
dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu,
khám phá, diễn đạt những khía cạnh « có vấn đề », những ý nghĩ mới mẻ, sâu sắc
trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Nói cách khác,
giá trị hàng đầu của bút kí là giá trị nhận thức. …(Từ điển Thuật ngữ văn học).
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang13


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Khi giảng dạy kí, điều lưu ý trước tiên là GV cần bám chắc vào đặc điểm cơ bản
của kí là tính xác thực. Mỗi thể kí lại có những đặc điểm riêng. Vì thế, GV cần xác
định rõ để bảo đảm HS tiếp nhận tác phẩm kí đúng hướng. Có kiến thức về đặc điểm
của từng thể kí thì khi giảng mới khai thác hết được giá trị tư tưởng và nghệ thuật của
tác phẩm. Việc dạy tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại sẽ giúp HS có sự so sánh, đối
chiếu nhiều thể kí khác nhau để có được một nhận thức sâu sắc về thể loại này, trên
cơ sở đó, các em có thể tự mình tiếp nhận các tác phẩm kí ngoài chương trình.
Trên cơ sở đặc trưng thể loại và yêu cầu của dạy học hiện đại, dạy học kí hướng
đến mục tiêu phát triển kĩ năng tiếp thu tri thức và năng lực cảm thụ nghệ thuật. Qua

thể hiện tấm lòng yêu quê hương, đất nước của mình. Qua đó, giúp HS có thêm tri
thức về thiên nhiên, con người, lịch sử và văn hóa xứ Huế, đồng thời có được tri thức
về thể loại, về nghệ thụât trần thuật và cảm nhận về những rung động tinh tế của nhà
văn.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang14


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Việc vận dụng tri thức lý luận văn học vào quá trình dạy học nhằm tạo cơ sở khoa
học cũng như đem lại con đường tiếp cận và đánh giá tác phẩm một cách có hiệu quả.
Khi vận dụng tri thức lý luận văn học vào dạy học đọc văn cần tránh việc cung cấp lý
thuyết mang tính thuần lý mà hướng tới giúp HS vận dụng vào phát hiện, phân tích
những chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm cụ thể. Để cảm cái hay, cái đẹp được thể hiện
qua bức thông điệp thẩm mĩ. Vận dụng tri thức lý luận vào dạy học đọc hiểu tác
phẩm cần bảo đảm sự cân bằng giữa cảm và hiểu. Có như vậy, HS mới tìm được
tiếng nói tri âm trong tác phẩm và sống cùng thế giới nghệ thuật mà nhà văn đã sáng
tạo nên. Những kiến thức lý luận sẽ giúp cho GV và HS khai thác những đặc sắc
nghệ thuật trong từng tác phẩm. Mặt khác, thông qua giờ dạy đọc hiểu tác phẩm văn
học, những tri thức về lý luận sẽ được tích lũy, củng cố và khắc sâu ở HS.
Lí luận văn học hiện đại đã chỉ ra nhiều cách tiếp cận tác phẩm: tiếp cận theo quan
điểm lịch sử phát sinh, theo quan điểm cấu trúc và theo quan điểm lịch sử chức năng.
Mỗi một cách tiếp cận sẽ giúp cho chúng ta có được một cái nhìn phong phú hơn,
toàn diện hơn về TPVC. Vì vậy, trong việc dạy học đọc tác phẩm, GV cần định
hướng HS vận dụng các quan điểm này vào tiếp cận, phân tích TP nhằm đạt được
hiệu quả về tiếp nhận.

ở trường THPT.

1. Định hướng về nội dung
* Đặc điểm bài học
+ Về nội dung
Bài thơ viết về cái chết của Lorca, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà viết kịch, nhà hoạt động
sân khấu thiên tài người Tây Ban Nha vào năm 1936, khi ông mới 38 tuổi.
Cái chết của Lorca là sự kiện gây chấn động lớn không chỉ ở Tây Ban Nha mà
còn với toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau.
Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó, tỏ lòng ngưỡng mộ, đau xót và
qua đó xây dựng biểu tượng nghệ thuật Lorca qua một hình ảnh quen thuộc mà độc
đáo: đàn ghita.
+ Về hình thức
Với Lorca, người được coi như một trong những bậc thầy của thi ca hiện đại thế
giới, đại diện tiêu biểu cho một thế hệ nghệ sĩ mới đầy tình công dân và ý thức cách
tân nghệ thuật, nên với bài tưởng mộ của mình, Thanh Thảo không muốn dừng lại
với hình thức thông thường, ông thể nghiệm một hình thức mới, gần gũi với dòng
mạch tượng trưng và siêu thực, tạm gọi là kết hợp và giao hoà: kết hợp giữa tự sự và
trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương Đông và chất bi tráng của
nhạc giao hưởng phương Tây, giữa hệ thống thi ảnh Lorca và hệ thống của chính tác
giả. Tất cả lại đưa vào một cấu trúc mới cũng mang tính chất kết hợp và giao hoà:
giao hoà giữa tính liên tục trong cốt tự sự với tính gián đoạn trong suy cảm và ngôn
ngữ thơ.
* Trọng tâm bài học:
- Phân tích và cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng Lorca và biểu tượng nghệ
thuật Lorca trong mạch cảm xúc và suy tư đa chiều vừa sâu sắc, vừa mãnh liệt của tác
giả bài thơ.
- Cảm nhận vẻ đẹp độc đáo trong hình thức biểu đạt mang phong cách hiện
đại.
2. Định hướng PPDH

Có những lời hơn mọi bài ca
Có những con người như chân lí sinh ra.”
(Tố Hữu)
Những câu thơ trên của Tố Hữu có thể dùng để nói đến Lorca mà cái chết của
ông đã trở thành một trong những sự kiện bi tráng trong lịch sử Tây Ban Nha hiện
đại. Có thể coi bài thơ “Đàn ghita của Lorca” (Thanh Thảo) như là một khúc tưởng
mộ mà Thanh Thảo dành cho Lorca, người nghệ sĩ thiên tài Tây Ban Nha.
* Tiến trình tổ chức, hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS

NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN ĐẠT

HS nêu kết quả cần đạt,->xác định trọng tâm
bài học.
HS đọc tiểu dẫn và ghi lại những nét chính về
tác giả và tác phẩm.
Em hãy trình bày những nét chính về tác
giả?
HS giới thiệu. GV nhấn mạnh những điểm cần
ghi nhớ.
GV kết hợp gợi mở và diễn giảng về phong
cách thơ Thanh Thảo:
- Nhà thơ được công chúng đặc biệt chú ý bởi
những bài thơ và trường ca mang diện mạo
độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến,
thể hiện nhiều trăn trở và suy tư về xã hội và
thời đại.
- Sau năm 1975, dành tâm huyết cho việc đổi
mới thơ ca qua cách diễn đạt mới: hình thức
thơ ca tự do (có khi là thơ văn xuôi), nhịp vần

Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang17


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

gì, một trạng thái mà vô thức chiếm lĩnh tôi
trọn vẹn –Văn học và tuổi trẻ, số tháng
3/2009)
Chuyển ý: Tên tập thơ là hình dung mới của
Thanh Thảo về cấu trúc thơ-cấu trúc ru-bich:
một mô hình mở phá bỏ những khuôn mẫu ổn
định để giải phóng cảm xúc và tưởng tượng.
GV cung cấp cho HS một số hiểu biết về thơ
tượng trưng, siêu thực. (Thơ hiện đại dòng thơ
tượng trưng, siêu thực ra đời vào những năm
20 của thế kỉ XX).
- Khác biệt ở vai trò cái tôi trong thơ.
+Thơ cổ điển: phủ định cái tôi.
+Thơ lãng mạn: khẳng định cái tôi.
+Thơ tượng trưng: cái tôi bị phân chia
thành nhiều cái tôi, thậm chí tồn tại cả cái tôi
chưa biết và tác giả luôn nỗ lực để đi tìm kiếm
cái tôi đó của mình.
-Nghệ thuật: sáng tạo hình ảnh theo lối lạ hoá,
đề cao cái hỗn độn, phi logic hoá, tạo ra
nghịch lý, bất ngờ.


b. Bố cục
- Phần 1: (6 dòng đầu): Lorca- nghệ
sĩ tự do nhưng đơn độc.
- Phần 2: (2 đoạn tiếp): Nỗi xót xa
bi phẫn về cái chết oan khuất và sự
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray

Trang18


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

- GV yêu cầu HS dựa vào phần chú thích để
giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ.
+ HS đọc và giải thích
+ GV nhấn mạnh.

Nêu xuất xứ và ý nghĩa của lời đề từ?
GV nhấn mạnh và liên hệ với câu nói của
Gôm-brô-vích và Trần Dần.

Chân dung nghệ sĩ Lorca được gợi lên trong
một không gian như thế nào? được thể hiện
qua những chi tiết nào?
HS thảo luận nhóm, đại diện trả lời.
GV tổng hợp. định hướng và khái quát.

Lorca đang bay bổng với những giai điệu mới,

+ Mong muốn xoá bỏ ảnh
hưởng của bản thân để dọn đường
cho thế hệ sau vươn tới->Nhân cách
cao đẹp.
=>Khơi nguồn dẫn dắt cảm xúc
của Thanh Thảo.
2.2 Đoạn 1: Lorca- nghệ sĩ tự
do nhưng đơn độc.
- Không gian văn hoá mang đậm
bản sắc Tây Ban Nha: tiếng đàn,
đấu trường, hoa lila.
+Vầng trăng, yên ngựa trong không
gian mênh mông của thảo nguyên,
với bầu trời và đồng cỏ.
+ Những tiếng đàn bọt nước: thị
giác, thính giác-> trong trẻo, dễ vỡ
của nền nghệ thuật mới (báo trước
định mệnh phũ phàng Lorca).
+Áo choàng đỏ gắt ->Đấu trường bò
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray

Trang19


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Trên cái nền ấy, Lorca hiện lên như thế nào?
HS nêu ý kiến, nhận xét.


tranh,là khát vọng cháy bỏng, là lời tuyên
chiến; giờ đâu thấm đẫm máu của người anh
hùng.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

tót Tây Ban Nha.
+ Li la: mô phỏng tiếng đàn ghi ta.
=>Sự tương phản khắc nghiệt giữa
“tiếng đàn lila” với “áo choàng đỏ
gắt” gợi khung cảnh một đấu trường
giữa võ sĩ với bò tót; Tây Ban Nha
như một đấu trường đẫm máu.
Lorca- đấu sĩ khoác áo choàng đỏ
đấu tranh cho khát vọng dân chủ và
cách tân nghệ thuật.
=>Tất cả làm nổi bật không gian
văn hóa Tây Ban Nha. Hình ảnh thơ
gợi lên không gian chính trị khốc
liệt với những cuộc đàn áp đẫm máu
của chính quyền độc tài Tây Ban
Nha.
2.3 Phần 2: Nỗi xót xa bi phẫn về
cái chết oan khuất và sự dang dở
của cách tân nghệ thuật.
-Hình ảnh “Tây Ban Nha, hát
nghêu ngao” gợi:
+Tiếng hát vô tư, không mục
đích.
+Thực trạng bi đát: dân tộc Tây
Ban Nha và Lorca chưa có sự thấu

Tiếng ghita được hình dung bằng những hình
ảnh khác nhau, hãy lí giải ý nghĩa tượng trưng
của những hình ảnh đó?
+Tiếng ghita nâu (màu mắt nâu huyền của cô
gái ấy, màu đất, màu gỗ của cây đàn đặc
trưng).
+Tiếng ghita lá xanh: tuổi trẻ, tuổi xuân, niềm
tin và hi vọng của Lorca.
+Tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan: tượng trưng
cho cái chết bất ngờ, nhanh chóng, không thể
cứu vãn.
+Tiếng ghita ròng ròng máu chảy: cái chết
thảm khốc, bi thiết, ám ảnh người đọc
-Thanh Thảo gửi niềm xót thương vô hạn của
mình với Lorca vào hình ảnh những tiếng
ghita.
+Điệp từ “Tiếng ghita” như tấu lên một khúc
nhạc đau đớn, nhức nhối.
+Từ cảm thán “biết mấy”->gợi sự tiếc thương
vô hạn vì hành trình dở dang của những cách
tân nghệ thuật.
+ Đối lập: Tiếng hát yêu đời- Áo choàng bê
bết đỏ
Tình yêu, cái đẹp- Hành động tàn
ác, dã man
Đoạn thơ gợi cho em cảm xúc gì? Nghệ
thuật?
HS nêu cảm nhận
GV tổng hợp, hệ thống.
Liên hệ: Thanh Thảo: “Thi nhân cần phải

sĩ, là hình ảnh ẩn dụ về cuộc đời, cái
chết của Lorca.
Bằng những hình ảnh đậm màu sắc
tượng trưng, siêu thực, tác giả đã
làm phục sinh giây phút bi phẫn
trong cuộc đời của Lorca; thể hiện
nỗi đau xót trước cái chết của người
nghệ sĩ giàu khát vọng và cống
hiến.
2.4. Phần 3: Sự bất tử của Lorca
và nghệ thuật của Lorca.
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray

Trang21


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

GV định hướng phân tích
Hiểu như thế nào về hai câu thơ đầu của khổ
4?
Lời di chúc có ý nghĩa như thế nào?
Lorca cho rằng phải biết “chôn” nghệ thuật
của ông để nghệ thuật đó không trở thành vật
án ngữ, cản trở sự sáng tạo. Thực chất không
ai tài giỏi hơn Lorca để vượt qua Lorca.

- Theo em, qua hình ảnh so sánh này tác giả
muốn gửi tới người đọc thông điệp gì?

+Tiếng đàn: Biểu tượng cho nghệ
thuật , cho những khát vọng cách
tân của Lorca.
+Không ai chôn cất: Không ai hiểu
Lorca, không ai hiểu di chúc Lorca
nên không ai “chôn” nghệ thuật của
ông để đi tới.->Đạo đức của người
nghệ sĩ vĩ đại, luôn đặt lợi ích của
cộng đồng , của nghệ thuật lên trên
lợi ích và danh vọng cá nhân.
-Tiếng đàn như cỏ mọc hoang: so
sánh độc đáo (nghệ thuật thiếu vắng
nguời dẫn đường, nghệ thuật thành
thứ cỏ mọc hoang) ->Xót xa, tiếc
nuối cho khát vọng cách tân nghệ
thuật dang dở của Lorca và nền
nghệ thuật Tây Ban Nha.
=>Nước mắt người nghệ sĩ khóc
thương người nghệ sĩ, là nỗi đau
ngời sáng, lung linh.
b. Khổ 5:
-Đường chỉ tay đã đứt: (ẩn dụ): cái
chết , số phận nghiệt ngã đã báo
trước->định mệnh không thể thay
đổi. Lorca chấp nhận định mệnh
như một quy luật (mọi người chấp
nhận sự ra đi của Lorca).
-Dòng sông rộng vô cùng: đối lập
giữa cái vô hạn của dòng sông và
hữu hạn của đời người.

-Hình tượng Lorca hiện lên mạnh mẽ nhưng
cũng thật lẻ loi trên con đường gập ghềnh, xa
thẳm.
-Lời thơ di chúc của Lorca hàm ẩn tình yêu đất
nước, tình yêu nghệ thuật và khát vọng cách
tân mãnh liệt.
-Cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn và
nghệ thuật của Lorca.
=>Tình cảm yêu mến, trân trọng, ngưỡng mộ
và tri âm của Thanh Thảo dành cho Lorca.
* Nghệ thuật
Sử dụng thành công những thủ pháp tiêu biểu
của thơ tượng trưng , siêu thực. Ngôn ngữ thơ
hàm súc, giàu sức gợi.
4. Củng cố- dặn dò
- Nắm được vẻ đẹp hình tượng Lorca trong mạch cảm xúc và suy tư đa chiều; vẻ
đẹp hình thức biểu đạt mang phong cách hiện đại.
- Học thuộc lòng bài thơ
- Chuẩn bị bài đọc thêm “Tự do”.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI.
Sau đây là bảng thống kê kết quả học tập của những lớp tôi đã dạy từ năm trước tới
năm nay.
Bảng 1. Kết quả học tập của năm học 2010 – 2011
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Ghi chú


63.6 12
27.3 2
4.5
Tổng 174 2 3.5 45
25.9 90
51.7 30
17.2 5
2.9

Bảng 2. Kết quả học tập của năm học 2011 -2012
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang23


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Ghi chú
Ts % TS
%
TS
%
TS

3.1 31
19.3 91
56.5 32 19.9 2
1.2
Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả, chúng ta thấy số lượng học sinh giỏi tăng lên, học
sinh kém giảm đi rõ dệt. Đó mới chỉ là bước đầu của sự đổi mới phương pháp giảng
dạy. Tuy kết quả chưa cao nhưng cũng đánh dấu một sự thay đổi trong quá trình
giảng dạy, nhận thức và học tập của giáo viên cũng như của học sinh.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học văn hịên nay, việc vận dụng tri thức lí
luận văn vào dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nói chung và bộ phận văn học Việt Nam
sau năm 1975 ở nhà trường phổ thông hiện nay là một điều tất yếu. Bởi vì tri thức lí
luận thực sự cung cấp cho người dạy và người học một công cụ đắc lực và hữu hiệu
khi tiếp cận tác phẩm. Nó giúp cho việc đánh giá và phân tích tác phẩm tránh sự mơ
hồ cảm tính, thay vào đó, những nhận định về tác phẩm dựa trên cơ sở khoa học và
có tính lí luận hơn.
Với việc vận dụng tri thức về thể loại thơ hiện đại, truyện hiện đại, tri thức về
thể loại kí vào tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975 ở trường phổ
thông, chúng tôi tin rằng đã đáp ứng phần nào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
văn hiện nay. Góp phần năng cao trình độ thẩm mĩ và năng lực đọc sáng tạo ở HS.
Trong điều kiện thời gian, tài liệu và khả năng còn hạn chế, đề tài chỉ đi vào
việc vận dụng tri thức lí luận về thể loại văn học vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn
học Việt Nam sau năm 1975 ở trường THPT. Nếu có điều kiện quay trở lại đề tài,
chúng tôi mong muốn sẽ đi sâu hơn vào vấn đề vận dụng tri thức lí luận văn học vào
việc tiếp cận, phân tích tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại. Để làm được điều này,
đòi hỏi cái tâm và cả cái tài của người GV cũng như việc trang bị những kiến thức lí
luận vững chắc nhằm thực hiện vai trò định hướng quá trình cảm thụ ở HS
Lớp

Sĩ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status